19/05/2026 lúc 12:14 (GMT+7)
Breaking News

Tạo động lực cho hợp tác xã nông nghiệp: Nền tảng then chốt thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững

Trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững, hợp tác xã nông nghiệp ngày càng khẳng định vai trò là “mắt xích” quan trọng trong liên kết sản xuất và nâng cao giá trị nông sản.

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh gắn với phát triển bền vững, khu vực kinh tế tập thể ngày càng được xác định là một trong những nền tảng quan trọng của nền kinh tế. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã đóng vai trò tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô, bài bản, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, thúc đẩy phát triển nông thôn theo hướng hiện đại. Hợp tác xã nông nghiệp đang giữ vị trí nòng cốt trong việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, kết nối nông dân với doanh nghiệp và thị trường. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ. Nguồn vốn dành cho phát triển chuỗi liên kết được xem là “chìa khóa” để hợp tác xã và người nông dân chủ động chuyển đổi sang sản xuất chuyên sâu, bền vững, phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Hợp tác xã nông nghiệp – động lực liên kết chuỗi giá trị và phát triển nông nghiệp bền vững

Để khu vực hợp tác xã phát huy hết tiềm năng, việc tạo lập những động lực mới mang tính đột phá là yêu cầu cấp thiết. Quá trình tiếp cận nguồn vốn của hợp tác xã và người nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách. Điều này đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, qua đó mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế tập thể trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mạnh mẽ. Hợp tác xã ngày càng khẳng định vai trò trung tâm như một “mắt xích” kết nối hiệu quả giữa sản xuất và thị trường. Thông qua việc tổ chức các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, hợp tác xã không chỉ giúp nông dân từng bước chuyển đổi từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, mà còn tạo điều kiện nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Khi tham gia vào chuỗi liên kết, người nông dân không chỉ giảm chi phí đầu vào mà còn gia tăng thu nhập đáng kể, đồng thời giảm thiểu rủi ro trước những biến động của thị trường.

Điển hình, mô hình liên kết sản xuất lúa chất lượng cao tại hợp tác xã Thương mại Dịch vụ nông nghiệp Cây Trôm (Tây Ninh) đã mở ra hướng đi hiệu quả, giúp các thành viên tăng thu nhập từ 13–30% so với trước khi tham gia hợp tác xã. Minh chứng rõ nét cho hiệu quả của việc triển khai các chính sách khuyến khích liên kết sản xuất theo tinh thần Nghị định 98/2018/NĐ-CP, qua đó khẳng định vai trò dẫn dắt của hợp tác xã trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh những kết quả tích cực, khu vực hợp tác xã vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là trong tiếp cận nguồn vốn. Quy định về vốn đối ứng cao trong các dự án hỗ trợ, lên tới 70% đối với hợp tác xã, trong khi mức hỗ trợ từ ngân sách chỉ khoảng 30%, đã trở thành rào cản lớn. Thực tế này khiến nhiều hợp tác xã không đủ khả năng tham gia đầu tư hạ tầng, buộc phải loại bỏ các hạng mục quan trọng khỏi kế hoạch liên kết. Tương tự, tại hợp tác xã Nông nghiệp Rạch Lọp (Vĩnh Long), dù chính sách được đánh giá là thuận lợi về định hướng, song cơ chế hỗ trợ sau đầu tư và yêu cầu ứng vốn trước lại vượt quá năng lực tài chính của phần lớn đơn vị, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì và mở rộng chuỗi liên kết.

