25/07/2024 lúc 22:11 (GMT+7)
Breaking News

Tiếp tục đề cao chủ quyền Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chủ quyền nhân dân là một đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Việc nhận thức và thể hiện chủ quyền nhân dân trong các bản Hiến pháp của Việt Nam không giống nhau và có những hạn chế nhất định. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã thể hiện chủ quyền nhân dân đầy đủ hơn so với các Hiến pháp trước đây. Tuy vậy, vấn đề thể hiện chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Kon rơ Bàng 2, xã Vinh Quang, TP.Kon Tum (13/4/2017). Ảnh: vnanet.vn

1. Khái quát về sự thể hiện chủ quyền nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam trước năm 2013

Điều 1 Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nhân dân Việt Nam là người chủ của đất nước, lần đầu tiên trong lịch sử, người dân được quyền bầu và bãi miễn những người đại diện cho mình: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền” (Điều 18); “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo Điều thứ 41 và 61” (Điều 20); đặc biệt Hiến pháp năm 1946 còn quy định là nhân dân Việt Nam được quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc hệ trọng của đất nước: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70” (Điều 21); việc “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây: a/ Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu... c/ những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều 70)… Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946 thì những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia, dân tộc, Nhân dân đều được quyền quyết định. Những quan điểm về chủ quyền nhân dân và sự thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 là khá đầy đủ và chặt chẽ.

Tư tưởng về chủ quyền nhân dân được tiếp tục quy định trong các bản hiến pháp Việt Nam như Hiến pháp năm 1959, năm 1980 và năm 1992, nhưng cách thức thể hiện đã khác đi. Chẳng hạn, Điều 4 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân”, Điều 6 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”... Các quy định trên cho thấy, nếu các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 đều quy định: “tất cả quyền lực (hoặc quyền bính) thuộc về nhân dân” thì Hiến pháp 1992 đã thu hẹp lại và chỉ quy định: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, nghĩa là, hiến pháp chỉ nói đến quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà không nói đến các quyền lực khác hay quyền lực nói chung thuộc về Nhân dân. Các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 của Việt Nam đều chỉ quy định hình thức dân chủ gián tiếp khi thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân: “Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” (Điều 4 Hiến pháp năm 1959, Điều 6 Hiến pháp năm 1980, Điều 6 Hiến pháp năm 1992) mà không quy định hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước trong những trường hợp nhất định khi có điều kiện.

Việc quy định hình thức dân chủ gián tiếp để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước cũng bị hạn chế; nghĩa là, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Với quy định như vậy, có thể hiểu nhân dân không sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan khác. Trong khi lý luận cũng như thực tiễn đều thừa nhận tất cả các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở đều nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước và đều phải đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và vì lợi ích của Nhân dân chứ không chỉ có Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Các hiến pháp nêu trên cũng không còn quy định “quyền phúc quyết của nhân dân đối với hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” như Hiến pháp năm 1946, mà chỉ quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội” (Điều 56 Hiến pháp năm 1980, hoặc “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 53 Hiến pháp năm 1992).

Điều 146 Hiến pháp năm 1980 và Điều 146 Hiến pháp năm 1992 đều quy định: “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”. Với quy định như vậy dễ dẫn đến sự hiểu lầm là Hiến pháp chỉ là luật cơ bản của Nhà nước, không thấy hết bản chất, nội dung rộng lớn của Hiến pháp với tư cách là “luật cơ bản” của Nhân dân, là “một văn bản duy nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển, hiến pháp là văn bản, là phương tiện pháp lý thể hiện tư tưởng của Đảng dưới hình thức những quy phạm pháp luật”[1]. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và năm 1959 không quy định Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, chỉ bắt đầu từ Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và năm 1992 mới có quy định trên. Cũng vì cho rằng Hiến pháp là “luật cơ bản của Nhà nước” nên trong nội dung của Hiến pháp có nhiều quy định theo hướng quá đề cao vai trò của “Nhà nước” so với “nước”, xem nhẹ vai trò của “nước” trong ban hành và sửa đổi Hiến pháp. Chẳng hạn, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Điều 83); “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật…” (khoản 2 Điều 84); “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp” (Điều 147)... Việc quy định “Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…” (Điều 35) hay “Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực…” (Điều 15) là nhấn mạnh quá mức vai trò của Nhà nước (là bộ máy quyền lực đặc biệt, được tổ chức chặt chẽ để thực thi chủ quyền quốc gia, tổ chức và quản lý xã hội bằng pháp luật, phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội và thực thi các cam kết quốc tế)[2] so với nước (là một vùng đất trong đó có những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị- xã hội và cùng thuộc về một nhà nước nhất định)[3].

