I. HÌNH THÀNH NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN BIỂN CÓ TÍNH HỆ THỐNG
Biển giữ vị trí đặc biệt trong không gian phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác lập mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm năng, lợi thế của biển, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển.
Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục phát triển tư duy chiến lược về biển trong bối cảnh mới. Các định hướng được nhấn mạnh gồm phát triển không gian và hạ tầng biển, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Chính phủ sau đó ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW.
Sự tiếp nối về định hướng cho thấy mục tiêu quốc gia biển mạnh ngày càng được cụ thể hóa bằng yêu cầu xây dựng sức mạnh tổng hợp. Giá trị từ biển vì vậy cần được nhìn trong quan hệ giữa kinh tế với khoa học – công nghệ, nhân lực, hạ tầng, quản trị, môi trường và khả năng tham gia các mạng lưới quốc tế. Một nền kinh tế biển có sức cạnh tranh phải tạo được sự liên kết giữa những thành tố này thay vì phát triển từng lĩnh vực riêng biệt.
Trong cấu trúc đó, cảng biển giữ vai trò đặc biệt bởi đây là nơi gặp nhau giữa không gian biển với nền kinh tế trên đất liền. Qua cảng, hàng hóa tiếp cận thị trường quốc tế; các khu sản xuất được kết nối với mạng lưới vận tải; logistics hình thành chuỗi dịch vụ; vốn, công nghệ và tri thức có thêm kênh lưu chuyển. Tuy nhiên, quy mô cầu bến mới tạo ra khả năng tiếp nhận ban đầu. Giá trị phát triển còn phụ thuộc vào chất lượng mạng lưới phía sau cảng và khả năng phối hợp giữa sản xuất, vận tải, dịch vụ, công nghệ và nhân lực.
Hải Phòng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò trong cấu trúc này. Thành phố sở hữu hệ thống cảng biển nước sâu, nền công nghiệp phát triển, mạng lưới logistics, các tuyến giao thông liên vùng và cơ sở đào tạo chuyên sâu về hàng hải. Sự hội tụ ấy tạo cơ sở để Hải Phòng vượt ra ngoài chức năng một điểm trung chuyển hàng hóa, trở thành đầu mối tổ chức các hoạt động kinh tế gắn với biển.
Yêu cầu quan trọng trong giai đoạn mới là chuyển lợi thế địa lý và quy mô hạ tầng thành chất lượng vận hành. Cảng cần gắn chặt với khu công nghiệp và vùng sản xuất; logistics phải góp phần giảm thời gian và chi phí giao dịch; công nghệ nâng hiệu quả khai thác; nguồn nhân lực đáp ứng những phương thức vận hành mới. Khi các thành tố hỗ trợ lẫn nhau, lợi thế cảng biển mới có khả năng chuyển hóa thành sức cạnh tranh của một không gian kinh tế rộng hơn.
Theo nghĩa đó, vai trò của Hải Phòng có thể được nhìn nhận như một cực quan trọng trong mạng lưới kinh tế biển phía Bắc, nơi cảng biển, logistics, công nghiệp và tri thức cùng tham gia tạo giá trị. Đây cũng là tiền đề để thành phố đóng góp sâu hơn vào cấu trúc của một quốc gia biển mạnh.
II. HẢI PHÒNG TRONG MẠNG LƯỚI CẢNG BIỂN, LOGISTICS VÀ CÔNG NGHIỆP
Nền tảng rõ nét của Hải Phòng nằm ở hệ thống cảng biển và khả năng tiếp cận các tuyến vận tải quốc tế. Việc phát triển khu bến Lạch Huyện những năm gần đây đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp nhận tàu lớn, tạo thêm điều kiện hình thành các tuyến vận tải xa và giảm bớt một số khâu trung chuyển đối với hàng hóa xuất nhập khẩu khu vực phía Bắc.
Bến container số 3 và 4 tại Lạch Huyện bắt đầu khai thác thương mại từ giữa tháng 4/2025 và được khánh thành ngày 13/5/2025. Dự án có tổng chiều dài hai bến 750m, công suất thiết kế khoảng 1,1 triệu TEU/năm; hệ thống cầu bến được thiết kế để tiếp nhận tàu container trọng tải tới 165.000 DWT. Việc bổ sung hai bến nước sâu đã mở rộng đáng kể không gian khai thác của Cảng Hải Phòng và khả năng tiếp nhận các tuyến dịch vụ quốc tế.
