07/09/2026 lúc 11:57 (GMT+7)
Breaking News

Kiến tạo không gian phát triển cho kinh tế tư nhân: Từ thực tiễn Phú Thọ

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân, xác định đây là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Thực tiễn tại Phú Thọ cho thấy, khi chủ trương được cụ thể hóa bằng trách nhiệm rõ ràng, thủ tục thuận lợi và đối thoại thực chất, doanh nghiệp có thêm điều kiện đầu tư, tích lũy năng lực, mở rộng sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh.
Từ đổi mới phương thức quản trị đến mở đường cho kinh tế tư nhân phát triển.

I. TỪ NGHỊ QUYẾT ĐẾN MỘT PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ MỚI

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức về vị trí của khu vực này trong nền kinh tế. Kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời được kỳ vọng trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo điều kiện để doanh nghiệp gia nhập và mở rộng hoạt động, mà còn phải hình thành môi trường thuận lợi để khu vực tư nhân tích lũy năng lực, đổi mới và phát triển bền vững.

Từ góc độ quản trị nhà nước, định hướng đó đòi hỏi tiếp tục đổi mới phương thức điều hành theo hướng kiến tạo và phục vụ phát triển. Nhà nước kiến tạo không có nghĩa là làm thay doanh nghiệp hoặc quyết định thay doanh nghiệp phải đầu tư vào đâu, sản xuất như thế nào. Vai trò cốt lõi của Nhà nước là tạo lập và duy trì một “luật chơi” minh bạch, ổn định; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản, cạnh tranh bình đẳng và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển. Theo tinh thần Nghị quyết 68, những điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và thông tin cần tiếp tục được tháo gỡ để doanh nghiệp có điều kiện hành động thực chất.

Việc hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình càng làm rõ yêu cầu này. Tỉnh Phú Thọ mới có không gian phát triển rộng hơn, nhưng đồng thời phải bảo đảm bộ máy vận hành ổn định, không làm gián đoạn hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và từng bước hình thành một không gian quản trị thống nhất. Theo số liệu đã được tỉnh công bố, năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Phú Thọ tăng 10,52%; riêng quý I/2026 có khoảng 1.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và khoảng 450 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Những kết quả này cho thấy sức sống của khu vực doanh nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh.

Vấn đề then chốt, vì vậy, là chuyển những định hướng của Nghị quyết 68 thành điều kiện phát triển cụ thể, để doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn, tích lũy năng lực và chủ động đổi mới. Khi chất lượng quản lý được thể hiện qua khả năng tháo gỡ rào cản và mở rộng cơ hội phát triển, phương thức quản trị nhà nước mới thực sự mang nội hàm kiến tạo.

II. KIẾN TẠO ĐƯỢC ĐO BẰNG KHẢ NĂNG THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN

Một nghị quyết chỉ thực sự đi vào đời sống kinh tế khi những định hướng ở tầm vĩ mô được chuyển hóa thành công việc có địa chỉ, có người chịu trách nhiệm và có thời hạn hoàn thành. Ngày 15/8/2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ ban hành kế hoạch hành động, thành lập Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân và ban hành quy chế hoạt động. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh cụ thể hóa Nghị quyết 68 thành 108 nhiệm vụ, đồng thời xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và thời hạn thực hiện.

Về phương diện quản trị, đây là bước chuyển từ chủ trương chính trị thành chương trình hành động có thể theo dõi và kiểm chứng. Việc “địa chỉ hóa” chính sách góp phần thu hẹp khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả, bởi mỗi nhiệm vụ và điểm nghẽn khi được nhận diện đều phải gắn với một chủ thể chịu trách nhiệm giải quyết.

