Năng suất lao động từ lâu đã được xem là một trong những thước đo quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Một nền kinh tế có thể tăng quy mô sản xuất, mở rộng vốn đầu tư và gia tăng số lượng việc làm, nhưng nếu năng suất không được cải thiện tương xứng thì dư địa tăng trưởng dài hạn sẽ ngày càng thu hẹp.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập ngày càng sâu rộng, bài toán năng suất vì thế không thể tiếp tục được nhìn nhận theo cách truyền thống. Năng suất phải trở thành kết quả tổng hợp của chất lượng thể chế, công nghệ, vốn, kỹ năng lao động, năng lực quản trị doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Đây chính là ý nghĩa đáng chú ý của Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1685/QĐ-TTg ngày 30/8/2026. Kế hoạch không chỉ xác định các nhiệm vụ nâng năng suất lao động mà còn đặt chúng trong mối quan hệ hữu cơ với việc phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt và hiệu quả.
Năng suất phải trở thành động lực bên trong của tăng trưởng
Theo số liệu của cơ quan thống kê, năm 2025 năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương khoảng 9.809 USD/lao động; tính theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83% so với năm 2024. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 29,2%.
Những con số này cho thấy năng suất lao động đã có bước cải thiện, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa chất lượng tăng trưởng. Bởi năng suất không chỉ được tạo ra bởi một yếu tố riêng lẻ. Một lao động được đào tạo tốt nhưng làm việc trong một doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu, quy trình quản trị kém hiệu quả thì năng suất vẫn thấp. Ngược lại, công nghệ hiện đại nhưng thiếu nhân lực có khả năng vận hành, quản trị và đổi mới thì khoản đầu tư công nghệ cũng khó chuyển hóa thành năng suất thực tế.
Do đó, cách tiếp cận mới cần chuyển từ tư duy “tăng năng suất của người lao động” sang “tạo ra hệ sinh thái nâng năng suất”. Trong hệ sinh thái đó, người lao động có kỹ năng; doanh nghiệp có công nghệ và quản trị hiện đại; cơ sở đào tạo bám sát nhu cầu thị trường; Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng; còn thị trường lao động đóng vai trò phân bổ nhân lực đến những nơi tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Đây cũng là điểm cốt lõi trong Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW khi xác định 8 nhóm nhiệm vụ, từ hoàn thiện thể chế, tạo việc làm có năng suất cao, nâng chất lượng lao động, thúc đẩy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, việc làm bền vững và thị trường lao động hiện đại.
Từ “có việc làm” sang “có việc làm năng suất cao”
Một thay đổi quan trọng về tư duy chính sách là không chỉ quan tâm đến số lượng việc làm được tạo ra mà phải quan tâm đến chất lượng và năng suất của việc làm.
Trong nền kinh tế đang chuyển dịch, nếu nguồn nhân lực tiếp tục tập trung quá lớn vào các khu vực có giá trị gia tăng thấp, việc tăng số lượng việc làm chưa chắc tạo ra bước tiến tương ứng về thu nhập và năng lực cạnh tranh.
Kế hoạch của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao; đồng thời gắn quy hoạch phát triển với phân bố dân cư, nguồn nhân lực, các hành lang kinh tế, vùng động lực và cực tăng trưởng. Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa dài hạn, bởi thị trường lao động không thể phát triển tách rời không gian phát triển kinh tế.
Một khu công nghiệp công nghệ cao, một trung tâm đổi mới sáng tạo hay một vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nguồn nhân lực phù hợp. Ngược lại, nếu nơi tập trung việc làm năng suất cao lại thiếu lao động có kỹ năng thì doanh nghiệp phải tự đào tạo, tuyển dụng từ địa phương khác hoặc thậm chí từ nước ngoài, làm tăng chi phí và hạn chế khả năng mở rộng.
Vì vậy, quy hoạch nguồn nhân lực cần được xem là một bộ phận của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chứ không phải một lĩnh vực độc lập.
Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế hiện nay. Khi công nghệ, logistics, công nghiệp chế biến, công nghiệp bán dẫn, kinh tế số, năng lượng mới và các ngành dịch vụ giá trị cao phát triển, dòng dịch chuyển lao động cũng phải thay đổi tương ứng.
Doanh nghiệp phải trở thành “trung tâm nâng năng suất”
Nếu Nhà nước tạo dựng môi trường và thể chế, cơ sở đào tạo cung cấp nhân lực thì doanh nghiệp chính là nơi năng suất được tạo ra và đo lường trực tiếp.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Kế hoạch là rà soát, đánh giá vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao năng suất lao động; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm có năng suất cao.
Đây là hướng đi cần thiết bởi năng suất của nền kinh tế xét đến cùng được hình thành từ năng suất của các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động.
Thực tiễn cho thấy cùng một lực lượng lao động, nhưng doanh nghiệp có công nghệ, quản trị và tổ chức sản xuất tốt thường tạo ra giá trị cao hơn nhiều so với doanh nghiệp sử dụng phương thức sản xuất thủ công, quản trị manh mún.
