Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng quyết sách đúng, mà còn phải tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả và đến cùng. Năng lực thực thi vì thế trở thành một bộ phận trực tiếp của năng lực quản trị quốc gia, quyết định khả năng chuyển hóa chủ trương, thể chế và nguồn lực thành những kết quả thiết thực. Đổi mới phương thức điều hành, xác lập rõ trách nhiệm, quản trị dựa trên dữ liệu và nâng cao khả năng thích ứng là điều kiện để mỗi quyết sách thực sự phục vụ phát triển đất nước và nâng cao đời sống Nhân dân.
Từ phương pháp phân tích thể chế, kết hợp tiếp cận chu trình chính sách, quản trị theo kết quả và quản trị thích ứng, có thể xem năng lực thực thi như mối liên kết giữa quyết sách và kết quả phát triển. Mối liên kết ấy được hình thành qua một quá trình thống nhất: nhận diện đúng vấn đề, thiết kế chính sách có khả năng thực hiện, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực, tổ chức phối hợp, đo lường kết quả, tiếp nhận phản hồi và kịp thời điều chỉnh. Thiếu một trong những mắt xích đó, tác động của chính sách có thể chưa đạt như kỳ vọng.
I. TỪ QUYẾT SÁCH ĐÚNG ĐẾN KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN
Trong tiến trình phát triển đất nước, đường lối, chủ trương đúng đắn giữ vai trò định hướng, tạo cơ sở chính trị và pháp lý để huy động, phân bổ các nguồn lực. Tuy nhiên, giá trị của quyết sách chỉ được thể hiện đầy đủ khi những mục tiêu đề ra được chuyển thành hành động và kết quả cụ thể. Một chính sách phù hợp nhưng triển khai chậm, thiếu đồng bộ hoặc không được bảo đảm điều kiện thực hiện có thể làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời kéo dài khoảng cách giữa chủ trương với đời sống.

Kiến tạo nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm
Yêu cầu này càng trở nên rõ nét khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển với quy mô nền kinh tế lớn hơn, các quan hệ kinh tế – xã hội phức tạp hơn và yêu cầu phối hợp giữa các ngành, các cấp ngày càng cao. Những động lực dựa nhiều vào mở rộng vốn, lao động và khai thác lợi thế chi phí đang dần bộc lộ giới hạn. Tăng trưởng trong thời gian tới phải dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học – công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp và hiệu quả quản trị. Điều đó đòi hỏi bộ máy nhà nước vừa duy trì kỷ luật, trật tự, vừa phải chủ động kiến tạo điều kiện cho những năng lực phát triển mới hình thành.
Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước. Quan điểm này đặt xây dựng chính sách và tổ chức thi hành trong một chỉnh thể thống nhất. Khi pháp luật chưa được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán và kịp thời, mục tiêu điều chỉnh của pháp luật cũng chưa thể chuyển hóa đầy đủ thành kết quả trong thực tế.
Năng lực thực thi, từ góc độ đó, không phải năng lực riêng của một cơ quan hành chính hay của đội ngũ trực tiếp xử lý công việc. Đây là khả năng của cả hệ thống trong việc cụ thể hóa mục tiêu chiến lược, huy động con người và nguồn lực, tổ chức phối hợp, xử lý những vấn đề phát sinh và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Năng lực ấy được tạo nên từ chất lượng thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, dữ liệu, phương thức điều hành và mức độ tham gia của xã hội.
Các nghiên cứu về năng lực thể chế cũng cho thấy một chính sách có thể gặp khó khăn trong thực hiện ngay cả khi đội ngũ có kiến thức chuyên môn, nếu thiếu nguồn lực, công cụ quản lý, động lực hành động hoặc cơ chế trách nhiệm phù hợp. Nghiên cứu về năng lực thể chế trong thực thi chính sách vì vậy đặt năng lực nhà nước trong quan hệ giữa chất lượng con người với cách hệ thống được tổ chức. Điểm nghẽn thực thi không nên chỉ được quy về phẩm chất hoặc năng lực của một cá nhân, mà cần được xem xét từ việc thẩm quyền đã rõ chưa, nguồn lực có tương xứng không và các cơ quan có cùng hướng tới một kết quả chung hay không.
