03/09/2026 lúc 16:57 (GMT+7)
Breaking News

Xây dựng nông thôn mới Thủ đô: Từ đạt chuẩn đến năng lực phát triển hiện đại

Hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trước một năm so với mục tiêu đã tạo nền tảng để Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển với những yêu cầu cao hơn. Bộ tiêu chí giai đoạn 2026–2030 đánh dấu sự chuyển dịch từ mở rộng phạm vi đạt chuẩn sang nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, môi trường, dịch vụ công và quản trị nông thôn. Thành công của giai đoạn mới cần được đo bằng sinh kế bền vững, môi trường sống được cải thiện, khả năng tiếp cận dịch vụ và mức độ tham gia của người dân vào quá trình phát triển.

I. NỀN TẢNG THÀNH TỰU VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN

Giai đoạn 2021–2025 ghi nhận bước tiến quan trọng của Hà Nội trong xây dựng nông thôn mới. Thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ trước một năm so với mục tiêu của Chương trình số 04-CTr/TU. Toàn bộ 18 đơn vị cấp huyện và 382 xã thuộc phạm vi đánh giá của giai đoạn trước đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó có 6 huyện đạt chuẩn nâng cao, 229 xã đạt chuẩn nâng cao và 109 xã đạt chuẩn kiểu mẫu. Kết quả này phản ánh quy mô nguồn lực được huy động, năng lực tổ chức thực hiện và sự tham gia rộng rãi của người dân trong cải thiện hạ tầng, phát triển sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa ở khu vực nông thôn.

Xây dựng nông thôn mới Thủ đô giai đoạn 2026–2030 hướng tới nâng cao chất lượng sống, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và gìn giữ bản sắc.

Tuy nhiên, đạt chuẩn tại một thời điểm không đồng nghĩa quá trình phát triển đã hoàn tất. Nông thôn luôn vận động dưới tác động của đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động, biến đổi khí hậu, tiến bộ công nghệ và nhu cầu ngày càng cao của người dân. Hạ tầng đã được đầu tư cần được duy trì và khai thác hiệu quả; các mô hình sinh kế phải chứng minh khả năng tồn tại trên thị trường; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường phải tiếp tục được cải thiện. Thành quả của giai đoạn trước vì thế cần được nhìn nhận như nền tảng cho một chu trình nâng chuẩn mới, thay vì trở thành căn cứ để bằng lòng với kết quả đã đạt được.

Dưới góc độ phân tích thể chế, cần phân biệt kết quả công nhận với năng lực phát triển. Kết quả công nhận phản ánh mức độ đáp ứng một hệ thống yêu cầu tại thời điểm đánh giá; còn năng lực phát triển thể hiện khả năng duy trì thành quả, huy động nguồn lực, thích ứng với biến động và tiếp tục nâng cao chất lượng sống. Sự phân biệt này giúp tránh đồng nhất số lượng xã đạt chuẩn với toàn bộ hiệu quả của chương trình hoặc coi việc hoàn thiện hồ sơ là đích đến sau cùng của xây dựng nông thôn mới.

Bộ tiêu chí giai đoạn 2026–2030 được ban hành và triển khai trong bối cảnh không gian quản trị nông thôn Hà Nội đã có nhiều thay đổi. Sau sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quy mô dân số, diện tích, cấu trúc kinh tế và điều kiện phát triển của từng xã có sự khác biệt đáng kể so với giai đoạn trước. Một đơn vị hành chính mới có thể đồng thời bao gồm vùng sản xuất nông nghiệp, làng nghề, khu dân cư truyền thống và địa bàn đang đô thị hóa nhanh. Công tác rà soát vì vậy phải căn cứ vào hiện trạng của không gian phát triển mới, tránh so sánh cơ học số lượng xã giữa hai thời kỳ.