Không chỉ vướng mắc về vốn, các hợp tác xã còn gặp nhiều trở ngại khác liên quan đến điều kiện tiếp cận chính sách. Yêu cầu xây dựng phương án sản xuất chi tiết, hợp đồng liên kết chặt chẽ, quy mô sản xuất lớn hay cam kết bao tiêu dài hạn, dù cần thiết để bảo đảm hiệu quả đầu tư, lại trở thành thách thức đối với những hợp tác xã có quy mô nhỏ và năng lực quản trị còn hạn chế. Sự biến động của thị trường nông sản, chi phí cao cho chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và đóng gói, cùng với hệ thống hạ tầng sau thu hoạch và logistics chưa đồng bộ, tiếp tục làm suy giảm sức cạnh tranh của chuỗi liên kết. Thủ tục hành chính còn phức tạp cũng khiến hợp tác xã mất nhiều thời gian, nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Những hạn chế này cho thấy, dù hợp tác xã đã và đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, song để trở thành động lực thực sự cho tăng trưởng bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, cải thiện môi trường chính sách và nâng cao năng lực quản trị. Chỉ khi những rào cản này được giải quyết một cách căn cơ, khu vực kinh tế tập thể mới có thể phát huy hết tiềm năng, đóng góp hiệu quả hơn vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.

Yêu cầu đổi mới mô hình hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc nâng cao hiệu quả sản xuất, mà còn đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản về tư duy phát triển. Từ cách tiếp cận truyền thống thiên về sản xuất, hợp tác xã cần chuyển mạnh sang tư duy kinh tế nông nghiệp, trong đó thị trường, giá trị gia tăng và hiệu quả chuỗi được đặt ở vị trí trung tâm. Như nhận định của Tiến sĩ Trần Minh Hải, thực tiễn triển khai chính sách thời gian qua cho thấy việc hỗ trợ vẫn còn thiên về sản xuất, trong khi các yếu tố then chốt như thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, liên kết và tiếp cận nguồn vốn xanh chưa được chú trọng đúng mức. Gắn với sự chuyển đổi đó là việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, việc tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, cũng như giữa nông dân với hợp tác xã, trở thành điều kiện tiên quyết để hình thành các chuỗi giá trị bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập.

Từ góc độ chính sách, vai trò của Nhà nước tiếp tục giữ vị trí then chốt trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho kinh tế tập thể phát triển. Việc sửa đổi, bổ sung các cơ chế như Nghị định 98 đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu, nhằm khắc phục những bất cập hiện hữu và phù hợp hơn với giai đoạn phát triển mới. Theo Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn Lê Đức Thịnh, định hướng sửa đổi sẽ tập trung vào việc nâng cao chất lượng liên kết, tăng cường năng lực quản trị chuỗi giá trị, đồng thời thúc đẩy sản xuất xanh và chuyển đổi số trong toàn hệ thống. Bên cạnh đó, vấn đề nguồn lực, đặc biệt là vốn đầu tư, tiếp tục được xác định là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của hợp tác xã. Như Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh, để hình thành các chuỗi liên kết hiệu quả, cần quy hoạch rõ các sản phẩm chủ lực gắn với vùng nguyên liệu, từ đó tạo cơ sở thu hút doanh nghiệp và xây dựng các mối liên kết ổn định. Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng, việc đầu tư đồng bộ từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu không thể trì hoãn.

Xét trên bình diện rộng hơn, phát triển hợp tác xã không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững. Thông qua việc nâng cao thu nhập cho nông dân, tạo việc làm và ổn định xã hội, hợp tác xã trở thành lực lượng quan trọng trong công cuộc giảm nghèo và phát triển nông thôn. Việc thúc đẩy các mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn cũng góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới một nền nông nghiệp hài hòa giữa tăng trưởng và bền vững. Trong xu thế đó, phát triển hợp tác xã bền vững không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là con đường tất yếu để nông nghiệp Việt Nam thích ứng và vươn lên trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Hợp tác xã nông nghiệp đang và sẽ tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế nông thôn. Góp phần tổ chức lại sản xuất theo hướng hiệu quả, là cầu nối giữa nông dân với thị trường, qua đó nâng cao giá trị nông sản và cải thiện đời sống người dân khu vực nông thôn. Hiệu quả phát triển của khu vực này không đến từ một yếu tố đơn lẻ, mà phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, nguồn lực và chính quá trình đổi mới nội tại của từng hợp tác xã. Khi thể chế được hoàn thiện, nguồn lực được phân bổ hợp lý và các hợp tác xã chủ động nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng khoa học – công nghệ, thì sức bật của kinh tế tập thể mới có thể được phát huy một cách thực chất và bền vững./.

Lê Văn Chung