Trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, xếp hạng tín nhiệm quốc gia là một trong những chỉ dấu quan trọng phản ánh mức độ tin cậy của nền kinh tế trên thị trường tài chính quốc tế. Đằng sau một mức xếp hạng không chỉ là khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của Chính phủ, mà còn là sự ghi nhận đối với ổn định kinh tế vĩ mô, năng lực tăng trưởng, sức khỏe của hệ thống tài chính, chất lượng quản trị và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của môi trường bên ngoài.
Từ cách tiếp cận đó, cải thiện xếp hạng tín nhiệm không nên được nhìn như việc theo đuổi một chỉ số riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành với việc củng cố các nền tảng phát triển dài hạn. Mỗi bước tiến về tăng trưởng, hiệu quả đầu tư, chất lượng tài chính công, an toàn hệ thống ngân hàng, minh bạch thông tin hay khả năng ứng phó với các thách thức mới đều góp phần tạo dựng nền tảng cho niềm tin của các nhà đầu tư và cộng đồng tài chính quốc tế.
Trong bối cảnh đó, việc Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030 có ý nghĩa thiết thực. Những điều chỉnh mới vừa cập nhật mục tiêu phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn 2026-2030, vừa mở rộng các giải pháp theo hướng gắn cải thiện tín nhiệm với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Mục tiêu đến năm 2030 đạt mức xếp hạng từ Baa3 đối với Moody’s hoặc BBB- đối với S&P và Fitch trở lên được đặt trong tổng thể các mục tiêu về tăng trưởng, tài chính công, tiền tệ, ngân hàng, xã hội và môi trường. Cách tiếp cận này cho thấy việc cải thiện tín nhiệm ngày càng được đặt trong một khung phát triển rộng hơn, nơi kết quả xếp hạng được hình thành từ chất lượng và sức bền của nhiều yếu tố cấu thành năng lực kinh tế quốc gia.
I. TỪ MỤC TIÊU NÂNG HẠNG ĐẾN CỦNG CỐ NỀN TẢNG TÍN NHIỆM
Mục tiêu đạt mức Baa3 của Moody’s hoặc BBB- của S&P và Fitch vào năm 2030 đưa Việt Nam hướng tới ngưỡng xếp hạng đầu tư. Đây không chỉ là một mục tiêu định lượng, mà còn thể hiện định hướng tiếp tục nâng cao chất lượng nền tảng kinh tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động các nguồn lực phục vụ phát triển.
Trên thực tế, xếp hạng tín nhiệm quốc gia được hình thành từ nhiều nhóm yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ. Bên cạnh các chỉ tiêu về nợ công, bội chi, tăng trưởng và ổn định tiền tệ, các tổ chức xếp hạng còn quan tâm tới triển vọng phát triển, năng lực quản trị, chất lượng chính sách, sức khỏe hệ thống tài chính và khả năng thích ứng trước những biến động.
Những kết quả tích cực về ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn trong thời gian qua tạo nền tảng quan trọng cho quá trình cải thiện tín nhiệm. Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục nâng cao tính minh bạch, chất lượng thông tin và khả năng dự báo của chính sách có ý nghĩa ngày càng rõ trong việc củng cố niềm tin của thị trường.

Xếp hạng tín nhiệm ngày càng gắn với chất lượng và triển vọng phát triển của nền kinh tế.
Điểm đáng chú ý của Quyết định 1919/QĐ-TTg là các mục tiêu về xếp hạng được đặt trong một hệ thống mục tiêu phát triển tương đối toàn diện. Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, cùng với các mục tiêu về tài khóa, ngân hàng, phát triển con người và môi trường, cho thấy mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa chất lượng tăng trưởng và năng lực tín nhiệm.
Từ góc độ này, nâng hạng tín nhiệm có thể được nhìn nhận trước hết như kết quả của quá trình nâng cao chất lượng phát triển. Tăng trưởng tạo thêm nguồn lực, nguồn lực được sử dụng hiệu quả góp phần củng cố nền tảng tài khóa, một hệ thống tài chính an toàn hỗ trợ sản xuất kinh doanh, trong khi môi trường đầu tư thuận lợi và năng lực chống chịu tốt hơn tạo thêm dư địa cho tăng trưởng dài hạn. Các yếu tố đó cùng hội tụ để tạo nên nền tảng của tín nhiệm quốc gia.
II. TÀI KHÓA VẪN LÀ TRỤC XƯƠNG SỐNG CỦA TÍN NHIỆM
Trong cấu trúc tín nhiệm quốc gia, tài chính công giữ vị trí quan trọng bởi gắn trực tiếp với năng lực thực hiện các nghĩa vụ tài chính của Nhà nước và khả năng tạo lập dư địa cho các chính sách phát triển. Quyết định 1919/QĐ-TTg đặt mục tiêu kiểm soát bội chi ngân sách bình quân giai đoạn 2026-2030 khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP và nợ Chính phủ không quá 50% GDP. Những chỉ tiêu này tạo nên khung định hướng cho việc duy trì nền tài chính công an toàn, chủ động và phù hợp với yêu cầu phát triển.
Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng cao và nhu cầu đầu tư lớn đòi hỏi chính sách tài khóa phải phát huy tốt hơn vai trò tạo động lực phát triển. Khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội được định hướng ở mức khoảng 40% GDP và đầu tư công chiếm 20-22%, hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực trở thành yếu tố có ý nghĩa đặc biệt.
Theo đó, định hướng mở rộng tài khóa có trọng tâm, tập trung vào các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia và có sức lan tỏa lớn mang ý nghĩa không chỉ về quy mô đầu tư, mà quan trọng hơn là chất lượng của dòng vốn. Nguồn lực công được định hướng vào những lĩnh vực có khả năng hình thành hạ tầng, mở rộng năng lực sản xuất, nâng cao năng suất và tạo thêm động lực cho khu vực tư nhân tham gia phát triển.
Đây cũng là cơ sở để gắn yêu cầu củng cố tài khóa với việc mở rộng cơ sở thu bền vững. Khi nền kinh tế phát triển theo hướng nâng cao năng suất, mở rộng sản xuất kinh doanh và hình thành những động lực tăng trưởng mới, nguồn thu ngân sách có thêm nền tảng ổn định. Qua đó, tài chính công có điều kiện thực hiện tốt hơn cả chức năng hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn tài khóa.
Cùng với việc theo dõi các chỉ tiêu nợ, quản lý danh mục nợ và chủ động nhận diện các nghĩa vụ tài chính tiềm ẩn cũng ngày càng có ý nghĩa. Việc tăng cường quản lý các nghĩa vụ liên quan đến bảo lãnh Chính phủ, PPP và doanh nghiệp nhà nước giúp nâng cao khả năng dự báo, chủ động xử lý các tình huống phát sinh và củng cố dư địa tài khóa trong trung, dài hạn.
Nhìn rộng hơn, yêu cầu về tài khóa trong cải thiện tín nhiệm không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định, mà là tìm kiếm sự hài hòa giữa hai mục tiêu. Một chính sách tài khóa chủ động, linh hoạt, có trọng tâm và gắn với hiệu quả đầu tư sẽ vừa hỗ trợ các động lực tăng trưởng, vừa góp phần duy trì nền tảng tài chính công bền vững.
III. SỨC KHỎE NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: CỦNG CỐ NỀN TẢNG TÀI CHÍNH QUỐC GIA
Cùng với tài khóa, hệ thống ngân hàng và khu vực doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng môi trường tài chính ổn định, qua đó hỗ trợ tăng trưởng và củng cố nền tảng tín nhiệm quốc gia.
Đối với ngân hàng, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, khả năng thích ứng và mức độ an toàn của hệ thống theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Việc Quyết định 1919-QĐ-TTg định hướng tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại đến năm 2030 đạt mức 8,625%, tiệm cận Basel III, cho thấy yêu cầu tăng cường nền tảng vốn và khả năng quản trị rủi ro được đặt trong tiến trình hội nhập sâu hơn với các thông lệ quốc tế.
Cùng với đó, điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, hướng nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Sự phối hợp chặt chẽ giữa thanh tra, giám sát và cấp phép cũng tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng vận hành an toàn, minh bạch và hiệu quả hơn.
Một nội dung đáng chú ý khác là nâng cao chất lượng thông tin về dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán và trạng thái đầu tư quốc tế. Khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng, khả năng cung cấp thông tin đầy đủ, thống nhất, kịp thời và có khả năng tiếp cận cao sẽ tạo điều kiện để các tổ chức quốc tế có cơ sở đánh giá toàn diện hơn về sức khỏe và triển vọng của nền kinh tế.
Theo hướng đó, việc nghiên cứu lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế của Việt Nam không chỉ phục vụ công tác xếp hạng tín nhiệm, mà còn góp phần nâng cao năng lực phân tích và quản trị kinh tế vĩ mô. Minh bạch và chất lượng dữ liệu vì thế ngày càng trở thành một bộ phận của năng lực quản trị trong nền kinh tế hiện đại.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc tiếp tục đổi mới quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước. Cùng với đó, việc tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, đầu tư vốn nhà nước sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò trong những lĩnh vực then chốt.
Những định hướng này có mối liên hệ với mục tiêu cải thiện tín nhiệm ở chỗ chúng góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng dự báo của khu vực tài chính công và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Khi các nguồn lực được quản trị hiệu quả hơn, nền kinh tế có thêm điều kiện củng cố sức mạnh nội tại và tạo dư địa cho phát triển dài hạn.
IV. TỪ ỔN ĐỊNH NỘI TẠI ĐẾN KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU: MỘT CHIỀU KÍCH MỚI CỦA TÍN NHIỆM
Một điểm đáng chú ý trong lần sửa đổi Đề án là việc đưa khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, an ninh năng lượng và các yếu tố ESG vào phạm vi giải pháp. Đây là sự mở rộng phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, trong đó chất lượng tăng trưởng ngày càng gắn chặt với khả năng thích ứng và phát triển bền vững.