Đánh giá theo chuẩn mới không phủ nhận những thành quả đã được công nhận, mà nhằm xác lập mặt bằng chất lượng phù hợp hơn với trình độ phát triển và yêu cầu quản trị hiện nay. Các tiêu chí về hạ tầng, kinh tế, môi trường và dịch vụ công cần được xem xét trong mối quan hệ với khả năng vận hành và mức độ thụ hưởng thực tế. Một tuyến đường chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi hỗ trợ đi lại, sản xuất và kết nối thị trường; một thiết chế văn hóa cần được đánh giá qua mức độ sử dụng; một mô hình số chỉ có ý nghĩa khi giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn.

Bước chuyển của Hà Nội trong giai đoạn 2026–2030, do đó, không nằm ở việc lặp lại cuộc vận động về số lượng đơn vị đạt chuẩn. Trọng tâm cần chuyển sang duy trì thành quả, thu hẹp chênh lệch giữa các địa bàn và hình thành năng lực phát triển có khả năng tự vận hành. Khi kết quả được phản ánh bằng chất lượng sinh kế, dịch vụ, môi trường và mức độ hài lòng của người dân, việc đạt chuẩn mới thực sự thể hiện chất lượng phát triển bền vững.

II. QUẢN TRỊ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THEO ĐẶC THÙ ĐỊA BÀN

Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 xác lập Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030, gồm Bộ tiêu chí đối với xã nông thôn mới, khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại và quy định đối với tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ. Điểm mới đáng chú ý là các xã được phân nhóm theo đặc điểm phát triển, thay cho cách áp dụng một mức yêu cầu hoàn toàn đồng nhất. Mô hình xã nông thôn mới hiện đại cũng được triển khai theo cơ chế thí điểm, tạo điều kiện kiểm chứng tiêu chí, nguồn lực và phương thức tổ chức trước khi xem xét mở rộng.

Trên cơ sở khung quốc gia, ngày 28/8/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 122/2026/QĐ-UBND về Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026–2030. Việc cụ thể hóa tiêu chí thể hiện mối quan hệ giữa chuẩn chung của quốc gia với điều kiện phát triển riêng của Thủ đô. Mặt bằng chất lượng cần được bảo đảm thống nhất, song lộ trình thực hiện phải phù hợp với vị trí địa lý, cơ cấu kinh tế, mức độ đô thị hóa và khả năng tiếp cận dịch vụ của từng địa bàn.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Hà Nội có 75 xã với những điều kiện phát triển khác nhau. Theo phân nhóm được Thành phố xác định, 36 xã thuộc nhóm 1, chủ yếu là những địa bàn liền kề đô thị hiện hữu, có định hướng đô thị hóa hoặc mức độ phát triển phi nông nghiệp cao hơn; 39 xã thuộc nhóm 2, có cơ cấu kinh tế, khả năng kết nối và điều kiện phát triển khác với nhóm 1. Mục tiêu đến năm 2030 là có 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Việc phân nhóm vì thế cần được hiểu là cơ sở xác lập lộ trình phù hợp, không phải sự phân chia thứ bậc giữa các địa phương.

Cách tổ chức này có thể được lý giải bằng tiếp cận phát triển dựa trên địa bàn. Theo đó, chính sách cần xuất phát từ tài sản, nhu cầu, năng lực và điểm nghẽn của từng không gian, thay vì áp dụng cùng một giải pháp cho mọi nơi. Khung chính sách Rural 3.0 của OECD cũng xem nông thôn là không gian có khả năng tạo tăng trưởng, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực bản địa, tăng cường liên kết nông thôn – đô thị, phối hợp giữa các cấp quản lý và mở rộng sự tham gia của cộng đồng. Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thụ động sang hình thành năng lực phát triển nội sinh.

Đối với các xã đô thị hóa nhanh, nhiệm vụ ưu tiên có thể tập trung vào quy hoạch không gian, giao thông kết nối, hạ tầng số, xử lý chất thải và quản lý quá trình chuyển đổi đất đai, việc làm. Những địa bàn này chịu tác động mạnh từ gia tăng dân số, phát triển dự án và sự đan xen giữa sản xuất nông nghiệp với các chức năng đô thị. Nếu thiếu điều phối, lợi thế về vị trí có thể đi kèm tình trạng quá tải hạ tầng, thu hẹp không gian sản xuất, ô nhiễm môi trường và suy giảm tính gắn kết của cộng đồng.

