28/07/2026 lúc 15:58 (GMT+7)
Breaking News

Phát huy tiềm năng kinh tế biển để kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, việc khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành yêu cầu mang tính chiến lược. Với lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên và hệ thống cảng biển, kinh tế biển được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới. Để chuyển hóa tiềm năng thành giá trị gia tăng bền vững, cần đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại, gắn với chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.

I. KINH TẾ BIỂN: KHÔNG GIAN CHIẾN LƯỢC CHO MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI

Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong giai đoạn phát triển mới, việc tìm kiếm và khai thác các động lực tăng trưởng mới trở thành yêu cầu cấp thiết. Dư địa của các động lực truyền thống như mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và gia tăng lao động dần thu hẹp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và phát huy hiệu quả các lợi thế so sánh đang trở thành xu hướng tất yếu. Khi đó, kinh tế biển nổi lên như một không gian phát triển chiến lược, phù hợp với xu thế kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững đang được nhiều quốc gia ven biển theo đuổi.

Với đường bờ biển dài, vùng biển rộng, vị trí địa chiến lược quan trọng cùng hệ thống cảng biển, tài nguyên và đa dạng sinh học phong phú, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Thực tiễn cho thấy hiệu quả khai thác tiềm năng biển vẫn chưa tương xứng với lợi thế sẵn có; liên kết giữa các ngành kinh tế biển còn hạn chế, chất lượng thể chế, hạ tầng và năng lực quản trị chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Phát triển kinh tế biển cần được tiếp cận theo tư duy mới, chuyển từ khai thác đơn thuần tài nguyên sang xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, dựa trên nền tảng thể chế đồng bộ, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị tổng hợp vùng bờ. Yêu cầu vừa khai mở dư địa tăng trưởng mới mà còn là định hướng chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và khẳng định vị thế của Việt Nam trong không gian kinh tế biển khu vực và thế giới.

Kinh tế biển được xác định là không gian phát triển chiến lược, tạo động lực tăng trưởng mới trên nền tảng thể chế hiện đại, hạ tầng đồng bộ và đổi mới sáng tạo.

II. KINH TẾ BIỂN TRỞ THÀNH KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC TRONG MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG HIỆN ĐẠI

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chuyển mạnh từ khai thác các yếu tố đầu vào truyền thống sang phát huy hiệu quả đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, kinh tế biển ngày càng được nhìn nhận như một không gian phát triển chiến lược, góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo cách tiếp cận hiện đại, kinh tế biển bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển như khai thác thủy sản, vận tải biển, dầu khí, du lịch biển hay dịch vụ hàng hải, bao hàm toàn bộ chuỗi giá trị gắn với khai thác, quản lý, bảo tồn và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển nhằm tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và môi trường lâu dài. Khái niệm "kinh tế biển xanh" (Blue Economy) được hình thành và phát triển, nhấn mạnh yêu cầu hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn hệ sinh thái biển, sử dụng bền vững tài nguyên và tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Các tổ chức quốc tế đều thống nhất rằng đại dương đang trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng toàn cầu trong thế kỷ XXI. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng kinh tế biển là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế tương lai, với tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng lớn thông qua các ngành công nghiệp biển công nghệ cao, dịch vụ logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghệ sinh học biển. Ngân hàng Thế giới cũng xác định kinh tế biển xanh là mô hình phát triển dựa trên việc sử dụng bền vững tài nguyên biển để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và cải thiện sinh kế, đồng thời duy trì sức khỏe của các hệ sinh thái biển. Liên hợp quốc cũng coi phát triển kinh tế biển bền vững là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và nguồn lợi biển, qua đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và an ninh biển.

