15/08/2026 lúc 22:14 (GMT+7)
Breaking News

Cơ chế tài chính mới: “bệ phóng” để công nghệ chiến lược bứt phá

Tóm tắt: Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN đang mở ra một cách tiếp cận mới trong sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước cho nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược. Từ trả thù lao theo vị trí việc làm, thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường, quản lý kinh phí theo gói công việc và mốc kết quả đến chấp nhận rủi ro có kiểm soát, cơ chế mới không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về tài chính mà còn từng bước chuyển phương thức quản lý khoa học và công nghệ từ kiểm soát đầu vào sang quản trị theo kết quả. Đây có thể xem là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam hình thành năng lực làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh quốc gia.

Chip bán dẫn một trong 6 sản phẩm chiến lược trọng điểm. Ảnh: TL

Bước chuyển từ “quản lý kinh phí” sang “đầu tư cho kết quả”

Trong tiến trình phát triển đất nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò trực tiếp đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đặc biệt, khi cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu chuyển mạnh sang những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, lượng tử, vật liệu tiên tiến hay công nghệ hàng không - vũ trụ, năng lực nghiên cứu đơn thuần không còn đủ. Điều quyết định là khả năng biến tri thức thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và năng lực sản xuất có sức cạnh tranh.

Trong bối cảnh đó, bài toán tài chính cho khoa học, công nghệ cũng phải được nhìn nhận khác trước. Những công nghệ có tính chiến lược thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian nghiên cứu dài, nhân lực đặc biệt và mức độ rủi ro cao. Một dự án có thể trải qua nhiều lần thử nghiệm, thất bại ở một hướng tiếp cận nhưng lại mở ra một giải pháp công nghệ mới. Nếu cơ chế tài chính chỉ chú trọng kiểm soát từng khoản chi đầu vào, áp dụng cứng nhắc các định mức và yêu cầu chắc chắn về kết quả ngay từ đầu, hoạt động nghiên cứu khó có thể tạo ra những đột phá mang tính tiên phong.

Đây chính là vấn đề mà Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN hướng tới giải quyết. Văn bản quy định cơ chế tài chính đối với các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Theo đó, cách thức sử dụng ngân sách được thiết kế theo hướng linh hoạt hơn, gắn nguồn lực với vị trí công việc, gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra.

Điểm đáng chú ý là cơ chế mới không đơn thuần là điều chỉnh một số định mức chi. Về bản chất, đây là sự thay đổi trong tư duy phân bổ và quản trị nguồn lực. Nhà nước không chỉ đặt câu hỏi “chi bao nhiêu, chi vào nội dung nào” mà ngày càng phải quan tâm đến câu hỏi “nguồn lực đó tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị gì”.

Sự thay đổi này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đồng thời, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, xác lập danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, đã tạo thêm cơ sở để tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt đối với năng lực tự chủ công nghệ của đất nước. Danh mục gồm 10 nhóm như công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, công nghệ biển - đại dương - lòng đất, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.

Như vậy, khung chính sách đang dần hình thành một chuỗi tương đối rõ: xác định công nghệ chiến lược, xác định nhiệm vụ trọng tâm, thiết kế cơ chế tài chính đặc thù và hướng tới sản phẩm cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để tránh tình trạng nguồn lực bị phân tán vào quá nhiều nhiệm vụ nhỏ, thiếu khả năng tạo ra tác động lớn.

Đầu tư cho công nghệ trước hết là đầu tư cho con người

Một trong những điểm mới nổi bật của Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN là cơ chế thù lao cho nhân lực thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Theo đó, thay vì chủ yếu căn cứ vào chức danh hành chính hoặc ngày công, thù lao được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra.

Mức trần được thiết kế theo từng vị trí. Tổng công trình sư có thể được hưởng tối đa 300 triệu đồng/tháng; chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng; các thành viên chính tối đa 100-120 triệu đồng/tháng; thành viên trực tiếp thực hiện từ 70-90 triệu đồng/tháng; kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng. Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán, không phải mức thu nhập mặc nhiên của mọi cá nhân.

Ý nghĩa của chính sách không nằm ở con số 300 triệu đồng/tháng, mà ở việc lần đầu tiên cơ chế tài chính công nghệ chiến lược tiếp cận mạnh hơn với logic của thị trường nhân lực khoa học - công nghệ. Trong một lĩnh vực mà chất lượng của một số ít chuyên gia đầu ngành có thể quyết định thành bại của cả nhiệm vụ, việc không thể trả công tương xứng sẽ khiến khu vực công khó cạnh tranh trong thu hút nhân tài.