Như vậy, Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 một mặt vẫn khẳng định chủ quyền nhân dân, luôn tuyên bố “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, nhưng mặt khác lại có những quy định làm cho chủ quyền nhân dân chưa được thể hiện đầy đủ, thậm chí có những nội dung còn bị thu hẹp so với Hiến pháp năm 1946.

2. Sự thể hiện chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp năm 2013

Theo tên gọi thì Hiến pháp của “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” phải được hiểu là của Nhân dân Việt Nam. Hiến pháp là văn bản đặc biệt thể hiện một cách tập trung nhất ý chí và những lợi ích cơ bản của Nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống nhà nước và đời sống xã hội. Nói cách khác, Hiến pháp được hiểu là một sự thỏa thuận của Nhân dân bằng văn bản trong việc thiết lập và thực hiện quyền lực công vì lợi ích chung của cả xã hội. Nhiều người ví Hiến pháp như “Bản khế ước xã hội” để Nhân dân thỏa thuận với nhau về việc tổ chức đời sống xã hội, thực hiện việc trao quyền (ủy quyền) và giới hạn quyền lực cho Nhà nước, cũng như của các thiết chế khác trong xã hội; quy định quyền con người, quy định quy chế pháp lý của công dân và của các cá nhân khác; quy định sự tham gia của các tổ chức phi nhà nước, của công dân vào việc thực hiện các công việc nhà nước và xã hội; quy định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội... của đất nước.

 Nhà nước được sinh ra từ xã hội để quản lý xã hội (đất nước), là tổ chức đại diện chính thức cho xã hội, thay mặt xã hội để duy trì trật tự xã hội, giữ cho xã hội ổn định và phát triển. Do vậy, “nước” và “nhà nước” là hai thực thể luôn gắn bó chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Chẳng hạn, Hiến pháp quy định: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại”; “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nên khi xét xử, Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ không phải nhân danh Nhà nước… Như vậy, chúng ta thấy Hiến pháp quy định nhiều thứ của “nước” ở phương diện này, nhưng đồng thời lại là của “nhà nước” ở phương diện khác và ngược lại. Nhà nước được thành lập và tồn tại trên một lãnh thổ với những dân cư nhất định, còn “nước” gồm lãnh thổ và dân cư thuộc về một “nhà nước” nhất định.

Trong Hiến pháp năm 2013 đã có sự nhận thức và thể hiện về chủ quyền nhân dân đầy đủ, chính xác hơn. Điều này đã được thể hiện trong Lời nói đầu và nhiều quy định của Hiến pháp. Cụ thể:

Thứ nhất, nếu trong Lời nói đầu của các Hiến pháp trước đây chỉ nhấn mạnh đến “nhân dân ra sức, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp…” thì lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Lời nói đầu của Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận Nhân dân là chủ thể xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp: “…Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ hai, Hiến pháp đã khẳng định vai trò làm chủ đất nước của Nhân dân Việt Nam là: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2), do vậy, “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (Điều 2). Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm: “bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3).

Thứ ba, Hiến pháp đã coi trọng hình thức dân chủ trực tiếp khi Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6). Có thể nói lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam đã quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng cả dân chủ đại diện. Và việc Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ đại diện cũng đã được mở rộng so với các Hiến pháp trước đây, là không chỉ “thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân” mà còn “thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Điều này là hoàn toàn chính xác bởi quyền lực nhà nước phải do tất cả các cơ quan nhà nước cùng thực hiện, chứ không chỉ có Quốc hội và Hội đồng nhân dân thực hiện.

Thứ tư, Hiến pháp đã ghi nhận: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29) là một quyền độc lập của công dân (Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Luật Trưng cầu ý dân năm 2015). Đồng thời Hiến pháp còn quy định: “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội Quyết định (Điều 120).

 Thứ năm, Hiến pháp đã bỏ quy định “Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước” và thay bằng quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý” (Điều 119). 