Hiệu quả vận hành cũng được phản ánh qua một số chỉ số quốc tế. Theo Chỉ số Hiệu suất cảng container – CPPI 2025 do Ngân hàng Thế giới và S&P Global Market Intelligence công bố, Hải Phòng đứng thứ 13 trong khoảng 400 cảng được đánh giá, tăng 17 bậc so với năm trước. CPPI tập trung nhiều vào thời gian tàu làm hàng tại cảng, vì vậy thứ hạng này phản ánh một chiều cạnh quan trọng về hiệu suất khai thác hơn là quy mô tuyệt đối của dòng hàng.
Ở một hệ quy chiếu khác, bảng xếp hạng One Hundred Container Ports 2026 của Lloyd’s List, dựa trên sản lượng container năm 2025, xếp Hải Phòng ở vị trí thứ 26 thế giới, cải thiện so với vị trí thứ 29 của bảng xếp hạng năm trước. Hai hệ thống đánh giá sử dụng các tiêu chí khác nhau nhưng cùng cho thấy vị trí ngày càng rõ hơn của Hải Phòng trong mạng lưới cảng container quốc tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh cảng biển hiện đại ngày càng diễn ra trên toàn bộ chuỗi vận chuyển chứ không bó hẹp ở cầu bến. Sau khi rời cảng, hàng hóa còn phải di chuyển qua đường bộ, đường thủy nội địa, kho bãi, trung tâm logistics, khu công nghiệp và mạng lưới phân phối. Thời gian, chi phí và mức độ ổn định của toàn bộ hành trình tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Điều này làm thay đổi cách nhìn về giá trị của một cảng biển. Cảng là đầu mối vật chất của dòng hàng, trong khi giá trị kinh tế được mở rộng thông qua hệ thống vận tải, kho bãi, phân phối, bảo hiểm, tài chính, đại lý hàng hải, sửa chữa, kiểm định và dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp tạo nguồn hàng; cảng và logistics mở rộng khả năng tiếp cận thị trường; dịch vụ hỗ trợ làm tăng giá trị được giữ lại quanh dòng vận chuyển.
Thực tiễn Hải Phòng đang cho thấy xu hướng tăng cường liên kết chuỗi này. Tháng 8/2026, Cảng Hải Phòng và Sở Công Thương thành phố tổ chức kết nối doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu với doanh nghiệp cảng biển, hãng tàu và logistics, hình thành kênh trao đổi trực tiếp giữa chủ hàng – cảng – hãng tàu – doanh nghiệp logistics – cơ quan quản lý. Trước đó, Cảng Hải Phòng cũng mở rộng hợp tác với MSC và MEDLOG theo hướng phát triển chuỗi logistics tích hợp.
Những liên kết như vậy có ý nghĩa vượt khỏi việc gia tăng sản lượng qua cảng. Khi doanh nghiệp sản xuất có thể tiếp cận trực tiếp hãng tàu và nhà cung cấp logistics, thông tin về nhu cầu, lịch trình, giá dịch vụ và năng lực vận chuyển được kết nối tốt hơn. Điều này tạo thêm cơ sở để tối ưu chuỗi cung ứng và nâng chất lượng phục vụ thị trường xuất nhập khẩu.
Sự phát triển của Hải Phòng vì thế cần tiếp tục được đặt trong quan hệ với cả vùng sản xuất phía sau cảng. Thành phố vừa là cửa ngõ hàng hải, vừa có khả năng trở thành điểm điều phối dòng hàng giữa các trung tâm công nghiệp, logistics và thị trường quốc tế. Khả năng tổ chức tốt mạng lưới này sẽ quyết định mức độ lợi thế hạ tầng được chuyển thành giá trị kinh tế thực chất.
III. CÔNG NGHỆ VÀ DỮ LIỆU NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN HÀNH CẢNG BIỂN
Nếu hạ tầng tạo khả năng tiếp nhận hàng hóa thì công nghệ ngày càng quyết định chất lượng khai thác hạ tầng. Đây là một trong những thay đổi quan trọng của hoạt động cảng biển trong bối cảnh số hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một cảng container quy mô lớn phải đồng thời điều phối tàu biển, cầu bến, cần cẩu, bãi container, phương tiện vận tải, nhân lực, chủ hàng, doanh nghiệp logistics và hoạt động của các cơ quan liên quan. Mỗi mắt xích tạo ra lượng dữ liệu đáng kể. Khi dữ liệu được cập nhật và chia sẻ kịp thời, cảng có thêm cơ sở để bố trí bãi, điều phối thiết bị, xây dựng lịch tàu, theo dõi phương tiện và dự báo lưu lượng hàng.