Trong Khung chỉ số quản trị toàn cầu, hiệu quả chính phủ được xem xét thông qua chất lượng dịch vụ công, đội ngũ công vụ, năng lực xây dựng và thực hiện chính sách cùng độ tin cậy của các quyết định. Phương pháp luận về các chỉ số quản trị toàn cầu gợi mở rằng quản trị hiệu quả phải được kiểm chứng bằng khả năng cung cấp dịch vụ và thực hiện cam kết, thay vì chỉ dựa trên mức độ đầy đủ của quy định.
Từ đây cần làm rõ quan hệ giữa quản lý và quản trị phát triển. Quản lý nhà nước bảo đảm pháp luật được tuân thủ, trật tự được duy trì và các hoạt động xã hội diễn ra ổn định. Quản trị phát triển kế thừa nền tảng đó nhưng đặt thêm yêu cầu chủ động nhận diện điểm nghẽn, mở rộng cơ hội và tạo môi trường để con người, doanh nghiệp phát huy năng lực. Nhà nước kiến tạo không lựa chọn thay thị trường hoặc làm thay xã hội; vai trò quan trọng là thiết lập thể chế minh bạch, phân bổ nguồn lực hợp lý và bảo đảm các chủ thể có điều kiện hành động trong khuôn khổ pháp luật.
Khi mục tiêu quản trị thay đổi, thước đo kết quả cũng cần được điều chỉnh. Văn bản được ban hành, nhiệm vụ được giao hoặc kinh phí được giải ngân mới phản ánh hoạt động của bộ máy. Kết quả phát triển phải được nhìn qua những thay đổi mà hoạt động ấy tạo ra. Với cải cách thủ tục hành chính, đó là thời gian, chi phí và mức độ bất định được giảm đối với người dân, doanh nghiệp. Với đầu tư công, đó là năng lực kết nối, sản xuất và cung cấp dịch vụ được hình thành. Với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đó là khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường.
Sự phân biệt giữa hoạt động, kết quả và năng lực có ý nghĩa đặc biệt. Một chương trình có thể hoàn thành đầy đủ các hoạt động theo kế hoạch nhưng chưa chắc tạo ra kết quả mong muốn. Một chính sách có thể giải quyết được vấn đề trước mắt nhưng chưa tạo thêm khả năng cho hệ thống xử lý những nhiệm vụ tương tự trong tương lai. Quản trị hướng tới phát triển cần đi thêm một bước: sau mỗi quyết sách, con người có năng lực hơn không, doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn không và bộ máy có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn không.
Uy tín của quyết sách vì thế được tạo nên từ cả tính đúng đắn của chủ trương và năng lực tổ chức thực hiện. Khi người dân có thể nhận biết những chuyển biến trong chất lượng dịch vụ, cơ hội phát triển và đời sống, chủ trương mới thực sự được chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo.
II. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thực thi không phải công việc bắt đầu sau khi chính sách được ban hành. Một quyết sách có chất lượng cần được thiết kế cùng phương án tổ chức thực hiện, trong đó xác định được mục tiêu, chủ thể chịu trách nhiệm, thẩm quyền sử dụng, nguồn lực bảo đảm, thời gian hoàn thành và cách thức đo lường kết quả. Tính khả thi vì vậy phải trở thành một tiêu chuẩn của quá trình hoạch định, không phải điều kiện được bổ sung khi văn bản đã đi vào cuộc sống.
Trong thực tiễn, một số khó khăn khi triển khai có thể bắt nguồn từ chính khâu thiết kế. Mục tiêu được xác định rộng nhưng công cụ thực hiện chưa tương xứng; nhiệm vụ được giao nhưng thẩm quyền chưa rõ; chính sách áp dụng thống nhất trong khi điều kiện giữa các địa phương khác nhau; nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng thiếu đầu mối chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Khi đó, cấp thực thi vừa phải tổ chức công việc, vừa xử lý những khoảng trống có thể đã được nhận diện sớm hơn.