Ở cấp cơ sở, yêu cầu kiến tạo được thể hiện qua năng lực xử lý những vấn đề cụ thể của người dân và doanh nghiệp. Tại khu dân cư số 9, xã Đoan Hùng, nơi có 18 doanh nghiệp nhỏ và vừa, 65 hộ kinh doanh cá thể và khoảng 700 lao động với thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/người/tháng, tổ chức đảng và chính quyền cơ sở đã chủ động tuyên truyền, hướng dẫn và kết nối các chủ thể kinh tế với chính sách. Trường hợp này cho thấy một nghị quyết ở cấp Trung ương chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành năng lực hành động ngay từ cơ sở. Giá trị của chính sách được thể hiện ở khả năng giúp người dân và doanh nghiệp nhận diện rõ quyền lợi, nghĩa vụ và những nguồn lực có thể tiếp cận.

Cải cách thủ tục hành chính cần được nhìn từ chi phí thực tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra. Mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian xử lý, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh chỉ có ý nghĩa khi được phản ánh trong từng trải nghiệm giao dịch cụ thể. Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thiết lập các kênh tiếp nhận kiến nghị, rà soát 1.367 văn bản còn hiệu lực sau sáp nhập, bãi bỏ những quy định không còn phù hợp và ban hành các quy định phục vụ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đều hướng tới giảm chi phí thể chế mà doanh nghiệp phải gánh chịu.

Xét cho cùng, một thủ tục tốt không chỉ phải đúng quy định, mà còn cần giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí và rủi ro khi thực hiện quyết định kinh doanh. Điều đó đòi hỏi quá trình cải cách phải đi từ việc đơn giản hóa thành phần hồ sơ đến phối hợp giữa các cơ quan, chuẩn hóa quy trình và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ thực thi.

Đối thoại, cải cách hành chính và chuyển đổi số cũng cần được đánh giá bằng kết quả đầu ra. Đối thoại chỉ có ý nghĩa khi kiến nghị được tiếp nhận, phân loại, giao đúng cơ quan xử lý và phản hồi bằng kết quả cụ thể. Trong không gian hành chính mới sau sáp nhập, chuyển đổi số tiếp tục là công cụ giúp giảm khoảng cách giao dịch giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp. Sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận, xử lý trực tuyến đạt 96,1%; tỷ lệ kết quả được trả điện tử đạt 96,74%; toàn bộ thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới được tiếp nhận trên phạm vi toàn tỉnh.

Những con số này phản ánh mức độ số hóa và khả năng giảm sự phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, qua đó hỗ trợ hình thành một không gian hành chính thống nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến mới là thước đo ban đầu. Hiệu quả thực chất còn phải được xem xét qua thời gian giải quyết, số lần người dân và doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ, khả năng phối hợp giữa các cơ quan và mức độ hài lòng của chủ thể sử dụng dịch vụ.

Kiến tạo không phải là làm thay doanh nghiệp, càng không phải tạo ra những ưu đãi tách rời cơ chế thị trường. Cốt lõi của kiến tạo là giúp doanh nghiệp giảm nguồn lực phải dành cho những rào cản không tạo ra giá trị, để nguồn lực ấy được chuyển sang đầu tư, công nghệ, sản xuất và mở rộng thị trường. Khi chính sách được “địa chỉ hóa”, thủ tục được rút ngắn, kiến nghị được xử lý và giao dịch được số hóa, chất lượng quản trị nhà nước bắt đầu được phản ánh qua chính khả năng hành động của khu vực tư nhân.

III. NÂNG CAO NĂNG LỰC NỘI SINH CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế và thủ tục là điều kiện cần để khu vực tư nhân hoạt động thuận lợi hơn. Mục tiêu sâu xa của một môi trường quản trị kiến tạo là tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy năng lực và từng bước mở rộng quy mô. Điều này đặc biệt quan trọng khi khoảng 97% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi những hạn chế về vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi cung ứng vẫn là những trở ngại đáng kể. Hiệu quả chính sách, vì vậy, không chỉ được đo bằng số doanh nghiệp thành lập mới, mà còn phải thể hiện ở khả năng doanh nghiệp tồn tại, phát triển và nâng cao sức cạnh tranh.