Theo cách tiếp cận hệ thống, bên cạnh dòng hàng hóa luôn tồn tại một dòng thông tin tương ứng. Một container di chuyển qua cảng đồng thời tạo ra dữ liệu về vị trí, hành trình, thời gian, phương tiện vận chuyển và trạng thái xử lý. Khả năng tổ chức tốt dòng dữ liệu này đang trở thành một bộ phận của năng suất khai thác.
Tại Cảng Hải Phòng, chuyển đổi số đang từng bước đi sâu vào hoạt động vận hành. Doanh nghiệp đã triển khai hoặc chuẩn bị triển khai các nền tảng Big Data, Smart TOS, ERP, IoT và mô hình Smart Port. Tại Cảng quốc tế TIL Cảng Hải Phòng, hệ thống 3D Digital Twin kết hợp AI đã được đưa vào thực tiễn để mô phỏng hoạt động khai thác theo thời gian thực, hỗ trợ giám sát, dự báo và tối ưu công tác lập kế hoạch.
Các công nghệ này đảm nhiệm những chức năng khác nhau. TOS hỗ trợ tổ chức hoạt động tàu, bãi và thiết bị; IoT cung cấp dữ liệu từ máy móc và hàng hóa; Big Data tạo cơ sở tập hợp, xử lý lượng thông tin lớn; AI mở rộng khả năng dự báo và hỗ trợ tối ưu một số quyết định; Digital Twin cho phép mô phỏng trạng thái vận hành để phân tích phương án trước khi triển khai.
Giá trị lớn hơn được hình thành khi những công cụ trên hoạt động trong một kiến trúc dữ liệu có khả năng liên thông. Công nghệ vì vậy ngày càng trở thành một cấu phần trực tiếp của phương thức khai thác cảng hiện đại. Năng lực cạnh tranh được tạo nên bởi sự kết hợp giữa hạ tầng vật chất, dữ liệu và hệ thống dịch vụ: cầu bến tạo công suất, dữ liệu giúp khai thác công suất hiệu quả, còn dịch vụ quyết định trải nghiệm và giá trị mà khách hàng nhận được.
Hướng phát triển này cũng mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp cảng. Ngoài đầu tư tại Hải Phòng, doanh nghiệp đang nghiên cứu hợp tác đầu tư và vận hành hệ thống cảng biển – logistics tại Khu công nghiệp Bạch Đằng, Quảng Ninh, với quy mô dự kiến ba cầu cảng cùng hệ thống kho bãi và dịch vụ hậu cần. Đây có thể được nhìn nhận như một biểu hiện của xu hướng phát triển mạng lưới thay vì giới hạn hoạt động trong một điểm cảng riêng lẻ.
Sự mở rộng về quy mô càng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng điều phối. Khi tàu lớn hơn, dòng container tăng và phạm vi dịch vụ rộng hơn, hoạt động vận hành trở nên phức tạp hơn. Công nghệ có thể giúp xử lý một phần độ phức tạp đó, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào thiết kế quy trình, chất lượng dữ liệu và khả năng sử dụng của đội ngũ vận hành.
Đây cũng là lý do số hóa cảng biển không thể được nhìn tách khỏi phát triển con người. Tự động hóa làm giảm một số thao tác trực tiếp nhưng đồng thời gia tăng nhu cầu đối với kỹ năng vận hành thiết bị, công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu, quản trị chuỗi cung ứng, bảo trì và xử lý tình huống.
Khi công nghệ thay đổi phương thức khai thác, nguồn nhân lực trở thành điều kiện trực tiếp quyết định khả năng làm chủ những phương thức mới.
IV. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ TRI THỨC TẠO NỀN TẢNG LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ BIỂN
Cảng biển và logistics đang chuyển nhanh theo hướng tự động hóa, số hóa, xanh hóa và tuân thủ ngày càng nhiều tiêu chuẩn quốc tế. Những thay đổi đó kéo theo sự dịch chuyển trong cơ cấu kỹ năng của lao động hàng hải.
Bên cạnh kiến thức truyền thống về khai thác tàu, máy tàu hay vận hành cảng, nhu cầu mới tập trung nhiều hơn vào công nghệ thông tin, tự động hóa, dữ liệu, logistics, quản lý môi trường, quản trị rủi ro và ngoại ngữ. Một hệ thống cảng sử dụng thiết bị thông minh và mô hình vận hành số cần người lao động đủ khả năng hiểu công nghệ, kiểm soát quy trình và xử lý những tình huống vượt ra ngoài kịch bản tự động.