Khắc phục tình trạng này đòi hỏi quá trình xây dựng chính sách gắn chặt hơn với thực tiễn. Ý kiến của chính quyền địa phương, đội ngũ trực tiếp thực hiện, người dân và doanh nghiệp cần được xem là nguồn thông tin của hoạch định chính sách. Các chủ thể ở cơ sở có thể giúp nhận diện chi phí tuân thủ, khả năng đáp ứng về nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và những tình huống phát sinh trong quá trình áp dụng. Tham vấn thực chất không làm giảm vai trò quyết định của cơ quan có thẩm quyền, mà giúp quyết định có thêm căn cứ và gần hơn với điều kiện thi hành.
Sau khi ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW, Chương trình hành động của Chính phủ đã cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu thành nhiệm vụ và trách nhiệm thực hiện. Cách chuyển hóa từ định hướng chính trị sang chương trình hành động cho thấy một quyết sách cần được tiếp tục “thiết kế” ở cấp thực thi, để mỗi mục tiêu có chủ thể phụ trách, lộ trình và điều kiện bảo đảm tương ứng.
Trọng tâm tiếp theo là xử lý đúng mối quan hệ giữa phân cấp, phân quyền và trách nhiệm. Phân cấp không chỉ là chuyển một nhiệm vụ từ cấp trên xuống cấp dưới. Việc chuyển giao nhiệm vụ phải đi cùng thẩm quyền quyết định, nguồn lực, thông tin và năng lực tổ chức thực hiện. Nếu địa phương phải chịu trách nhiệm về kết quả nhưng chưa có đủ công cụ, hiệu quả phân cấp sẽ bị hạn chế. Ngược lại, trao quyền mà thiếu tiêu chuẩn, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm giải trình có thể ảnh hưởng đến tính thống nhất của chính sách.
Cách tiếp cận phù hợp là Trung ương tập trung xác lập định hướng, tiêu chuẩn, những nguyên tắc chung và cơ chế giám sát; địa phương được chủ động lựa chọn biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả. Sự thống nhất khi đó không đồng nghĩa với mọi địa phương phải thực hiện theo một phương thức giống nhau, mà nằm ở mục tiêu chung, chuẩn mực chung và kỷ luật thực thi thống nhất.
Trong bối cảnh nhiều vấn đề phát triển mang tính liên ngành, phối hợp phải trở thành một năng lực thực chất của bộ máy. Nâng cao năng suất, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hay xây dựng kết cấu hạ tầng đều liên quan đến nhiều cơ quan và cấp chính quyền. Nếu mỗi đơn vị chỉ tập trung hoàn thành phần việc của mình, mục tiêu chung có thể vẫn chưa đạt dù từng báo cáo riêng lẻ đều thể hiện nhiệm vụ đã hoàn thành.
Có thể tham chiếu mô hình quản trị toàn chính phủ, trong đó các cơ quan cùng hướng tới một kết quả chung nhưng trách nhiệm của từng chủ thể được phân định rõ. Khung quản trị công hiệu quả của OECD nhấn mạnh vai trò của cam kết và tầm nhìn, hoạch định dựa trên bằng chứng, phối hợp toàn chính phủ, quản trị thay đổi và đổi mới. Khung quản trị công hiệu quả cho thấy phối hợp không đơn thuần là trao đổi thông tin, mà là tổ chức các nguồn lực và thẩm quyền khác nhau cùng giải quyết một vấn đề phát triển.
Chẳng hạn, nâng cao năng lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể chỉ dựa vào một chương trình hỗ trợ kinh phí. Kết quả còn phụ thuộc vào tín dụng, chất lượng nhân lực, công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu và khả năng tiếp cận thị trường. Muốn chính sách tạo ra tác động, cần có đầu mối theo dõi kết quả chung, trong khi từng cơ quan chịu trách nhiệm đối với phần việc thuộc chức năng của mình. Khi đó, phối hợp được đo bằng khả năng giải quyết những điểm giao nhau giữa các lĩnh vực, không phải bằng số lượng cuộc họp hay văn bản trao đổi.