Từ góc độ lý luận phát triển, kinh tế biển không chỉ là tập hợp các ngành kinh tế khai thác lợi thế tự nhiên mà còn là một hệ sinh thái kinh tế tích hợp, trong đó thể chế, khoa học - công nghệ, hạ tầng logistics, chuyển đổi số và quản trị không gian biển giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả khai thác nguồn lực. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Nhiều quốc gia đang đối mặt với sự suy giảm của các động lực tăng trưởng truyền thống, biển trở thành không gian phát triển mới, tạo điều kiện hình thành các ngành kinh tế mới, thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng thị trường quốc tế và nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thực tiễn phát triển của đa số quốc gia ven biển cho thấy thành công của kinh tế biển không phụ thuộc hoàn toàn vào quy mô tài nguyên mà chủ yếu được quyết định bởi chất lượng thể chế, năng lực quản trị và trình độ khoa học - công nghệ. Singapore là ví dụ điển hình khi, mặc dù có diện tích tự nhiên hạn chế và hầu như không có tài nguyên biển đáng kể, quốc gia này đã xây dựng thành công trung tâm logistics, trung chuyển hàng hải và dịch vụ cảng biển hàng đầu thế giới. Thành công đó được tạo dựng từ chiến lược phát triển đồng bộ hạ tầng cảng biển hiện đại, số hóa quản lý hàng hải, phát triển các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, pháp lý và logistics biển có giá trị gia tăng cao, qua đó biến lợi thế vị trí địa lý thành lợi thế cạnh tranh bền vững.

Tại châu Âu, Hà Lan được đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu về quản trị không gian biển. Thông qua quy hoạch không gian biển tích hợp, quốc gia này đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vận tải biển, khai thác năng lượng, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển đô thị ven biển. Cùng với đó, cụm cảng Rotterdam được phát triển theo mô hình cảng thông minh, kết nối chặt chẽ với mạng lưới logistics, công nghiệp chế biến và dịch vụ hậu cần, trở thành một trong những trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn nhất thế giới và là hạt nhân thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế Hà Lan.

Trong khi đó, Na Uy đã lựa chọn cách tiếp cận phát triển kinh tế biển theo hướng đa dạng hóa các ngành công nghiệp biển trên cơ sở khai thác hiệu quả khoa học - công nghệ. Bên cạnh việc duy trì vị thế của ngành dầu khí ngoài khơi, quốc gia này đẩy mạnh đầu tư vào năng lượng gió ngoài khơi, công nghệ khai thác biển sâu, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và công nghiệp hàng hải xanh. Quá trình chuyển đổi này giúp Na Uy vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa từng bước thích ứng với yêu cầu giảm phát thải và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu.

Kinh nghiệm từ các quốc gia trên cho thấy nguồn lực tự nhiên chỉ tạo ra lợi thế ban đầu, trong khi năng lực tạo lập thể chế, quy hoạch không gian biển, phát triển hạ tầng hiện đại, ứng dụng khoa học - công nghệ và xây dựng các chuỗi giá trị biển mới là yếu tố quyết định hiệu quả khai thác tiềm năng biển. Điều đó cũng khẳng định rằng phát triển kinh tế biển trong giai đoạn hiện nay cần được tiếp cận như một chiến lược phát triển tổng hợp, lấy quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo và liên kết đa ngành làm nền tảng để hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.

III. KHAI MỞ TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN CỦA VIỆT NAM - CƠ HỘI VÀ NHỮNG ĐIỂM NGHẼN

Kinh tế biển được xác định là một trong những động lực quan trọng để mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong chiến lược phát triển quốc gia,. Với lợi thế tự nhiên cùng vị trí địa kinh tế đặc biệt, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng hiện đại, hình thành các cực tăng trưởng mới gắn với hội nhập kinh tế quốc tế. Việc chuyển hóa tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực chất vẫn phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và nâng cao hiệu quả quản trị biển.

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng một triệu km² cùng hơn 3.000 hòn đảo, tạo nên không gian phát triển đa dạng cho nhiều ngành kinh tế biển. Nằm trên tuyến hàng hải quốc tế kết nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Việt Nam có lợi thế đặc biệt trong việc phát triển vận tải biển, trung chuyển hàng hóa, logistics và các dịch vụ hàng hải quốc tế. Đồng thời, hệ thống cảng biển trải dài từ Bắc vào Nam với nhiều cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn tạo nền tảng quan trọng để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó, nguồn tài nguyên biển phong phú, bao gồm dầu khí, khí tự nhiên, nguồn lợi thủy sản, khoáng sản biển và tiềm năng năng lượng tái tạo ngoài khơi, mở ra dư địa phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ tập trung vào khai thác tài nguyên theo phương thức truyền thống.