Do đó, chính sách hỗ trợ nâng năng suất không nên chỉ dừng ở hỗ trợ đào tạo người lao động. Cần tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư máy móc, tự động hóa, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, quản trị chất lượng, quản trị chuỗi cung ứng và đổi mới quy trình.
Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, rào cản lớn thường không chỉ nằm ở thiếu vốn mà còn ở khả năng tiếp cận công nghệ, thiếu chuyên gia và hạn chế về năng lực quản trị. Đây là khoảng trống chính sách cần được quan tâm nếu muốn biến năng suất thành động lực tăng trưởng trên diện rộng.
Liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước: “mắt xích” cần được kích hoạt
Một nền kinh tế hội nhập sâu không thể chỉ thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà còn phải biến sự hiện diện của doanh nghiệp FDI thành nguồn lực thúc đẩy năng lực nội sinh.
Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu, tổ chức các hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tri thức, nâng cao năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế và tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Nếu thực hiện tốt, đây sẽ là một trong những giải pháp có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn nhất đối với năng suất.
Bởi lợi ích của FDI không chỉ nằm ở lượng vốn đầu tư hay kim ngạch xuất khẩu. Giá trị chiến lược còn nằm ở công nghệ, phương thức quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, mạng lưới cung ứng và kỹ năng lao động mà khu vực này có thể truyền dẫn sang nền kinh tế trong nước.
Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được cơ chế để doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng cấp cao, họ buộc phải nâng tiêu chuẩn quản trị, chất lượng, công nghệ và nhân lực. Quá trình đó tự thân tạo ra tăng năng suất.
Cải cách đào tạo: từ bằng cấp sang năng lực thực hành
Một trong những điểm có ý nghĩa lâu dài của Kế hoạch là yêu cầu chuyển mạnh từ coi trọng bằng cấp sang coi trọng kỹ năng nghề, năng lực thực hành, khả năng thích ứng và hiệu quả công việc.
Đây là sự thay đổi quan trọng đối với cả hệ thống giáo dục và thị trường lao động. Trong nền kinh tế công nghệ, kiến thức có thể nhanh chóng lỗi thời. Một kỹ năng được đào tạo hôm nay có thể không còn phù hợp sau vài năm khi công nghệ và phương thức sản xuất thay đổi. Vì thế, năng lực học tập suốt đời, khả năng đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Kế hoạch đặt ra yêu cầu đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, gắn với nhu cầu thực tế của thị trường; phát triển đào tạo kép, đào tạo theo đơn đặt hàng, đào tạo gắn với vị trí việc làm; tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chương trình, đào tạo, đánh giá và sử dụng nhân lực.
Điều đó gợi mở một mô hình quan hệ mới giữa nhà trường và doanh nghiệp: doanh nghiệp không chỉ là “nơi tuyển dụng” sau khi sinh viên tốt nghiệp mà phải tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu kỹ năng.
Khi chương trình đào tạo được thiết kế từ nhu cầu thực tế của dây chuyền sản xuất, phòng thí nghiệm, trung tâm dữ liệu, công trường, bệnh viện hay hệ thống logistics, khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động sẽ được thu hẹp.
“Nông dân chuyên nghiệp”, “nông dân số” và bài toán năng suất khu vực nông thôn
Một điểm đáng chú ý khác là chính sách không chỉ tập trung vào khu vực công nghiệp và dịch vụ mà hướng tới nâng năng suất trong nông nghiệp.
Kế hoạch đặt ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng để hình thành đội ngũ “nông dân chuyên nghiệp”, “nông dân số”, có kỹ năng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, vận hành máy móc hiện đại, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và mô hình kinh tế tuần hoàn.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu tái cấu trúc nông nghiệp. Nâng năng suất trong nông nghiệp không đơn giản là tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích. Quan trọng hơn là tăng giá trị thu được trên cùng một đơn vị tài nguyên, giảm chi phí đầu vào, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng chất lượng sản phẩm và đưa nông sản vào những chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao hơn.
Khi người nông dân biết sử dụng dữ liệu thời tiết, cảm biến, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, máy móc tự động và các nền tảng số, họ không còn chỉ là người sản xuất nguyên liệu mà có thể trở thành một chủ thể kinh tế có khả năng tham gia sâu hơn vào thị trường.
Công nghệ chỉ tạo năng suất khi đi cùng con người
Trong quá trình chuyển đổi số, tự động hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, một quan niệm dễ xuất hiện là công nghệ sẽ tự động tạo ra năng suất. Thực tế phức tạp hơn.
Công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp có quy trình phù hợp và người lao động đủ năng lực sử dụng công nghệ.
Vì thế, Kế hoạch đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào nhóm giải pháp trực tiếp tạo động lực tăng năng suất, đồng thời song song với đào tạo kỹ năng số, kỹ năng trí tuệ nhân tạo, kỹ năng xanh và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động chịu tác động mạnh của tự động hóa.