Thực tế vận hành hai bến 3 và 4 Lạch Huyện đã cho thấy yêu cầu này. Trước khi cảng đi vào khai thác, Cảng Hải Phòng phối hợp với đơn vị cung cấp thiết bị tổ chức đào tạo chuyên sâu cho cán bộ kỹ thuật và nhân viên vận hành nhằm chuẩn bị khả năng làm chủ hệ thống trang thiết bị hiện đại.
Ở bình diện dài hạn hơn, Hải Phòng có lợi thế khi sở hữu Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – cơ sở đào tạo chuyên sâu gắn trực tiếp với lĩnh vực hàng hải và kinh tế biển. Vai trò của một cơ sở như vậy ngày càng vượt khỏi phạm vi cung cấp lao động chuyên môn, bởi quá trình hiện đại hóa cần đồng thời cả đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và cập nhật kỹ năng cho lực lượng đang làm việc.
Quyết định số 1901/QĐ-TTg ngày 5/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Định hướng này tạo cơ sở để vai trò của nhà trường được mở rộng theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và những nhu cầu mới của các ngành kinh tế biển.
Nền tảng hội nhập quốc tế của đào tạo hàng hải Việt Nam cũng được hình thành qua quá trình thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế. Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã có đóng góp vào quá trình Việt Nam đáp ứng các yêu cầu để được Tổ chức Hàng hải quốc tế đưa vào White List về thực hiện Công ước STCW và tham gia Hiệp hội các Trường Đại học Hàng hải Quốc tế. White List phản ánh việc một quốc gia đáp ứng các yêu cầu liên quan tới đào tạo, cấp chứng chỉ và trực ca cho thuyền viên theo Công ước STCW, không phải bảng xếp hạng hay chứng nhận riêng dành cho một trường đại học.
Đặt đại học trong cấu trúc phát triển kinh tế biển giúp mở rộng cách nhìn về “hạ tầng”. Bên cạnh cầu cảng, đường giao thông hay trung tâm logistics còn có một dạng hạ tầng mềm: tri thức, kỹ năng và năng lực nghiên cứu. Hạ tầng vật chất có thể được xây dựng trong một khoảng thời gian nhất định, còn chất lượng nhân lực cần được tích lũy và cập nhật liên tục.
Đặc điểm này càng quan trọng khi chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn. Một hệ thống đào tạo tách xa thực tiễn doanh nghiệp có nguy cơ chậm thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp khó duy trì khả năng đổi mới dài hạn nếu chỉ dựa vào nhập khẩu thiết bị và phần mềm mà thiếu lực lượng kỹ thuật, nghiên cứu và quản trị tại chỗ.
Do đó, lợi thế nhân lực của Hải Phòng cần được phát triển theo hướng tạo khả năng tái tạo tri thức. Thành phố cần đội ngũ đáp ứng nhu cầu hiện tại, đồng thời có hệ thống đào tạo đủ khả năng cập nhật kỹ năng, nghiên cứu các vấn đề mới và cung cấp giải pháp cho quá trình chuyển đổi của ngành.
Khi doanh nghiệp cảng, doanh nghiệp logistics và cơ sở đào tạo thường xuyên trao đổi về công nghệ, kỹ năng và yêu cầu sản xuất, khoảng cách giữa đào tạo với thực tiễn có điều kiện được thu hẹp. Công nghệ nhập khẩu khi đó có thể từng bước được tiếp nhận, vận hành, thích nghi và khai thác hiệu quả hơn.
V. LIÊN KẾT CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỰC KINH TẾ BIỂN
Chiều sâu của một trung tâm kinh tế biển được tạo nên bởi chất lượng quan hệ giữa các chủ thể. Cảng, doanh nghiệp logistics, khu công nghiệp, trường đại học và cơ quan quản lý đều có chức năng riêng, nhưng hiệu quả tổng thể phụ thuộc vào khả năng những chủ thể này chia sẻ nhu cầu, tri thức và các điều kiện phát triển.
Trong nghiên cứu về đổi mới sáng tạo, mô hình Triple Helix do Henry Etzkowitz và Loet Leydesdorff phát triển xem tương tác giữa đại học, doanh nghiệp và Nhà nước là một cơ chế quan trọng của hệ thống đổi mới. Đại học tạo tri thức và đào tạo nhân lực; doanh nghiệp đưa ra nhu cầu thực tiễn và khả năng thương mại hóa; Nhà nước kiến tạo môi trường thể chế, hạ tầng và điều kiện hỗ trợ đổi mới. Khung lý luận này có thể cung cấp một cách tiếp cận phù hợp khi xem xét mối quan hệ giữa cảng biển, công nghệ và đào tạo ở Hải Phòng.