Cùng với phối hợp, cần chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả. Theo mô hình quản trị kết quả, có thể phân biệt nguồn lực, sản phẩm trực tiếp, kết quả và tác động. Kinh phí được bố trí là đầu vào; chương trình đào tạo được tổ chức là sản phẩm; kỹ năng được sử dụng trong công việc là kết quả; năng suất, thu nhập hoặc chất lượng việc làm được cải thiện là tác động. Cách phân biệt này giúp hạn chế việc đồng nhất số lượng hoạt động với hiệu quả chính sách.
Thay đổi thước đo sẽ tạo ra thay đổi trong cách điều hành. Nếu chỉ tiêu tập trung vào số văn bản, hồ sơ, cuộc kiểm tra hoặc tỷ lệ giải ngân, hệ thống có xu hướng ưu tiên hoàn thành quy trình. Khi thước đo chuyển sang chất lượng dịch vụ, hiệu quả sử dụng nguồn lực và kết quả đối với người dân, doanh nghiệp, trách nhiệm của cơ quan thực thi sẽ gắn chặt hơn với mục tiêu phát triển.
Tuy nhiên, quản trị theo kết quả không có nghĩa xem nhẹ quy trình. Quy trình hợp pháp, minh bạch là nền tảng bảo đảm kỷ luật và kiểm soát quyền lực. Vấn đề là quy trình phải phục vụ mục tiêu chính sách, thay vì trở thành đích đến tự thân. Một nhiệm vụ chỉ được xem là hoàn thành đầy đủ khi vừa tuân thủ pháp luật, vừa tạo ra kết quả theo mục tiêu đã xác định.
Dữ liệu là điều kiện để nhận biết quá trình đó. Báo cáo cần giúp cơ quan quản lý xác định tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và phân tích nguyên nhân, thay vì chủ yếu chứng minh nhiệm vụ đã được triển khai. Dữ liệu giữa các cấp, ngành phải có khả năng kết nối, đối chiếu; chỉ số được lựa chọn phải phản ánh đúng vấn đề cần giải quyết. Số liệu định lượng đồng thời cần được đặt cạnh phản hồi từ thực tiễn để tránh tình trạng chỉ tiêu đạt nhưng chất lượng phục vụ chưa được cải thiện tương ứng.
Đổi mới phương thức thực thi còn phụ thuộc vào tinh thần chủ động và trách nhiệm của đội ngũ. Một hệ thống quá nhấn mạnh phòng ngừa rủi ro cá nhân có thể dẫn tới tâm lý lựa chọn phương án an toàn về thủ tục nhưng chưa chắc tối ưu đối với lợi ích chung. Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm không đồng nghĩa với nới lỏng kỷ luật. Quyền chủ động phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, mục tiêu rõ ràng, động cơ trong sáng và cơ chế giải trình minh bạch.
Bởi vậy, cần phân biệt giữa hành vi vụ lợi, cố ý vi phạm, thiếu trách nhiệm với những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình tìm kiếm giải pháp mới vì lợi ích chung. Khi ranh giới được xác định rõ, cán bộ có cơ sở để chủ động hành động, còn cơ quan quản lý vẫn duy trì được kỷ luật và khả năng kiểm soát.
Người dân và doanh nghiệp cũng cần được nhìn nhận như chủ thể đánh giá kết quả thực thi. Chính sách cuối cùng phải được kiểm chứng ở nơi nó tác động đến đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị không chỉ là hoạt động phục vụ, mà còn là kênh giúp Nhà nước nhận diện những quy định chưa phù hợp, chi phí phát sinh hoặc khoảng cách giữa mục tiêu với kết quả.
Đổi mới tổ chức thực hiện, xét đến cùng, là chuyển từ giao nhiệm vụ sang xác lập trách nhiệm; từ phối hợp theo thủ tục sang phối hợp vì kết quả; từ báo cáo công việc sang giải trình về những thay đổi thực tế. Khi mỗi mắt xích hiểu rõ phần việc của mình và cùng hướng tới mục tiêu chung, năng lực của từng cơ quan mới được kết nối thành năng lực thực thi của toàn hệ thống.