Thực tế, công nghệ chiến lược thường không thể được phát triển chỉ bằng một nhóm nghiên cứu thuần túy. Một dự án bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, vật liệu mới hay công nghệ lượng tử có thể đòi hỏi sự phối hợp của nhà khoa học cơ bản, kỹ sư thiết kế, chuyên gia hệ thống, chuyên gia sản xuất, chuyên gia sở hữu trí tuệ, chuyên gia thị trường và các nhà quản trị công nghệ. Do đó, cơ chế trả thù lao theo vị trí và trách nhiệm tạo điều kiện hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành, trong đó mỗi thành viên được đánh giá theo giá trị thực tế đóng góp cho nhiệm vụ.

Đáng chú ý hơn, Thông tư cho phép thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài theo cơ chế thỏa thuận, căn cứ vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm, phạm vi công việc, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế. Trường hợp cần thiết, mức thuê chuyên gia có thể lên tới mức thù lao tối đa của Tổng công trình sư.

Cơ chế này mở ra khả năng huy động nguồn lực trí tuệ toàn cầu thay vì chỉ dựa vào nguồn nhân lực sẵn có trong nước. Đối với những lĩnh vực Việt Nam đang ở giai đoạn đầu, đây là giải pháp cần thiết để rút ngắn khoảng cách về tri thức, đồng thời tạo điều kiện cho đội ngũ trong nước học hỏi, tiếp nhận và từng bước làm chủ công nghệ.

Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần tránh tư duy coi mức thù lao cao đồng nghĩa với hiệu quả cao. Thu nhập phải gắn với trách nhiệm, sản phẩm, tiến độ và chất lượng công việc. Cơ chế hậu kiểm, đánh giá độc lập và công khai kết quả vì thế phải được thiết kế đồng bộ với cơ chế đãi ngộ.

Quản lý theo “gói công việc” và “mốc kết quả”

Nếu chính sách nhân lực là một trong những điểm đột phá, thì phương thức quản lý kinh phí theo “gói công việc” (Work Package) và “mốc đánh giá” (Milestone) có thể xem là thay đổi mang tính nền tảng.

Theo cơ chế này, mỗi gói công việc phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Dự toán của toàn bộ nhiệm vụ được hình thành từ các gói công việc và tổng hợp theo các mốc đánh giá. Kết quả tại từng mốc là căn cứ để thanh toán, quyết toán và xem xét cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.

Đây là cách tiếp cận gần với quản trị dự án công nghệ hiện đại. Một nhiệm vụ nghiên cứu lớn không còn được xem như một “khối” kéo dài nhiều năm, mà được chia thành những chặng có mục tiêu và kết quả có thể kiểm chứng.

Điều này đem lại ít nhất ba lợi ích.

Thứ nhất, tăng tính minh bạch của nguồn lực. Mỗi khoản kinh phí được gắn với một công việc và sản phẩm cụ thể, qua đó dễ xác định trách nhiệm của tổ chức, nhóm nghiên cứu và người phụ trách.

Thứ hai, tăng khả năng điều chỉnh trong quá trình nghiên cứu. Nếu một hướng công nghệ không còn phù hợp, có thể điều chỉnh hoặc dừng thay vì tiếp tục cấp kinh phí chỉ vì nhiệm vụ đã được phê duyệt từ đầu.

Thứ ba, giảm khoảng cách giữa nghiên cứu và kết quả thực tế. Khi mỗi mốc đều gắn với sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật hoặc bằng chứng về tiến độ công nghệ, nhóm nghiên cứu buộc phải quan tâm nhiều hơn tới khả năng ứng dụng.

Cơ chế “Go/No-Go” tại các mốc đánh giá cũng rất đáng chú ý. Đây là cách quản trị phổ biến trong các dự án công nghệ có mức độ bất định cao: một hướng nghiên cứu được tiếp tục khi đạt yêu cầu, được điều chỉnh khi có dấu hiệu cần cải thiện và có thể dừng nếu không còn triển vọng.

Điều này giúp thay đổi quan niệm về thất bại trong nghiên cứu. Một phương án bị dừng ở giữa chặng không nhất thiết đồng nghĩa với thất bại về mặt chính sách nếu kết quả đó giúp loại bỏ một hướng công nghệ kém hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực cho những hướng có triển vọng hơn.