Với những xã còn mang rõ đặc trưng nông nghiệp hoặc có khả năng kết nối hạn chế hơn, trọng tâm cần đặt vào phát triển sinh kế, nâng cao chất lượng dịch vụ thiết yếu, bảo vệ tài nguyên và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Tại địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số, quá trình nâng chuẩn phải gắn với bảo tồn văn hóa, phát triển nguồn nhân lực và thu hẹp chênh lệch trong tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin và cơ hội việc làm. Sự khác nhau về trọng tâm không làm giảm yêu cầu chất lượng, mà giúp chính sách và nguồn lực được bố trí sát với nhu cầu thực tế hơn.

Ở góc độ quản trị, bình đẳng không nhất thiết đồng nghĩa với áp dụng một lộ trình giống nhau. Bình đẳng được thể hiện ở việc mỗi địa phương có cơ hội tiếp cận chuẩn phát triển thông qua chính sách phù hợp với điều kiện xuất phát. Phân bổ nguồn lực theo cách bình quân có thể khiến các xã còn khoảng cách lớn không đủ khả năng xử lý điểm nghẽn, trong khi những địa bàn thuận lợi chưa được khuyến khích tiến tới chuẩn mực cao hơn. Vì vậy, phân nhóm phải đi cùng việc xác định nhu cầu, thứ tự ưu tiên, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện cụ thể.

Bộ tiêu chí trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận như một công cụ quản trị, thay vì danh mục phục vụ riêng cho việc xét công nhận. Thông qua rà soát, chính quyền có thể xác định khoảng cách giữa hiện trạng với yêu cầu, lựa chọn dự án ưu tiên và theo dõi hiệu quả thực hiện. Tiêu chí môi trường phải phản ánh khả năng xử lý chất thải và cải thiện không gian sống; chuyển đổi số cần được đánh giá qua mức độ sử dụng dịch vụ và thời gian giao dịch; phát triển kinh tế phải thể hiện ở chất lượng việc làm, thu nhập ổn định và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Khi được tích hợp vào kế hoạch phát triển hằng năm, gắn với dữ liệu theo dõi và sự giám sát của cộng đồng, Bộ tiêu chí sẽ trở thành căn cứ phân bổ nguồn lực, đánh giá chất lượng điều hành và xác định trách nhiệm. Giá trị của khuôn khổ mới vì thế không dừng ở kết quả công nhận, mà nằm ở khả năng tổ chức lộ trình phù hợp cho từng địa bàn và duy trì bền vững những kết quả đã đạt được.

III. KIẾN TẠO NÔNG THÔN THỦ ĐÔ HIỆN ĐẠI, GIÀU BẢN SẮC

Khái niệm “hiện đại” trong xây dựng nông thôn mới cần được hiểu đầy đủ hơn việc nâng cấp hạ tầng hoặc đưa công nghệ vào đời sống. Hiện đại hóa nông thôn cũng không đồng nghĩa với đô thị hóa cơ học, thu hẹp không gian sản xuất hay sao chép mô hình sống của khu vực nội thành. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định định hướng phát triển “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”, qua đó đặt phương thức sản xuất, không gian phát triển và chủ thể nông dân trong một chỉnh thể thống nhất. Mức độ hiện đại của nông thôn Thủ đô vì thế phải được thể hiện đồng thời qua năng lực kinh tế, chất lượng dịch vụ, hiệu quả quản trị, môi trường sống và sức sống của cộng đồng.