III. XÂY DỰNG NỀN QUẢN TRỊ CHỦ ĐỘNG, TỰ ĐIỀU CHỈNH VÀ THÍCH ỨNG
Quản trị theo kết quả sẽ chưa đầy đủ nếu hệ thống chỉ có khả năng đo lường nhưng không thể điều chỉnh. Trong môi trường phát triển biến động nhanh, nhiều giả định của chính sách có thể thay đổi do tiến bộ công nghệ, chuyển dịch chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, thay đổi thị trường lao động hoặc những cú sốc từ bên ngoài. Vì vậy, năng lực nhận diện sớm vấn đề, học hỏi từ thực tiễn và điều chỉnh kịp thời phải trở thành một bộ phận của năng lực quản trị quốc gia.
Điều kiện trước hết là thông tin phải phản ánh trung thực thực tế. Không thể có quyết sách phù hợp nếu vấn đề được nhận diện chưa đúng, dữ liệu đầu vào thiếu chính xác hoặc kết quả thực hiện không được phản ánh đầy đủ. Thông tin về hạn chế, độ trễ và tác động ngoài dự kiến cần được xem là dữ liệu phục vụ điều hành, thay vì chỉ là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành của một cơ quan.
Nhìn thẳng vào những điểm chưa đạt không làm giảm giá trị của thành tựu hay niềm tin vào triển vọng phát triển. Ngược lại, khả năng phát hiện đúng hạn chế và điều chỉnh kịp thời thể hiện mức độ trưởng thành của hệ thống quản trị. Vấn đề quan trọng là phân biệt giữa sai phạm, thiếu trách nhiệm với những vướng mắc khách quan hoặc giả định chính sách không còn phù hợp trước sự thay đổi của thực tế.
Từ đó cần hình thành một vòng phản hồi chính sách liên tục. Kết quả được theo dõi; nguyên nhân được phân tích; công cụ, quy trình hoặc nguồn lực được điều chỉnh; tác động của việc điều chỉnh tiếp tục được kiểm chứng. Đánh giá sau ban hành vì thế không phải hoạt động tổng kết mang tính thủ tục. Kết quả đánh giá phải có khả năng dẫn đến việc tiếp tục, sửa đổi hoặc chấm dứt những biện pháp không còn tạo ra hiệu quả tương xứng.
Một nền quản trị có khả năng tự điều chỉnh cũng cần tạo môi trường để thông tin từ cơ sở được chuyển đến đúng cấp có thẩm quyền. Khó khăn được phản ánh kịp thời không nhất thiết là biểu hiện của yếu kém; trong nhiều trường hợp, đó là cơ sở để bổ sung nguồn lực, điều chỉnh quy trình hoặc làm rõ trách nhiệm. Nếu thông tin bất lợi bị trì hoãn hoặc làm nhẹ đi, quyết định điều hành có thể dựa trên một bức tranh chưa đầy đủ.
Trước những biến động dài hạn, có thể tham chiếu mô hình quản trị thích ứng và dự báo. Cách tiếp cận này không cố gắng dự đoán chính xác một tương lai duy nhất, mà xây dựng nhiều kịch bản, theo dõi tín hiệu cảnh báo sớm, tổ chức thử nghiệm có kiểm soát và rà soát chính sách định kỳ. Khung quản trị dự báo đối với những vấn đề mới nhấn mạnh yêu cầu phối hợp toàn chính phủ, huy động tri thức từ nhiều chủ thể và chuẩn bị trước năng lực ứng phó.
Khả năng điều chỉnh không đồng nghĩa với thay đổi chính sách thiếu ổn định. Môi trường phát triển cần cả tính nhất quán và sự linh hoạt. Những nguyên tắc nền tảng, quyền và lợi ích hợp pháp phải được bảo đảm; trong khi công cụ, lộ trình và phương pháp thực hiện có thể được điều chỉnh khi điều kiện thay đổi. Những điều chỉnh có ảnh hưởng lớn cần đúng thẩm quyền, có căn cứ, lộ trình và thông tin đầy đủ để người dân, doanh nghiệp chủ động chuẩn bị.