Cho phép “đi nhiều đường” để tìm công nghệ tốt nhất

Một đặc điểm của công nghệ chiến lược là không phải lúc nào ngay từ đầu cũng có thể xác định chính xác con đường công nghệ tối ưu. Có thể tồn tại nhiều phương án khác nhau cùng hướng tới một mục tiêu.

Thông tư số 49 cho phép trong trường hợp một bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, có thể triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập cùng hướng tới một mục tiêu và bộ tiêu chí đánh giá. Các phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng, thanh toán và quyết toán riêng; sau mỗi mốc sẽ được đánh giá, sàng lọc. Đây là một cách tiếp cận phù hợp với bản chất của đổi mới sáng tạo.

Nếu Nhà nước chỉ tài trợ một phương án duy nhất ngay từ đầu, rủi ro chọn sai công nghệ sẽ rất lớn. Ngược lại, nếu cho phép nhiều phương án cạnh tranh ở giai đoạn đầu và chỉ tập trung nguồn lực cho phương án chứng minh được ưu thế, khả năng hình thành công nghệ có sức cạnh tranh sẽ cao hơn. Từ góc độ chính sách công, đây cũng là sự chuyển dịch từ “chọn người thắng trước” sang “tạo môi trường để kết quả lựa chọn người thắng”.

Tuy nhiên, cơ chế này chỉ hiệu quả nếu tiêu chí đánh giá thực sự khách quan và có năng lực chuyên môn đủ mạnh. Việc lựa chọn phương án công nghệ không thể chỉ dựa vào báo cáo hành chính mà cần có hội đồng chuyên gia, đánh giá kỹ thuật độc lập và trong những lĩnh vực phù hợp có thể sử dụng các chuẩn mực quốc tế.

Chấp nhận rủi ro để khuyến khích đổi mới sáng tạo

Một trong những điểm nghẽn lớn của hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ là tâm lý sợ rủi ro. Đặc biệt đối với nguồn vốn nhà nước, nếu mọi kết quả không đạt kỳ vọng đều bị nhìn nhận theo cách “đã chi tiền nhưng không tạo ra sản phẩm”, các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu sẽ có xu hướng lựa chọn những đề tài an toàn, ít rủi ro, thay vì những bài toán khó có khả năng tạo đột phá. Trong khi đó, bản chất của nghiên cứu công nghệ tiên phong là bất định. Không có cơ chế nào có thể bảo đảm mọi khoản đầu tư nghiên cứu đều thành công.

Thông tư số 49 đã bước đầu giải quyết vấn đề này khi quy định trường hợp nhiệm vụ thuộc diện rủi ro được chấp nhận theo pháp luật thì tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung, đúng phạm vi và đúng quy định. Ngược lại, phần kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc vi phạm quy định vẫn phải hoàn trả và hành vi gian lận, cố ý vi phạm vẫn bị xử lý. Đây là ranh giới rất quan trọng: chấp nhận rủi ro công nghệ không đồng nghĩa với chấp nhận sai phạm tài chính.

Một chính sách tài chính tiến bộ phải phân biệt rõ hai loại rủi ro. Rủi ro thứ nhất là rủi ro khách quan của nghiên cứu: giả thuyết không đúng, công nghệ chưa đạt thông số, thử nghiệm không thành công hoặc thị trường thay đổi. Rủi ro thứ hai là rủi ro do quản lý yếu kém, sử dụng tiền sai mục đích, gian lận hoặc cố ý vi phạm. Chỉ khi phân biệt được hai loại rủi ro này, Nhà nước mới vừa tạo được không gian sáng tạo vừa bảo đảm kỷ luật ngân sách.

Huy động doanh nghiệp cùng tham gia từ đầu

Một hạn chế phổ biến của hoạt động nghiên cứu trước đây là khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường. Một kết quả nghiên cứu có thể có giá trị khoa học nhưng chưa chắc tạo ra sản phẩm thương mại.

Đối với công nghệ chiến lược, khoảng cách này càng cần được thu hẹp bởi mục tiêu cuối cùng không chỉ là công bố khoa học mà còn phải hình thành năng lực công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp.

Thông tư số 49 mở rộng khả năng huy động nguồn lực đối ứng của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Phần đối ứng không nhất thiết chỉ là tiền mà có thể bao gồm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng công nghệ, phần mềm, tài sản vô hình và chi phí nhân lực trực tiếp. Cách thiết kế này có ý nghĩa lớn đối với việc hình thành hệ sinh thái công nghệ.