Trước hết, nông thôn hiện đại cần có một nền kinh tế đủ năng động để tạo việc làm, thu nhập ổn định và khả năng thích ứng với thị trường. Đối với nông nghiệp, trọng tâm phải chuyển từ gia tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn hóa, chế biến và tạo giá trị cao hơn trên từng đơn vị tài nguyên. Hà Nội có lợi thế từ quy mô thị trường lớn, hệ thống nghiên cứu và đào tạo tương đối phát triển, cùng khả năng kết nối trực tiếp giữa vùng sản xuất với khu vực tiêu dùng. Nếu các điều kiện này được khai thác hiệu quả, nông nghiệp ngoại thành có thể phát triển theo hướng công nghệ cao, sinh thái, tuần hoàn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường đô thị.

Phát triển nông thôn, tuy nhiên, không thể được đồng nhất với phát triển riêng ngành nông nghiệp. Công nghiệp nông thôn, làng nghề, thương mại, logistics nông sản, dịch vụ trải nghiệm và kinh tế sáng tạo gắn với di sản đều có khả năng mở rộng cơ cấu việc làm. Vấn đề cốt lõi là tổ chức được mối liên kết giữa sản xuất, chế biến, phân phối và thị trường, qua đó giúp người dân tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Một làng nghề chỉ có thể phát triển lâu dài khi duy trì được kỹ năng truyền thống, đồng thời đổi mới thiết kế, công nghệ, quản trị chất lượng và phương thức tiếp cận khách hàng.

Cùng với chuyển đổi mô hình kinh tế, công nghệ số cần được đặt đúng vị trí là công cụ phục vụ phát triển. Cách tiếp cận “làng thông minh” của Liên minh châu Âu nhấn mạnh vai trò chủ động của cộng đồng trong sử dụng thế mạnh địa phương và các giải pháp đổi mới để xử lý những vấn đề cụ thể. Tính thông minh vì thế không được quyết định bởi số lượng thiết bị lắp đặt, mà bởi khả năng công nghệ hỗ trợ ra quyết định, giảm chi phí và cải thiện chất lượng sống.

Đối với nông thôn Hà Nội, chuyển đổi số có thể được cụ thể hóa thông qua truy xuất nguồn gốc nông sản, quản lý tưới tiêu, theo dõi chất lượng môi trường, cảnh báo thiên tai, cung cấp dịch vụ công và kết nối sản phẩm với thị trường. Trong y tế, công nghệ hỗ trợ quản lý hồ sơ sức khỏe và tư vấn từ xa; trong giáo dục, học liệu số mở rộng khả năng tiếp cận tri thức; trong quản trị, dữ liệu giúp chính quyền nhận diện nhu cầu và xử lý vấn đề kịp thời hơn. Tuy vậy, số lượng camera, phần mềm hay điểm phát sóng chưa đủ phản ánh hiệu quả nếu các hệ thống thiếu liên thông, khó sử dụng hoặc dữ liệu không được chuyển hóa thành quyết định quản lý.

Nội hàm hiện đại còn được thể hiện qua cách tổ chức chuyển đổi xanh. Nông thôn vừa cung cấp thực phẩm và không gian sinh thái, vừa chịu sức ép từ chất thải sinh hoạt, hoạt động sản xuất, làng nghề và quá trình đô thị hóa. Do đó, quản lý đất, nước, chất thải, cảnh quan và năng lượng cần được đặt trong cùng một quy hoạch phát triển. Sản xuất tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm, tiết kiệm tài nguyên và sử dụng năng lượng sạch có thể giảm tác động môi trường, đồng thời tạo thêm giá trị cho kinh tế nông thôn.

Đối với làng nghề, tiêu chuẩn môi trường phải đi cùng đổi mới công nghệ, tổ chức lại không gian sản xuất và hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn. Nếu yêu cầu chuyển đổi vượt quá khả năng của hộ sản xuất, chính sách có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ mà chưa giải quyết được căn nguyên ô nhiễm. Ngược lại, duy trì phương thức sản xuất thiếu bền vững sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, cảnh quan và chính nền tảng phát triển của làng nghề. Yêu cầu phù hợp là xây dựng lộ trình để sinh kế và môi trường cùng được cải thiện.

