12/05/2026 lúc 15:01 (GMT+7)
Breaking News

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó quyền con người chiếm một vị trí trung tâm, xuyên suốt. Không chỉ kế thừa các giá trị nhân văn của dân tộc và tinh hoa nhân loại, Người còn nâng tầm quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc và tự do của mỗi cá nhân.

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người chính là tìm về cội nguồn sức mạnh và kim chỉ nam cho mọi chính sách của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời từ đó thấy được tầm vóc thời đại và ý nghĩa thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

Nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về quyền con người (QCN) là một hệ thống thống nhất, biện chứng, bao quát trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, QCN của mỗi cá nhân luôn gắn với độc lập dân tộc, với quyền dân tộc tự quyết, với tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; đồng thời, đề cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, hệ thống pháp luật và của đội ngũ cán bộ, công chức trong tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ QCN, đặc biệt là các nhóm yếu thế; thể hiện tính nhân đạo, khoan dung, bình đẳng, đoàn kết, hòa hiếu với các dân tộc/quốc gia trên thế giới...

Khác với cách tiếp cận QCN của các học giả phương Tây khi đề cao quyền tự nhiên, bẩm sinh, đôi khi tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân, tiếp cận QCN trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ xuất phát từ những giá trị phổ quát, mà còn từ truyền thống dân tộc, từ thực tiễn Việt Nam đang là nước thuộc địa và nửa phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền tự do cá nhân với độc lập dân tộc. Người hiểu rõ, một dân tộc bị nô lệ thì người dân ở đó không thể có tự do, không thể có QCN. Vì thế, khát vọng cháy bỏng, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh giành quyền tự do, dân chủ của nhân dân phải gắn liền với đấu tranh giành độc lập dân tộc; nói cách khác, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm QCN. Do vậy, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”; “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN là một hệ thống quan điểm toàn diện, nhân văn và mang tính thời đại sâu sắc. Điểm độc đáo nhất của Hồ Chí Minh là Người đã nâng tầm QCN từ quyền cá nhân thành quyền dân tộc. Trong Tuyên ngôn Độc lập (1945), Người đã khéo léo trích dẫn Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp để khẳng định: Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của cá nhân chỉ có thể thực hiện được khi dân tộc đó có Độc lập - Tự do. Hồ Chí Minh cũng khẳng định quyền con người không phải là sự "ban ơn", mà là những quyền tự nhiên vốn có của mỗi cá nhân: Mọi người sinh ra đều bình đẳng; Quyền sống là quyền cơ bản nhất, sau đó là quyền được hưởng tự do và phát triển toàn diện.

Nét đặc sắc trong cách tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QCN được thể hiện rõ ngay trong bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ (năm 1945), khi dẫn quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh hạnh phúc được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Từ chỗ là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, Người nâng lên thành quyền đương nhiên của mọi quốc gia - dân tộc, bằng cách suy rộng ra: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và QCN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; muốn có QCN thì phải giành độc lập dân tộc, nhưng khi giành được độc lập, các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho tất cả người dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người nhấn mạnh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Như vậy, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện để đạt được mục tiêu cuối cùng là tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà. Đó là đóng góp lớn đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giá trị phổ quát về QCN và bảo đảm QCN.

Ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng kế hoạch và triển khai hàng loạt nhiệm vụ, như tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc, thành lập Chính phủ và ban hành Hiến pháp để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành Hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”.

Bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng ban soạn thảo, được tiến hành công phu trong suốt 15 tháng, bởi những nhà cách mạng và nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, lại được Quốc hội (gồm nhiều đảng phái), thảo luận kỹ nhiều ngày và được thông qua với đa số tán thành, không chỉ thể hiện trí tuệ tập thể, mà còn là sự đồng tâm, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân trong xây dựng một xã hội mới ở Việt Nam. Hiến pháp năm 1946 đã kế thừa được những tinh hoa của nhân loại, đặc biệt là nhiều tư tưởng lập hiến tiến bộ của các nước phương Tây; nhờ đó, nhiều quy định của văn bản này đến nay vẫn hết sức hiện đại và có giá trị lâu bền.

Trong các QCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao nội dung bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trong Bản Yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919, Người yêu cầu: “1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; 2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận; 4. Tự do lập hội và tự do hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; 6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; 8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cải cách nền pháp lý...; thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” với hàm ý, pháp luật cần phải thể hiện ý chí, trí tuệ của đa số, tức là phải được ban hành bằng một cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân. Điều đó phản ảnh tính dân chủ trong xây dựng pháp luật - ý chí của số đông, chứ không phải ý chí chủ quan của một cá nhân.

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đề cao QCN, quyền tự do dân chủ của nhân dân, Hiến pháp năm 1946 được xây dựng trên cơ sở ba trụ cột là: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái - trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do, dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Bởi vì, nếu không đoàn kết toàn dân (tức không huy động được sự tham gia của người dân - một trong những QCN, quyền tham gia công việc nhà nước và xã hội) thì sẽ không tạo được sức mạnh của cả dân tộc. Nếu không bảo đảm được các quyền tự do dân chủ (một nội dung cơ bản của QCN) thì sẽ không mang lại sự tiến bộ và còn là nguồn gốc của chia rẽ, độc đoán, chuyên quyền. Nếu không có một chính quyền đủ mạnh và công tâm thì sẽ không thể quản trị được quốc gia, không đủ sức đương đầu với các thế lực luôn rắp tâm nô dịch dân tộc, không thể đưa đất nước phát triển vững bước trên con đường tiến bộ, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nghĩa vụ, trách nhiệm của Chính phủ trong quan hệ đối với người dân: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc... Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”; “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân”. Theo Người, bản chất của chế độ dân chủ là: Nhân dân là “chủ”, còn Chính phủ là “đày tớ” của nhân dân. Nhân dân có quyền “đuổi chính phủ” là một quyền chính trị rất đặc biệt, vừa là QCN, vừa là quyền dân chủ/làm chủ của người dân. Luận điểm này cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng về một chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đang được khởi xướng, xây dựng ở Việt Nam.

Hành trình từ "quyền của dân tộc" đến "quyền của con người" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng cho một tầm nhìn vượt thời đại. Ngày nay, khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một đất nước "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", những lời dạy của Người về quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn nguyên giá trị. Trách nhiệm của chúng ta là không ngừng học tập, rèn luyện và hành động để mỗi cá nhân đều được hưởng trọn vẹn những quyền cơ bản mà Người đã trọn đời vun đắp./.

Lê Hoài Thanh