Thứ sáu, Hiến pháp không còn quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến nữa” mà quy định phù hợp hơn là: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69). Điều này được coi là hợp lý vì nói Hiến pháp của nước, nhưng không thể cả nước làm Hiến pháp được mà phải thông qua tầng lớp tinh hoa, những người đại diện cho Nhân dân làm ra, Nhân dân chỉ thực hiện việc quyết định cuối cùng có chấp nhận bản hiến pháp đó hay không.

Thứ bảy, Hiến pháp đã quy định trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp cho các cơ quan nhà nước và Nhân dân (Điều 119), quy định các chủ thể có quyền sáng kiến lập hiến và trình tự, thủ tục thông qua, công bố Hiến pháp (Điều 120).

Thứ tám, việc phân biệt giữa nước Việt Nam và Nhà nước Việt Nam trong Hiến pháp đã được chú ý hơn. Trong Hiến pháp đã bỏ và giảm bớt việc quá đề cao vai trò của Nhà nước so với nước theo tinh thần đề cao chủ quyền nhân dân, bằng việc quy định theo cách không có chủ ngữ (ngầm hiểu là Nhân dân), hoặc chủ ngữ là nước (Nhân dân) chứ không phải Nhà nước quy định. Chẳng hạn, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Điều 50) hay “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (Điều 51). Điều này cũng thể hiện tinh thần Nhà nước quản lý xã hội, Đảng lãnh đạo xã hội, còn Nhân dân mới thực sự là chủ của đất nước.

3. Một số hạn chế, bất cập và kiến nghị

-Một số hạn chế, bất cập

Trong Hiến pháp vẫn chưa thoát khỏi tư duy Hiến pháp “là luật cơ bản của nhà nước” nên sáng kiến lập hiến cũng chỉ quy định cho các cơ quan nhà nước: “Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” (Điều 120). Với quy định trên cho thấy vai trò của nước (Nhân dân) vẫn chưa được thể hiện rõ trong sáng kiến lập hiến (đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp).

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013: “Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” (khoản 4 Điều 120). Theo tinh thần của Điều 120 có thể hiểu là thủ tục thông qua Hiến pháp ở nước ta có thể xảy ra hai khả năng: thứ nhất, “Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” và không cần thêm hoạt động nào nữa; thứ hai, Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba số phiếu hợp lệ tán thành của một cuộc trưng cầu dân ý hợp lệ (cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được ít nhất ba phần tư tổng số cử tri cả nước có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu)[4]. Tuy nhiên, việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp là không bắt buộc mà phụ thuộc vào quyết định của Quốc hội.  

Câu hỏi đặt ra là: Khi nào thì Quốc hội sẽ tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của khoản 4 Điều 120 của Hiến pháp năm 2013. Câu trả lời có thể là: Một là, Quốc hội sẽ không trực tiếp thông qua Hiến pháp mà tổ chức trưng cầu ý dân về bản dự thảo Hiến pháp đã hoàn thành (có thể thông qua toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp như trong Luật Trưng cầu ý dân đã quy định). Đây là trường hợp Nhân dân trực tiếp thông qua Hiến pháp (dân chủ trực tiếp). Tuy nhiên, trường hợp này ít khi được tiến hành trong thực tiễn; hai là, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp với “ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”, nhưng rồi vì một lý do nào đó UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp (Điều 14 Luật Trưng cầu ý dân năm 2015), và Quốc hội thấy cần phải trưng cầu ý dân về bản Hiến pháp mà Quốc hội đã thông qua, thì sẽ ra quyết định trưng cầu ý dân. Và kết quả trưng cầu ý dân là quyết định cuối cùng về bản Hiến pháp.

Vấn đề là lý do để UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp lại không được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và trong Luật Trưng cầu ý dân năm 2015. Với những quy định như trên của Hiến pháp và của Luật Trưng cầu ý dân, có thể nói việc Quốc hội quyết định tổ chức trưng cầu ý dân đối với bản Hiến pháp mà Quốc hội đã thông qua gần như rất khó xảy ra. Vì, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp với ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì UBTVQH, một cơ quan của Quốc hội sẽ không thể đề nghị Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân; Chủ tịch nước và hầu hết các thành viên của Chính phủ cũng là đại biểu Quốc hội thì cũng khó lòng thuyết phục được Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý; nếu đã có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thông qua Hiến pháp thì rất khó “có ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội” đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp.  