Mức độ hiện đại của nông thôn cũng cần được đánh giá qua khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu. Một công trình được xây dựng chưa đương nhiên tạo ra dịch vụ có chất lượng. Trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, hệ thống nước sạch và giao thông chỉ phát huy giá trị khi được vận hành ổn định, phù hợp với nhu cầu và tạo thuận lợi cho các nhóm dân cư khác nhau. Vì vậy, đánh giá cần chuyển từ số lượng công trình sang thời gian tiếp cận, chất lượng phục vụ, tần suất sử dụng và mức độ hài lòng của người dân.

Một yêu cầu đặc biệt đối với nông thôn Hà Nội là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hiện đại hóa với bảo tồn bản sắc. Hệ thống làng cổ, làng nghề, lễ hội, di tích và cảnh quan tạo nên chiều sâu văn hóa của Thủ đô. Bảo tồn không nên dừng ở duy trì hình thức kiến trúc hoặc phục dựng lễ hội, mà cần gắn di sản với giáo dục cộng đồng, sinh kế, du lịch có trách nhiệm và chất lượng không gian sống. Khi văn hóa trở thành nguồn lực sáng tạo và liên kết cộng đồng, hoạt động bảo tồn sẽ có thêm nền tảng xã hội và kinh tế để duy trì lâu dài.

Trong toàn bộ quá trình đó, người dân phải giữ vai trò chủ thể. Sự tham gia cần được bảo đảm từ khâu xác định vấn đề, lựa chọn ưu tiên, tổ chức thực hiện đến giám sát và đánh giá. Chính quyền cung cấp tiêu chuẩn, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ, nhưng không thể thay thế tri thức địa phương và lựa chọn của cộng đồng. Một mô hình chỉ có khả năng duy trì khi người dân nhận thấy lợi ích, có điều kiện tham gia và cùng chịu trách nhiệm đối với kết quả.

Nông thôn Thủ đô hiện đại, do đó, không phải phiên bản thu nhỏ của đô thị, mà là không gian sống có kinh tế năng động, hạ tầng và dịch vụ tiến bộ, môi trường được bảo vệ và bản sắc cộng đồng tiếp tục được bồi đắp. Hiện đại hóa chỉ đạt được ý nghĩa đầy đủ khi năng lực công nghệ, chất lượng quản trị và giá trị văn hóa cùng hướng đến nâng cao đời sống của người dân.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỂ TIÊU CHÍ TRỞ THÀNH KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN

Sau khi Bộ tiêu chí giai đoạn 2026–2030 được ban hành, trọng tâm chuyển sang đánh giá hiện trạng, xác định khoảng cách và xây dựng lộ trình thực hiện cho từng xã. Thách thức chính không còn nằm ở việc thiếu chuẩn mực, mà ở năng lực chuyển các yêu cầu thành kế hoạch có nguồn lực, trách nhiệm và kết quả kiểm chứng được. Nếu tổ chức thực hiện thiếu trọng tâm, Bộ tiêu chí có thể bị thu hẹp thành danh mục công việc; khi được tích hợp vào quá trình điều hành, đây sẽ là công cụ nâng cao chất lượng quản trị địa phương.

Trước hết, mỗi xã cần xây dựng hệ thống dữ liệu ban đầu phản ánh đúng điều kiện sau sắp xếp. Việc rà soát phải chỉ ra những tiêu chí đã được đáp ứng ổn định, những kết quả có nguy cơ suy giảm và các nội dung cần ưu tiên đầu tư. Dữ liệu về dân cư, thu nhập, việc làm, hạ tầng, dịch vụ và môi trường cần được đối chiếu, cập nhật định kỳ. Cách làm này giúp chuyển từ đánh giá tại một thời điểm sang theo dõi liên tục, đồng thời tạo căn cứ để điều chỉnh kế hoạch khi điều kiện phát triển thay đổi.