Doanh nghiệp có thể tham gia ngay từ giai đoạn xác định bài toán, cùng viện nghiên cứu và trường đại học thiết kế nhiệm vụ, cung cấp hạ tầng thử nghiệm, dữ liệu, thiết bị hoặc nhân lực. Khi sản phẩm hoàn thiện, doanh nghiệp cũng chính là chủ thể có khả năng tiếp nhận, sản xuất và thương mại hóa. Qua đó, ngân sách nhà nước có thể đóng vai trò “vốn mồi”, thay vì phải gánh toàn bộ chi phí của quá trình phát triển công nghệ.

Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, viện - trường cung cấp tri thức, doanh nghiệp dẫn dắt nhu cầu thị trường và đầu tư vào thương mại hóa.

Từ cơ chế tài chính đến năng lực tự chủ công nghệ quốc gia

Nhìn rộng hơn, Thông tư số 49 không nên được xem như một chính sách tài chính đơn lẻ. Nó là một mắt xích trong quá trình hình thành hệ thống chính sách mới về công nghệ chiến lược.

Việc xác định danh mục công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã tạo “địa chỉ” ưu tiên cho nguồn lực. Việc giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và định hướng giải quyết các “bài toán lớn” tạo ra mục tiêu cụ thể. Cơ chế tài chính mới tiếp tục giải quyết câu hỏi làm thế nào để tiền, nhân lực và nguồn lực xã hội được vận hành linh hoạt hơn để đạt mục tiêu đó.

Theo logic này, hiệu quả của chính sách tài chính cần được đo ở tầng cao hơn mức giải ngân. Những chỉ tiêu quan trọng hơn phải là số công nghệ được làm chủ, số sản phẩm đạt tiêu chuẩn, số bằng sáng chế và tài sản trí tuệ được hình thành, số doanh nghiệp công nghệ có khả năng cạnh tranh, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mức độ tham gia của doanh nghiệp và khả năng thay thế công nghệ nhập khẩu.

Đặc biệt, với những lĩnh vực có ý nghĩa an ninh, quốc phòng hoặc liên quan đến hạ tầng thiết yếu, năng lực tự chủ công nghệ còn có ý nghĩa chiến lược đối với chủ quyền và sức chống chịu quốc gia. Vì vậy, nguồn lực dành cho công nghệ chiến lược cần được nhìn như một khoản đầu tư dài hạn chứ không đơn thuần là một khoản chi ngân sách.

Cần tiếp tục hoàn thiện “hệ sinh thái” đi cùng cơ chế tài chính

Dù Thông tư số 49 tạo ra nhiều điểm mới, để chính sách đi vào thực chất vẫn cần đồng bộ với những điều kiện khác.

Trước hết, phải nâng cao chất lượng xác định bài toán công nghệ. Không phải mọi nhiệm vụ đều có thể gọi là “chiến lược”. Nếu danh mục nhiệm vụ quá rộng hoặc tiêu chí lựa chọn chưa rõ, nguồn lực sẽ lại bị phân tán. Các bài toán cần được xác định trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, lợi thế quốc gia, xu hướng công nghệ quốc tế và khả năng hình thành thị trường.

Thứ hai, cần xây dựng hệ thống đánh giá độc lập và chuyên nghiệp. Khi chuyển từ kiểm soát đầu vào sang quản trị theo kết quả, năng lực đánh giá đầu ra trở thành yếu tố quyết định. Nếu đánh giá không đủ chuyên môn, cơ chế khoán chi và tự chủ có thể phát sinh rủi ro.

Thứ ba, cần kết nối tài chính nghiên cứu với tài chính thương mại hóa. Một công nghệ vượt qua giai đoạn nghiên cứu nhưng thiếu vốn để sản xuất thử nghiệm, chứng nhận, xây dựng dây chuyền hoặc mở rộng thị trường vẫn có thể “chết” trước cửa thương mại hóa. Do đó, chính sách tài chính cần tạo một chuỗi liên tục từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa.

Thứ tư, cần phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược. Nhà nước có thể đóng vai trò khách hàng đầu tiên thông qua cơ chế đặt hàng, mua sắm công và các chương trình ứng dụng công nghệ trong khu vực công. Đây là cách tạo thị trường ban đầu để doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện sản phẩm.

Thứ năm, phải coi sở hữu trí tuệ và dữ liệu là một bộ phận của tài sản công nghệ. Một công nghệ được tạo ra từ nguồn lực nhà nước cần có cơ chế rõ ràng về quyền sở hữu, quyền khai thác, chuyển giao và phân chia lợi ích. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này, kết quả nghiên cứu khó trở thành tài sản kinh tế thực sự.

