
Đây không đơn thuần là việc học tập lý luận, mà là quá trình tự làm mới, tự chỉnh đốn để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng, bản lĩnh và đạo đức, từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển bền vững.
Nếu như từ Đại hội IV đến Đại hội VI, Đảng luôn khẳng định “Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân Việt Nam”, đến Đại hội VII, Đảng ta đã có phát triển nhận thức với việc phân biệt bản chất giai cấp của Đảng với vấn đề Đảng của ai? Đại hội VII lần đầu tiên khẳng định “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã có sự phát triển có tính bước ngoặt trong nhận thức về bản chất của Đảng với việc diễn đạt mới về Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Với diễn đạt mới về Đảng này, đã xác định rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng luôn mang bản chất của giai cấp công nhân, nhưng trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã xác định Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận trong nền tảng tư tưởng của Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra định nghĩa Tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.”. Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Bổ sung, phát triển các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng trong tình hình mới. Trên cơ sở các nguyên lý về cách tổ chức, hoạt động của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong quá trình cầm quyền từ năm 1975 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng Đảng Nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, từ 2 nguyên tắc ban đầu, Đảng đưa hệ thống nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng thành 5 nguyên tắc cho phù hợp yêu cầu tổ chức và hoạt động của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền. Đây là thành quả của quá trình hoạt động thực tiễn và phát triển lý luận xây dựng Đảng lâu dài của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, gắn liền hai mặt công tác này với nhau. Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vận động thành viên, hội viên, đoàn viên thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Tất cả hợp thành một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, không thể có Đảng trong sạch, vững mạnh khi các tổ chức khác trong hệ thống chính trị không trong sạch, vững mạnh. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống thực chất cũng là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phải gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị, nói cách khác, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là một chỉnh thể đi liền với nhau. Điều này thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, mối quan hệ, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng và xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị trong điều kiện mới.
Phát triển nhận thức về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; mối quan hệ giai cấp và dân tộc trong điều kiện đảng cầm quyền. Từ kinh nghiệm thực tiễn sau khi trở thành đảng cầm quyền trên phạm vi cả nước năm 1975 và quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự nhận thức và xử lý phù hợp hơn các vấn đề về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong tình hình mới. Một mặt Đảng vẫn luôn trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, tích cực ủng hộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế theo khả năng của mình, mặt khác, Đảng đã từng bước đổi mới chính sách đối ngoại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức, chính sách đối ngoại của Đảng với việc đề ra đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Nhờ bước đổi mới mạnh mẽ, kịp thời này đã giúp Đảng ta mở rộng quan hệ quốc tế, phá thế bao vây của của các thế lực thù địch. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng nhấn mạnh hơn việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Quan điểm chỉ đạo đó thể hiện rõ hơn sự vận dụng và phát triển sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ quốc tế của đảng cộng sản trong điều kiện đảng cầm quyền hiện nay.
Phát triển nhận thức về vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống đó. Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Phát triển nhận thức về những nguy cơ lớn đối với Đảng cầm quyền hiện nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: Sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.
Công tác phát triển và nâng cao nhận thức về xây dựng Đảng hiện nay được xác định là nhiệm vụ "then chốt của then chốt", mang ý nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của chế độ và sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Dưới đây là những nội dung cốt lõi về sự phát triển nhận thức đối với công tác xây dựng Đảng:
1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức
- Nhiệm vụ thường xuyên, liên tục: Việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng không chỉ diễn ra trong các giai đoạn khó khăn mà là công việc hàng ngày, giúp Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
- Thích ứng với kỷ nguyên mới: Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng và đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới (từ sau Đại hội XIV), nhận thức về xây dựng Đảng phải không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại số và hội nhập quốc tế.
2. Cấu trúc 5 trụ cột trong công tác xây dựng Đảng
Đảng ta đã phát triển lý luận, xác định cấu trúc công tác xây dựng Đảng gồm 5 mặt cơ bản; bao gồm:
- Chính trị: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
-Tư tưởng: Nâng cao tính chiến đấu, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.
- Đạo đức: Đây là nội dung quan trọng được bổ sung từ Đại hội XII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội XIII, nhấn mạnh chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
- Tổ chức: Tiếp tục đổi mới, kiện toàn bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Cán bộ: Đưa việc xây dựng đội ngũ cán bộ thành một mặt chủ yếu, tập trung vào những người "có đức, có tài", dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3. Những điểm mới trong nhận thức giai đoạn hiện nay
- Gắn xây dựng Đảng với năng lực cầm quyền: Nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ "chủ trương đúng" sang "kết quả thực chất", từ nói nhiều sang làm quyết liệt.
- Xây dựng Đảng trong kỷ nguyên số: Đảng viên phải tiên phong trong việc học tập và thực hành kỹ năng số, coi đây là nhiệm vụ chính trị để nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia.
- Lấy nhân dân làm trung tâm: Mọi hoạt động xây dựng Đảng đều hướng tới mục tiêu tối thượng là hạnh phúc của nhân dân và củng cố niềm tin của dân đối với Đảng.
4. Giải pháp nâng cao nhận thức
- Đổi mới công tác tuyên truyền: Sử dụng các phương thức hiện đại, ngắn gọn, dễ hiểu để đưa nghị quyết vào cuộc sống.
- Tăng cường tự phê bình và phê bình: Nhìn thẳng vào sự thật, kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" là nhiệm vụ chiến lược lâu dài.
- Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ: Đổi mới nội dung sinh hoạt theo hướng thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng địa phương, đơn vị.
Nâng cao nhận thức về xây dựng Đảng là một hành trình liên tục, không có điểm dừng. Khi mỗi cá nhân và tổ chức Đảng ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, sức mạnh chiến đấu của Đảng sẽ được củng cố vững chắc từ gốc rễ. Với sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, công tác xây dựng Đảng sẽ thực sự trở thành động lực mạnh mẽ, bảo đảm cho Đảng ta luôn "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với niềm tin yêu và kỳ vọng của nhân dân trong thời kỳ mới./.
Vũ Thị Thiệu