Nguồn lực cần được phân bổ theo mức độ thiếu hụt và khả năng tạo tác động, thay vì chia đều giữa các địa phương. Những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống như nước sạch, môi trường, y tế, giáo dục, giao thông và sinh kế cần được ưu tiên. Với những xã có điều kiện thuận lợi, nguồn lực có thể tập trung vào chuyển đổi số, kinh tế xanh và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đối với địa bàn còn hạn chế về kết nối và khả năng tiếp cận, trước hết cần bảo đảm mặt bằng dịch vụ thiết yếu. Việc huy động đóng góp xã hội phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, công khai và phù hợp với khả năng của người dân, tránh chuyển gánh nặng hoàn thành tiêu chí sang cộng đồng.

Việc tích hợp mục tiêu xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tạo điều kiện hạn chế đầu tư chồng chéo. Tuy nhiên, tích hợp không nên dừng ở việc ghép nguồn vốn hoặc thủ tục. Yêu cầu phù hợp hơn là tổ chức theo nguyên tắc “một kế hoạch, nhiều kết quả”: dự án giao thông đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ và kết nối thị trường; chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động; dự án môi trường đi cùng đổi mới phương thức sản xuất và thay đổi hành vi cộng đồng. Cách tiếp cận này giúp mỗi nguồn lực tạo ra nhiều tác động phát triển có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau.

Mối quan hệ giữa Bộ tiêu chí nông thôn mới với các mô hình thí điểm khác cũng cần được xác định rõ. Phúc Thịnh và Thư Lâm là hai địa bàn được lựa chọn triển khai thí điểm mô hình xã xã hội chủ nghĩa, đồng thời được ưu tiên trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới. Hai khuôn khổ có những nội dung giao thoa về quản trị, hạ tầng, kinh tế, văn hóa và đời sống, nhưng không đồng nhất về căn cứ, phạm vi và phương thức đánh giá. Vì vậy, quá trình triển khai cần phân định rõ tiêu chí, thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm của từng chủ thể, tránh gộp các mô hình thành một hệ thống danh hiệu hoặc làm phát sinh yêu cầu trùng lặp.

Hiệu quả thực hiện cần được đánh giá bằng kết quả phát triển, thay vì chủ yếu dựa trên số xã được công nhận. Ở phương diện kinh tế, thước đo là chất lượng việc làm, thu nhập, năng suất và khả năng tiếp cận thị trường. Kết quả xã hội được phản ánh qua mức độ tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh. Chất lượng môi trường thể hiện ở khả năng xử lý chất thải, bảo vệ nguồn nước, cảnh quan và sử dụng tài nguyên. Đối với quản trị, cần theo dõi tính công khai, thời gian giải quyết công việc, mức độ tham gia và sự hài lòng của người dân.

Bộ tiêu chí chỉ tạo ra giá trị khi từng chỉ tiêu được chuyển hóa thành thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống hằng ngày. Trách nhiệm của chính quyền vì thế không dừng ở báo cáo mức độ hoàn thành, mà phải được thể hiện qua hiệu quả sử dụng nguồn lực, khả năng duy trì kết quả và mức độ người dân thực sự được thụ hưởng.

V. KẾT LUẬN

Bộ tiêu chí giai đoạn 2026–2030 mở ra một chặng phát triển mới của nông thôn Thủ đô, với trọng tâm chuyển từ mở rộng phạm vi đạt chuẩn sang nâng cao chất lượng và duy trì bền vững kết quả. Đây không nên trở thành cuộc chạy đua mới về danh hiệu, mà cần được tổ chức như quá trình phát huy nguồn lực nội sinh, hoàn thiện năng lực quản trị và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa bàn.

Khi tiêu chí được áp dụng phù hợp với đặc thù, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh gắn với nhu cầu thực tế, còn hiệu quả được đo bằng chất lượng sống của người dân, nông thôn Hà Nội sẽ có điều kiện phát triển theo hướng hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc. Đó là nền tảng để khu vực nông thôn tham gia chủ động hơn vào quá trình xây dựng Thủ đô phát triển cân bằng, bao trùm và bền vững./.

ThS. Nguyễn Trọng Hiếu