Biến đổi khí hậu, thiên tai và những biến động môi trường có thể tạo ra những tác động dài hạn đối với cơ sở hạ tầng, sản xuất, đời sống và ngân sách. Vì vậy, chủ động quản trị rủi ro khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và nâng cao chất lượng môi trường không chỉ phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, mà còn góp phần củng cố khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Việc hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phát triển các tiêu chuẩn và thị trường tín chỉ các-bon, nâng cao chất lượng rừng, mở rộng các mô hình kinh tế lâm nghiệp đa giá trị và thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ môi trường cho thấy yêu cầu phát triển xanh đang từng bước được gắn với quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Trong một nền kinh tế có độ mở cao, khả năng thích ứng trước những thay đổi của thương mại quốc tế cũng có ý nghĩa quan trọng. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và đối tác đầu tư giúp mở rộng không gian phát triển, đồng thời tạo thêm khả năng linh hoạt khi môi trường kinh tế quốc tế thay đổi. Việc chủ động nắm bắt các quy định, tiêu chuẩn mới về môi trường, khí hậu và thương mại cũng giúp doanh nghiệp và nền kinh tế thích ứng tốt hơn với những yêu cầu mới của thị trường toàn cầu.
An ninh năng lượng cũng được đặt trong cùng một cách tiếp cận. Đa dạng hóa nguồn cung, phát triển hạ tầng năng lượng và nâng cao năng lực dự trữ góp phần bảo đảm nguồn năng lượng ổn định cho sản xuất và đời sống, đồng thời tăng khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động về nguồn cung và giá năng lượng.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu từng bước tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị vào quản trị quốc gia là một hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế. ESG không chỉ là một bộ tiêu chí phục vụ đánh giá của các nhà đầu tư, mà ngày càng gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch hóa thông tin và thúc đẩy phát triển bền vững.
Khi các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị được xem xét đầy đủ hơn trong quá trình hoạch định chính sách, nền kinh tế có thêm cơ sở để chủ động nhận diện những vấn đề có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng và khả năng chống chịu trong dài hạn. Đây cũng là cách tiếp cận giúp mở rộng nền tảng của tín nhiệm quốc gia từ những cân đối tài chính hiện tại sang triển vọng phát triển trong tương lai.
Cùng với việc hoàn thiện các chính sách, việc tổ chức công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng được kiện toàn theo hướng thống nhất và chủ động hơn. Việc giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức đánh giá, tiếp nhận và xử lý các yêu cầu cung cấp thông tin, tổng hợp kết quả và báo cáo Thủ tướng Chính phủ tạo điều kiện tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành.
Việc các cơ quan quản lý chủ động cung cấp thông tin, trao đổi với các tổ chức xếp hạng và tham gia các diễn đàn, hội nghị chuyên ngành cũng góp phần tạo dựng một kênh trao đổi thường xuyên, minh bạch và hiệu quả. Trong quá trình đó, thông tin được cung cấp đầy đủ và nhất quán sẽ giúp phản ánh rõ hơn những chuyển biến của nền kinh tế, cũng như những nỗ lực cải thiện chất lượng quản trị và phát triển.
Mục tiêu đạt mức Baa3 hoặc BBB- trở lên vào năm 2030 là một định hướng cụ thể trong quá trình tiếp tục cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Tuy nhiên, ý nghĩa sâu rộng hơn của việc sửa đổi Đề án nằm ở cách tiếp cận ngày càng toàn diện đối với những nền tảng tạo nên tín nhiệm. Từ tài khóa, ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước đến chất lượng dữ liệu, môi trường, năng lượng, thương mại và khả năng thích ứng, các yếu tố được đặt trong mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau.
Theo đó, xếp hạng tín nhiệm có thể được nhìn nhận như một kết quả phản ánh chất lượng phát triển của nền kinh tế. Tăng trưởng tạo thêm nguồn lực; nguồn lực được phân bổ hiệu quả góp phần củng cố nền tảng tài chính; hệ thống tài chính an toàn hỗ trợ sản xuất kinh doanh; dữ liệu minh bạch nâng cao chất lượng quản trị; còn khả năng thích ứng tốt hơn giúp mở rộng dư địa phát triển trong dài hạn.
Nếu xếp hạng tín nhiệm là sự phản chiếu niềm tin của thị trường vào năng lực của một quốc gia, thì nâng hạng bền vững trước hết phải bắt đầu từ việc tiếp tục củng cố những năng lực tạo nên niềm tin ấy. Sửa đổi Đề án đến năm 2030 vì vậy không chỉ hướng tới một mục tiêu xếp hạng cụ thể, mà còn góp phần hoàn thiện phương thức quản trị nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng.