Từ góc độ đó, trọng tâm chính sách cần được mở rộng từ hỗ trợ gia nhập thị trường sang tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy năng lực. Một doanh nghiệp chỉ thực sự có khả năng tăng trưởng khi từng bước xây dựng được nền tảng về vốn, công nghệ, nhân lực, thị trường và năng lực quản trị tương ứng với quy mô mới. Nhà nước có thể tháo gỡ thủ tục, tạo điều kiện tiếp cận nguồn lực hoặc mở rộng cơ hội thị trường, nhưng không thể tích lũy những năng lực đó thay doanh nghiệp.

Trong quá trình ấy, niềm tin thể chế trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng. Một quyết định đầu tư dài hạn luôn gắn với những kỳ vọng về thị trường, chi phí và môi trường pháp lý trong tương lai. Doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư vào công nghệ, mở rộng sản xuất hoặc xây dựng thị trường nếu quy định thiếu ổn định, thông tin chưa minh bạch và khả năng thực thi khó dự đoán.

Bởi vậy, cải cách thể chế không chỉ nhằm xử lý hồ sơ nhanh hơn; sâu xa hơn, còn phải làm giảm mức độ bất định mà doanh nghiệp đối mặt khi đưa ra các quyết định dài hạn. Công khai quy hoạch, bảo đảm quyền tài sản, duy trì cạnh tranh bình đẳng và nâng cao tính nhất quán của chính sách vì thế trở thành những bộ phận quan trọng của năng lực kiến tạo.

Các cơ chế như “Cà phê doanh nhân”, “luồng xanh”, tổ công tác hỗ trợ doanh nghiệp và những kênh tiếp nhận phản hồi có thể được nhìn nhận như các thiết chế kết nối giữa chính quyền với thị trường. Giá trị của những cơ chế này nằm ở khả năng giúp chính quyền nhận diện vấn đề từ thực tiễn, xác định rõ trách nhiệm xử lý và phản hồi kết quả cho doanh nghiệp. Khi được vận hành đúng, quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp có thể chuyển dần từ cơ chế “xin – cho” sang phối hợp trên nền tảng luật chơi minh bạch, trong đó chính quyền tạo lập điều kiện còn doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội.

Tuy nhiên, vai trò kiến tạo của Nhà nước cũng cần được xác định bằng những giới hạn rõ ràng. Chính quyền có trách nhiệm tháo gỡ rào cản thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực một cách công bằng; doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, nhân lực, phát triển thị trường và sức cạnh tranh. Sự phân định đó giúp tránh cả hai khuynh hướng: Nhà nước can thiệp quá sâu vào quyết định kinh doanh hoặc doanh nghiệp phụ thuộc vào hỗ trợ hành chính.

Nghị quyết 68 chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi năng lực kiến tạo của chính quyền gặp được tinh thần chủ động và năng lực hành động của doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện để những hỗ trợ về thủ tục, nguồn lực và thị trường không dừng ở giải quyết khó khăn trước mắt, mà góp phần hình thành một khu vực tư nhân có khả năng tự đổi mới và phát triển trong dài hạn.

IV. KẾT LUẬN

Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định và nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức quản trị nhà nước. Thực tiễn tại Phú Thọ cho thấy, “mở đường” cho doanh nghiệp phải được chuyển hóa thành trách nhiệm cụ thể, cải cách thực chất, đối thoại hiệu quả và năng lực tháo gỡ điểm nghẽn.

Tuy nhiên, đó mới là bước khởi đầu. Mục tiêu sâu hơn là xây dựng môi trường minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, tích lũy năng lực và nâng cao sức cạnh tranh. Khi Nhà nước thực hiện đúng vai trò kiến tạo, còn doanh nghiệp chủ động đổi mới và nắm bắt cơ hội, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân mới có thể chuyển hóa đầy đủ thành năng lực phát triển và động lực tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế./.

ThS. Phạm Hải Nam