Đây chính là cách tiếp cận cân bằng giữa “công nghệ” và “con người”. Một chính sách năng suất hiện đại không nên đặt mục tiêu thay thế người lao động bằng máy móc, mà hướng tới nâng cao năng lực của người lao động thông qua máy móc, dữ liệu và công nghệ. Những công việc giản đơn có thể giảm, nhưng đồng thời những vị trí có kỹ năng cao hơn sẽ xuất hiện. Vấn đề quản lý là tạo ra quá trình chuyển đổi đủ nhanh để người lao động có thể dịch chuyển từ nhóm việc làm có năng suất thấp sang nhóm việc làm có năng suất cao.
Thị trường lao động phải trở thành “bộ máy phân bổ nguồn lực”
Nếu đào tạo là khâu tạo nguồn cung nhân lực thì thị trường lao động là cơ chế phân bổ nguồn lực đó.
Một thị trường lao động hiện đại phải giúp người lao động tìm được việc làm phù hợp, doanh nghiệp tìm được nhân lực phù hợp và cả hai bên có thông tin đủ minh bạch để ra quyết định.
Kế hoạch vì thế đặt yêu cầu phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, hiệu quả gắn với nâng cao năng suất; đồng thời hoàn thiện chính sách về việc làm, kỹ năng nghề, tiền lương, bảo hiểm xã hội để thúc đẩy dịch chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao.
Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Nếu người lao động không thể dễ dàng chuyển việc, học nghề mới, tiếp cận thông tin tuyển dụng hoặc được bảo đảm an sinh khi chuyển đổi, thì sự dịch chuyển nguồn lực sẽ diễn ra chậm. Ngược lại, một thị trường lao động linh hoạt nhưng thiếu an sinh có thể làm gia tăng bất ổn xã hội. Do đó, linh hoạt và an sinh phải được thiết kế đồng thời.
Để chính sách đi vào thực tiễn: cần đo được kết quả
Thách thức lớn nhất của Kế hoạch không nằm ở việc xác định nhiệm vụ mà ở khả năng tổ chức thực hiện.
Nâng năng suất là quá trình dài hạn, trong khi kết quả của nhiều chính sách không thể xuất hiện ngay trong một hoặc hai năm. Vì vậy, điều cần thiết là xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể, có thể đo lường và gắn trách nhiệm với từng cơ quan, địa phương, doanh nghiệp.
Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng lớp đào tạo, số dự án công nghệ hay số người được hỗ trợ. Quan trọng hơn phải đo được năng suất lao động tăng bao nhiêu, thu nhập thực tế của người lao động thay đổi thế nào, tỷ lệ việc làm chính thức tăng ra sao, doanh nghiệp trong nước tham gia sâu đến đâu vào chuỗi cung ứng, tỷ lệ lao động có kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm như thế nào.
Đặc biệt, cần quan tâm đến năng suất theo ngành, vùng và loại hình doanh nghiệp để nhận diện chính xác nơi nào đang tạo ra động lực tăng trưởng và nơi nào đang là “nút thắt”.
Từ một Kế hoạch hành động đến một cuộc chuyển đổi về chất
Kết luận số 62-KL/TW và Kế hoạch thực hiện tại Quyết định số 1685/QĐ-TTg mở ra một cách tiếp cận đáng chú ý: nâng năng suất lao động không còn được nhìn như một chương trình riêng lẻ về lao động mà trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia.
Từ quy hoạch, đầu tư, đào tạo, khoa học - công nghệ đến doanh nghiệp, tiền lương, bảo hiểm xã hội và thị trường lao động, các chính sách phải cùng hướng tới một mục tiêu: sử dụng tốt hơn từng đơn vị vốn, từng đơn vị tài nguyên và từng giờ lao động để tạo ra giá trị cao hơn.
Đây cũng là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới. Muốn tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu vào. Động lực ngày càng phải đến từ năng suất, đổi mới sáng tạo, công nghệ và chất lượng con người.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, một chính sách chỉ thực sự thành công khi biến được mục tiêu vĩ mô thành thay đổi cụ thể ở doanh nghiệp, nhà trường, địa phương và từng vị trí việc làm.
Với Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW, vấn đề vì thế không chỉ là “làm gì” mà còn là “làm thế nào” để từng nhiệm vụ tạo ra kết quả đo được. Nếu các cơ quan quản lý chủ động phối hợp, doanh nghiệp thực sự tham gia, cơ sở đào tạo chuyển mạnh theo nhu cầu thị trường và người lao động được trao cơ hội học tập suốt đời, nâng năng suất có thể trở thành một quá trình chuyển đổi thực chất.
Khi đó, năng suất lao động không chỉ là một chỉ tiêu thống kê. Nó sẽ trở thành thước đo sức sống của doanh nghiệp, chất lượng của thị trường lao động và cuối cùng là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
ThS Phạm Nguyên Bảo
_________________
Tài liệu tham khảo:
1. Quyết định số 1685/QĐ-TTg ngày 30/8/2026 và Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW;
2. Báo Điện tử Chính phủ; số liệu kinh tế - xã hội năm 2025 của cơ quan thống kê.