Kiến nghị một số định hướng

Từ những thay đổi của cơ chế tài chính mới, có thể cân nhắc một số định hướng để nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới.

Một là, xây dựng cơ chế “ngân sách theo danh mục công nghệ ưu tiên”, trong đó nguồn lực được phân bổ theo mức độ chiến lược, khả năng tạo tác động và triển vọng thương mại hóa thay vì dàn đều.

Hai là, hình thành cơ chế tài trợ theo vòng đời công nghệ. Một nhiệm vụ có kết quả tốt cần có khả năng tiếp cận nhanh nguồn vốn cho giai đoạn tiếp theo, tránh tình trạng công nghệ bị đứt gãy giữa nghiên cứu và sản xuất.

Ba là, phát triển cơ chế đồng đầu tư công - tư cho các công nghệ có tiềm năng thương mại cao. Nhà nước có thể chia sẻ rủi ro ở giai đoạn đầu, trong khi doanh nghiệp tăng dần tỷ trọng đầu tư khi công nghệ chứng minh được khả năng thành công.

Bốn là, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia công nghệ chiến lược, bao gồm cả chuyên gia trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Khi có bài toán cụ thể, cơ quan chủ trì có thể nhanh chóng tìm kiếm và huy động chuyên gia phù hợp.

Năm là, tăng cường đánh giá sau đầu tư. Không chỉ đánh giá nhiệm vụ có hoàn thành đúng hợp đồng hay không, cần đánh giá tác động sau 3-5 năm: công nghệ có được ứng dụng không, doanh nghiệp có sử dụng không, doanh thu và năng suất tạo ra thế nào, mức độ thay thế nhập khẩu ra sao.

Sáu là, hình thành văn hóa chấp nhận thất bại có trách nhiệm trong nghiên cứu. Đây là điều kiện không thể thiếu để khuyến khích những hướng nghiên cứu có tính đột phá. Nhưng đi cùng với đó phải là văn hóa minh bạch, trung thực và giải trình đầy đủ.

Kết luận

Công nghệ chiến lược không thể phát triển bằng những cơ chế tài chính được thiết kế cho hoạt động nghiên cứu thông thường. Đặc tính phức tạp, dài hạn, liên ngành và rủi ro cao đòi hỏi một phương thức quản trị khác: đầu tư mạnh hơn cho con người, linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn lực, đánh giá chặt hơn về kết quả và chấp nhận những rủi ro khách quan của nghiên cứu.

Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN vì vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài việc điều chỉnh định mức chi. Những quy định về thù lao theo vị trí, thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường, quản lý theo gói công việc và mốc đánh giá, cho phép nhiều phương án công nghệ cùng cạnh tranh, bố trí dự phòng, huy động nguồn lực xã hội và xử lý rủi ro được chấp nhận đang góp phần hình thành một tư duy mới về sử dụng ngân sách cho khoa học, công nghệ.

Điều quan trọng trong giai đoạn tiếp theo là biến những cơ chế trên thành năng lực thực tế. Nếu nguồn lực tài chính được tập trung đúng vào những bài toán lớn; nhân lực giỏi được trao không gian và động lực đủ mạnh; doanh nghiệp tham gia từ đầu; các mốc kết quả được đánh giá thực chất; rủi ro được chấp nhận nhưng trách nhiệm giải trình không bị buông lỏng, Việt Nam có thể từng bước rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản phẩm.

Khi đó, ngân sách nhà nước không chỉ “chi cho khoa học”, mà thực sự trở thành vốn đầu tư chiến lược cho năng lực công nghệ quốc gia. Và giá trị lớn nhất của cơ chế tài chính mới không nằm ở số tiền được phân bổ, mà ở khả năng biến mỗi đồng nguồn lực công thành một bước tiến về công nghệ, một sản phẩm mới, một doanh nghiệp mới và cuối cùng là một phần năng lực tự chủ, cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

ThS Phạm Nguyên Bảo

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  2. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
  3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2026), Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
  4. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Cơ chế tài chính mới tạo đột phá cho công nghệ chiến lược”, ngày 11/8/2026.
  5. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Đặt hàng ‘bài toán lớn’, tăng tốc phát triển công nghệ chiến lược”, ngày 18/5/2026.
  6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2026), Các tài liệu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và phát triển công nghệ chiến lược.