Trong thực tế, doanh nghiệp cảng có thể đặt ra những bài toán về tối ưu bãi container, dự báo dòng hàng, tự động hóa hoặc sử dụng năng lượng hiệu quả. Trường đại học và các cơ sở nghiên cứu có khả năng chuyển một phần nhu cầu đó thành nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu hoặc thử nghiệm. Cơ quan quản lý tạo điều kiện về hạ tầng, dữ liệu, tiêu chuẩn và môi trường triển khai. Khi kết quả nghiên cứu trở lại phục vụ vận hành, tri thức được chuyển thành giá trị thực tế.
Mối quan hệ này cũng tạo thêm không gian phát triển cho doanh nghiệp công nghệ. Một cảng thông minh cần các giải pháp phần mềm, cảm biến, tự động hóa, an toàn thông tin và bảo trì; doanh nghiệp công nghệ cần môi trường thử nghiệm; trường đại học cần bài toán thực tế; sinh viên cần không gian thực hành. Sự tương tác thường xuyên giữa các chủ thể giúp hình thành chu trình đổi mới có khả năng tự củng cố.
Trong cấu trúc quốc gia biển mạnh, vai trò của Hải Phòng có thể được phát huy rõ hơn ở những lĩnh vực thành phố có lợi thế nổi trội: cửa ngõ hàng hải của khu vực phía Bắc, đầu mối logistics, trung tâm công nghiệp và địa bàn đào tạo – nghiên cứu chuyên sâu về hàng hải. Đây là cách tiếp cận dựa trên phân công và liên kết, phù hợp với một nền kinh tế biển ngày càng có tính mạng lưới.
Một cực kinh tế có sức lan tỏa là nơi các dòng hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và tri thức được tập trung, xử lý rồi tiếp tục kết nối tới những không gian khác. Hàng hóa từ các vùng sản xuất phía Bắc đi qua Hải Phòng để tiếp cận thị trường quốc tế; mạng lưới hãng tàu tạo thêm lựa chọn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu; logistics phát triển có thể góp phần giảm chi phí của vùng sản xuất phía sau; nguồn nhân lực hàng hải được đào tạo tại thành phố có khả năng phục vụ nhu cầu của ngành trên phạm vi rộng hơn địa giới Hải Phòng.
Theo cách nhìn đó, hiệu quả của một thành phố cảng cần được đánh giá bằng cả sản lượng hàng hóa và phần giá trị được tạo ra quanh dòng hàng. Dịch vụ phát triển ở mức nào, doanh nghiệp sản xuất tiếp cận thị trường thuận lợi ra sao, công nghệ được vận hành hiệu quả đến đâu và nguồn nhân lực có đủ khả năng thích ứng với những yêu cầu mới là những yếu tố tạo chiều sâu cho sức cạnh tranh.
Đây cũng là điểm gặp giữa yêu cầu xây dựng quốc gia biển mạnh với những lợi thế đang hiện hữu tại Hải Phòng. Một quốc gia biển mạnh cần nhiều trung tâm, ngành và mắt xích cùng phát triển trong cấu trúc bổ trợ lẫn nhau. Hải Phòng có điều kiện đóng góp bằng thế mạnh đặc trưng của mình về cảng biển, logistics, công nghiệp, công nghệ và đào tạo hàng hải.
Quá trình phát triển của thành phố cảng vì vậy là sự chuyển hóa liên tục giữa lợi thế địa lý, hạ tầng, dòng hàng, dịch vụ, công nghệ và khả năng làm chủ. Khi các thành tố này được tổ chức ngày càng chặt chẽ, giá trị tạo ra có điều kiện vượt khỏi phạm vi riêng của hoạt động cảng, lan tỏa tới sản xuất, thương mại, dịch vụ và các địa phương trong vùng.
Trong tiến trình xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, lợi thế của Hải Phòng sẽ được phát huy đầy đủ hơn khi cảng biển tiếp tục đóng vai trò cửa ngõ, logistics nâng hiệu quả lưu chuyển, công nghệ cải thiện chất lượng vận hành, còn tri thức và con người tạo khả năng thích ứng, đổi mới.
Sự kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp, nguồn nhân lực và thể chế sẽ tạo cơ sở để lợi thế biển của Hải Phòng chuyển hóa thành giá trị cho một không gian phát triển rộng hơn. Đây là hướng để thành phố phát huy vai trò của một cực kinh tế biển quan trọng, đóng góp thiết thực vào quá trình hình thành sức mạnh tổng hợp của Việt Nam trên hành trình trở thành quốc gia biển mạnh.
ThS. Đặng Thị Thu Hương