Hiến pháp của Nhân dân thì Nhân dân phải là chủ thể giám sát cao nhất việc thực hiện Hiến pháp, đúng với tinh thần “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhưng Hiến pháp năm 2013 vẫn quy định: “Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp” (khoản 2 Điều 70)... Với những quy định trên cho thấy, chủ thể quyết định tối cao trong đất nước về Hiến pháp, về các vấn đề quan trọng của đất nước chưa phải là Nhân dân trực tiếp, mà vẫn thông qua Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

-Một vài kiến nghị

Thứ nhất, tiếp tục ban hành các văn bản luật chi tiết triển khai thi hành Hiến pháp theo tinh thần: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện... 

Thứ hai, tiếp tục nhận thức và thể hiện đầy đủ, triệt để hơn chủ quyền nhân dân trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Hiến pháp của nước thì sáng kiến lập hiến và việc sửa đổi hay ban hành Hiến pháp mới phải do nhân dân quyết định cuối cùng. Do vậy, sáng kiến lập hiến nên quy định do cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức không phải nhà nước đề xuất, nhưng chủ thể quyết định cuối cùng phải là Nhân dân, trừ những trường hợp do điều kiện khách quan không thể tổ chức trưng cầu ý dân được. Theo tác giả, chẳng hạn, “Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc có ít nhất một phần ba số tỉnh thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp”.

Thứ ba, cần quy định rõ hơn các vấn đề về trình tự, thủ tục phúc quyết của Nhân dân đối với Hiến pháp và cơ chế bảo vệ Hiến pháp ngay trong Hiến pháp. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, tổ chức việc soạn thảo Hiến pháp mới hoặc sửa đổi Hiến pháp hiện hành, tổ chức thông qua Hiến pháp mới hoặc Hiến pháp sửa đổi, song Nhân dân phải thực hiện việc phúc quyết bắt buộc của Nhân dân đối với Hiến pháp thông qua trưng cầu ý dân. Nói cách khác, nên khôi phục lại quyền phúc quyết Hiến pháp của Nhân dân theo Điều 21 của Hiến pháp năm 1946. Do vậy, có thể sửa đổi Điều 120 của Hiến pháp năm 2013 như sau: “Hiến pháp sau khi đã được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, thì phải đưa ra tổ chức trưng cầu ý dân”. Do vị trí và tính chất đặc biệt của Hiến pháp và điều kiện hiện nay ở nước ta, dân trí đã được nâng cao, dân chủ được mở rộng và củng cố thì thủ tục trưng cầu ý dân về Hiến pháp là cần thiết, nghĩa là, sau khi được Quốc hội thông qua, bản Hiến pháp cần được Nhân dân phúc quyết để cử tri cả nước biểu thị ý chí của mình đối với nội dung bản Hiến pháp, hoặc chí ít là những vấn đề quan trọng, còn nhiều tranh luận được quy định trong Hiến pháp.

Thứ tư, ghi nhận quyền giám sát tối cao về Hiến pháp của Nhân dân và thành lập thiết chế bảo vệ hiến pháp chuyên trách (Hội đồng Hiến pháp). Hội đồng Hiến pháp là một thiết chế hiến định độc lập không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước mà thay mặt Nhân dân căn cứ vào Hiến pháp, chỉ tuân theo Hiến pháp để giải thích Hiến pháp, bảo vệ Hiến pháp. Như đã trình bày ở trên, Hiến pháp thể hiện tập trung nhất ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, nên việc bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; những tổ chức, cá nhân ban hành văn bản hoặc có hành vi trái với Hiến pháp, tức là trái với ý chí của Nhân dân. Về nguyên tắc, Hội đồng Hiến pháp cần xem xét theo trình tự tư pháp tính hợp hiến trong văn kiện của tất cả các tổ chức và cá nhân để bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp, bảo đảm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bảo đảm Nhân dân thực sự làm chủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 GS-TS. NGUYỄN MINH ĐOAN

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1] Nguyễn Đình Lộc (1996), Sự ra đời và phát triển của hiến pháp trong lịch sử, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 77.  

[2] Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,  tr.35.

[3] Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 746.

[4] Điều 44 Luật Trưng cầu ý dân năm 2015.

...