Từ góc độ phát triển không gian, vùng ven biển không chỉ là khu vực khai thác tài nguyên mà còn là nơi hội tụ các hành lang kinh tế, khu kinh tế ven biển, trung tâm công nghiệp, cảng biển và đô thị biển hiện đại. Sự kết nối giữa các trung tâm kinh tế ven biển với mạng lưới giao thông quốc gia và quốc tế tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới, góp phần thúc đẩy liên kết vùng, phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics và kinh tế đô thị.

Bên cạnh lợi thế về không gian phát triển, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại dựa trên sự liên kết của nhiều ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Trong đó, công nghiệp - năng lượng biển được xem là lĩnh vực có tiềm năng dẫn dắt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển. Bên cạnh khai thác dầu khí truyền thống, xu hướng phát triển điện gió ngoài khơi, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), hydrogen xanh, công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) đang tạo ra không gian phát triển mới, phù hợp với mục tiêu chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải. Việc kết hợp các ngành năng lượng mới với công nghiệp chế tạo thiết bị, dịch vụ kỹ thuật biển và nghiên cứu khoa học sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị biển có sức cạnh tranh cao và khả năng tham gia sâu vào thị trường quốc tế.

Song song với đó, cảng biển và logistics tiếp tục giữ vai trò là hạ tầng cốt lõi của kinh tế biển hiện đại. Khi được đầu tư đồng bộ với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và các trung tâm logistics, cảng biển không chỉ thực hiện chức năng trung chuyển hàng hóa mà còn trở thành động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự phát triển của logistics biển sẽ tạo điều kiện giảm chi phí vận tải, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng và gia tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư. Đồng thời, các dịch vụ kỹ thuật biển như đóng mới và sửa chữa tàu biển, khảo sát địa chất, dịch vụ dầu khí, bảo dưỡng công trình ngoài khơi, ứng dụng công nghệ số trong quản lý cảng và vận tải biển sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ hệ sinh thái kinh tế biển.

Mặc dù có nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển, kinh tế biển Việt Nam vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là động lực tăng trưởng mới. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là công tác quy hoạch và quản lý không gian biển còn thiếu tính đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Quy hoạch phát triển cảng biển, năng lượng, nuôi trồng thủy sản, bảo tồn biển và phát triển đô thị ven biển trong một số trường hợp còn thiếu sự tích hợp, làm gia tăng nguy cơ chồng lấn về không gian phát triển và giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Hệ thống thể chế và chính sách liên quan đến phát triển kinh tế biển vẫn còn tồn tại những điểm giao thoa, chưa bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định về đầu tư, đất đai, tài nguyên, môi trường và biển. Quá trình chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt các dự án quy mô lớn, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng ngoài khơi và hạ tầng cảng biển, còn kéo dài do phải thực hiện nhiều thủ tục thuộc các cơ quan quản lý khác nhau. Điều này làm gia tăng chi phí cơ hội của nhà đầu tư, kéo dài thời gian triển khai dự án và ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt các xu hướng đầu tư mới trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt.

Một hạn chế khác là hạ tầng kết nối giữa cảng biển với các phương thức vận tải khác chưa thực sự đồng bộ, khiến chi phí logistics còn ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Đồng thời, cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý biển, chia sẻ dữ liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia vẫn còn phân tán, chưa đáp ứng yêu cầu quản trị tổng hợp và quản trị số. Sự thiếu đồng bộ về dữ liệu và cơ chế điều phối không chỉ làm giảm hiệu quả hoạch định chính sách mà còn ảnh hưởng đến khả năng dự báo, thu hút đầu tư và khai thác hiệu quả các nguồn lực biển.