Năng lực thích ứng của quốc gia không được hình thành vào thời điểm khủng hoảng, mà được tích lũy từ thời kỳ ổn định. Nguồn nhân lực có khả năng học tập suốt đời giúp nền kinh tế thích nghi nhanh hơn với công nghệ mới. Doanh nghiệp có năng lực đổi mới và đa dạng hóa thị trường có thể phản ứng tốt hơn trước biến động. Hạ tầng đồng bộ giúp giảm chi phí điều chỉnh khi dòng thương mại thay đổi. Nền tài chính công lành mạnh tạo dư địa xử lý những cú sốc lớn. Thể chế minh bạch, bao trùm giúp huy động nguồn lực xã hội nhanh chóng và có trật tự.
Vì vậy, mỗi quyết sách cần được đánh giá thêm bằng năng lực mà nó để lại cho tương lai. Đầu tư không chỉ tạo ra công trình, mà phải nâng khả năng kết nối và sản xuất. Giáo dục không chỉ hoàn thành một khóa học, mà phải hình thành năng lực tư duy, sáng tạo và thích ứng. Cải cách thể chế không chỉ xử lý một thủ tục, mà cần giúp nền kinh tế vận hành minh bạch, hiệu quả và có khả năng dự báo cao hơn.
Khi nguồn lực được chuyển hóa thành năng lực mới, năng suất có điều kiện được nâng lên; tăng trưởng tạo thêm nguồn lực để tiếp tục đầu tư cho con người, doanh nghiệp và thể chế. Quá trình này hình thành một vòng tuần hoàn tích cực: năng lực tạo ra tăng trưởng có chất lượng; tăng trưởng cung cấp nguồn lực; nguồn lực được sử dụng hiệu quả lại tiếp tục mở rộng năng lực phát triển.
Một nền quản trị có năng lực do đó không chỉ thực hiện tốt quyết sách hiện tại, mà còn biết chuyển kết quả, dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn thành khả năng giải quyết tốt hơn những nhiệm vụ tiếp theo. Đó là cơ sở để đất nước nâng cao sức chống chịu, phát huy nội lực và chủ động hơn trước những thay đổi của tương lai.
IV. KẾT LUẬN
Nâng cao năng lực quản trị và thực thi là yêu cầu trực tiếp của quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quyết sách đúng chỉ thực sự phát huy giá trị khi được tổ chức thực hiện bằng trách nhiệm rõ ràng, nguồn lực phù hợp, phối hợp đồng bộ và hệ thống đánh giá dựa trên kết quả thực chất.
Khi bộ máy chuyển từ chú trọng hoàn thành công việc sang tạo ra kết quả, từ phối hợp hành chính sang trách nhiệm chung và từ phản ứng trước vấn đề sang chủ động chuẩn bị năng lực, thực thi sẽ trở thành một bộ phận của năng lực phát triển. Dữ liệu trung thực và phản hồi từ thực tiễn giúp hệ thống kịp thời điều chỉnh; phân cấp gắn với trách nhiệm tạo thêm không gian chủ động; quản trị thích ứng giúp đất nước chuẩn bị tốt hơn trước những biến động mới.
Đích đến của đổi mới quản trị không nằm ở bản thân bộ máy, mà ở chất lượng phát triển và đời sống Nhân dân. Mỗi quyết sách cần được chuyển thành những thay đổi có thật; mỗi nguồn lực cần tạo thêm năng suất và năng lực mới; mỗi thành quả hôm nay cần trở thành nền tảng cho bước phát triển cao hơn. Khi đó, năng lực thực thi không chỉ đưa chủ trương vào cuộc sống, mà còn góp phần chuyển hóa khát vọng phát triển thành sức mạnh nội sinh và động lực phát triển bền vững của đất nước./.
ThS. Nguyễn Bá Long