Những điểm nghẽn nêu trên cho thấy việc khai mở tiềm năng kinh tế biển không chỉ là vấn đề khai thác lợi thế tự nhiên mà trước hết là bài toán hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị và xây dựng hệ sinh thái phát triển hiện đại. Chỉ khi các rào cản về quy hoạch, hạ tầng, thủ tục đầu tư và phối hợp quản lý được tháo gỡ đồng bộ, Việt Nam mới có thể chuyển hóa tiềm năng biển thành lợi thế cạnh tranh bền vững, tạo lập các cực tăng trưởng mới và đưa kinh tế biển trở thành một trụ cột quan trọng của mô hình tăng trưởng trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

IV. HOÀN THIỆN THỂ CHẾ ĐỂ CHUYỂN HÓA TIỀM NĂNG THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thành công trong phát triển kinh tế biển đều xây dựng được hệ thống thể chế đồng bộ, bảo đảm phân bổ hiệu quả nguồn lực, tạo môi trường đầu tư minh bạch và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đối với Việt Nam, yêu cầu hoàn thiện thể chế càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh kinh tế biển được xác định là một trong những trụ cột của mô hình tăng trưởng mới và là không gian phát triển chiến lược của quốc gia.

Xét trên phương diện kinh tế học thể chế, thể chế không chỉ là hệ thống quy định pháp luật mà còn bao gồm các cơ chế phối hợp, phương thức quản trị và chính sách điều tiết nhằm giảm chi phí giao dịch, hạn chế xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Một thể chế ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo sẽ góp phần rút ngắn thời gian triển khai dự án, giảm rủi ro cho nhà đầu tư, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Định hướng này phù hợp với quan điểm của Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển. Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên, bảo tồn hệ sinh thái và kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW tiếp tục khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự kết hợp giữa hai định hướng này tạo cơ sở cho việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế biển dựa trên thể chế hiện đại, quản trị thông minh và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học - công nghệ.

Tư duy quản lý biển cần được chuyển từ cách tiếp cận quản lý theo ngành, lĩnh vực sang quản trị biển hiện đại, dựa trên sự phối hợp tổng hợp và khai thác hiệu quả không gian biển. Trọng tâm trước hết là xây dựng quy hoạch không gian biển tích hợp, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển cảng biển, năng lượng, thủy sản, du lịch, bảo tồn biển và phát triển đô thị ven biển, qua đó hạn chế tình trạng chồng lấn quy hoạch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành giữa các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể tham gia phát triển kinh tế biển nhằm nâng cao tính thống nhất trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.

Một nội dung quan trọng khác là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị biển thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia thống nhất, ứng dụng công nghệ số trong giám sát tài nguyên, quản lý cảng biển, vận tải biển và cảnh báo rủi ro thiên tai. Quản trị dựa trên dữ liệu không chỉ nâng cao chất lượng ra quyết định mà còn tăng tính minh bạch, giảm chi phí quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận thông tin. Phát triển kinh tế biển cần gắn chặt với mục tiêu kinh tế biển xanh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền biển, đảo.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, cần tập trung vào một số định hướng trọng tâm. Trước hết, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng đồng bộ, minh bạch và ổn định, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các ngành kinh tế biển mới. Song song với đó, ưu tiên xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại, phát triển các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), dịch vụ kỹ thuật biển và logistics, qua đó hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh quốc tế. Đồng thời, cần phát huy vai trò của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đầu tàu, trong dẫn dắt đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường liên kết giữa các địa phương ven biển, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ tạo nền tảng để kinh tế biển phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng và nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

V. KẾT LUẬN

Kinh tế biển không chỉ là lợi thế tự nhiên mà còn là không gian phát triển chiến lược, tạo động lực mới cho tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay. Việc khai thác hiệu quả tiềm năng biển đòi hỏi chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên sang phát triển dựa trên thể chế hiện đại, quản trị tích hợp, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện thể chế, phát triển hệ sinh thái kinh tế biển có giá trị gia tăng cao và tăng cường liên kết giữa các ngành, các vùng ven biển sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực biển. Khi được tổ chức theo hướng xanh, bền vững và hiện đại, kinh tế biển sẽ góp phần hình thành mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong thời gian tới./.

ThS Phan Hồng Linh