24/06/2024 lúc 00:35 (GMT+7)
Breaking News

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ phát triển và hội nhập

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung đầu tư và khuyến khích phát triển hệ thống giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cho đến nay, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Nguồn nhân lực chất lượng cao có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi đất nước mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Đây có thể coi là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH); rút ngắn khoảng cách tụt hậu, đồng thời duy trì tăng trưởng nhanh, bền vững. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố quyết định đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức; là điều kiện quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Nguồn nhân lực chất lượng cao – Chủ trương và kết quả đạt được

Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, Đảng ta đã sớm có chủ trương đúng đắn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là từ Đại hội XI trở lại đây. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục xác định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Đây được coi là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội Đảng XIII cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Nhờ những chủ trương và quyết sách quyết liệt được thực hiện nên trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao đã được quan tâm. Các tầng lớp doanh nhân giỏi, lao động có trình độ kỹ thuật cao xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội, đóng góp đáng kể cho sự phát triển đất nước. Kết quả của công tác này đã bước đầu được khẳng định: Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, nhìn chung  chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam cũng có sự cải thiện đáng kể. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số vốn nhân lực (HCI) của Việt Nam đã tăng từ 0,66 lên 0,69 trong giai đoạn này. Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tiếp tục cao hơn mức trung bình của các nước có cùng mức thu nhập mặc dù mức chi tiêu công cho y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội thấp hơn. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có điểm cao nhất về chỉ số vốn nhân lực.

Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam từ 40% năm 2010 lên 65% năm 2020; tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo liên tục tăng lên qua các năm, từ 15,4% vào năm 2011 đã tăng lên 24,1% vào năm 2021. Điều đó đã giúp cho chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam không ngừng được cải thiện. Đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khá đã được thu hút và phát huy hiệu quả lao động cao ở một số ngành, nghề. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Riêng trong giai đoạn 2016 - 2020, dù còn nhiều khó khăn, nhưng chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao cũng là yếu tố góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6%/năm; Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020...

Theo thống kê, thời gian qua cơ cấu lao động ở nước ta có những thay đổi tích cực. Cụ thể: tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm từ 62,7% năm 2001 xuống còn 48,7% năm 2010 và 27,6% năm 2022, tương ứng với đó là số lượng lao động trong ngành này giảm 10,369 triệu người (từ 24,469 triệu năm 2001 xuống còn 14,1 triệu lao động năm 2022). Mặc dù vậy, sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành Nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong khi hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần.

Sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ thể hiện ở chỗ, tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên từ 22,8% năm 2001 lên 29,6% năm 2010 và 39,1% năm 2022. Lượng lao động ngành này tăng 5,985 triệu người từ năm 2001 đến 2010 và 5,377 triệu người từ năm 2010 -2022 chủ yếu là lao động trong lĩnh vực Dịch vụ du lịch, vận tải kho bãi, thương mại điện tử, kinh doanh bất động sản…Đối với lực lượng lao động ngành công nghiệp, từ năm 2001- 2010, lao động ngành này tăng đáng kể là 5,137 triệu người với tỷ trọng bình quân là 18,2% và từ năm 2011 đến 2020 là 28,1%; tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng dao động nhẹ và ổn định khoảng 32,25% tổng nhu cầu lao động trong giai đoạn 2019 - 2022 và đạt mức 33,3% năm 2022. Cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm trong công nghiệp đang có sự thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường. Chuyển dịch cơ cấu nội ngành từ các ngành thâm dụng tài nguyên, lao động sang các ngành thâm dụng vốn và công nghệ, các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp các bon thấp; từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực ngày càng được chú trọng. Điều này đòi hỏi lao phải có kỹ năng, kiến thức để làm các công việc phức tạp và phải có khả năng thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ; nghĩa là yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày một lớn hơn.

Mặc dù vậy, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong tiến trình phát triển của đất nước.

Thực trạng và những định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực      

Thực trạng:

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực thấp là một trong những thách thức rất lớn của Việt Nam trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp trong công việc còn yếu, khuynh hướng nắm vững lý thuyết, nhưng kém về năng lực thực hành còn phổ biến dẫn đến nhiều doanh nghiệp không tuyển được đúng vị trí việc làm. Theo kết quả của một nghiên cứu mới đây, “trong 2 thập kỷ tới, khoảng 56% số người lao động tại 5 quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, có nguy cơ mất việc vì robot, đặc biệt là trong ngành may mặc. Ngoài ra, sự phát triển của kinh tế số sẽ làm mất đi một số lượng lớn công việc, thay thế tới 1/3 lực lượng lao động chế biến nông sản, thay thế 26% số lao động trong ngành logistics ở Việt Nam”.

Mặt khác, hiện tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở Việt Nam còn khá lớn, chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Hiện nay, nước ta đang thiếu công nhân có kỹ năng lao động cao, thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực, nhưng thừa lao động thủ công, không qua đào tạo. Thực tế cho thấy giá trị thặng dư, hiệu suất kinh tế chưa tương xứng với số lượng lao động hiện có của cả nước. Năng suất lao động của Việt Nam hiện còn ở mức thấp so với ngay cả các nước trong khu vực.

Thực tế cho thấy, sự thay đổi về chất của nguồn nhân lực Việt Nam chưa thật sự mang tính đột phá, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam qua 10 năm (2010 - 2020) vẫn bộc lộ những hạn chế; có thể nhìn nhận qua một số mặt đề cập sau:

- Trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới 2016 (The Global Competitiveness Report 2016 - 2017, World Economic Forum) đã đưa ra các tiêu chí đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế gắn với các phương thức phát triển khác nhau. Trên cơ sở phân loại 3 giai đoạn của WEF kết hợp với số liệu thu thập từ Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng từ 2.786 USD (2019) lên 3.521 USD (2020), một mặt cho thấy sự tăng trưởng khá tích cực; nhưng mặt khác cho thấy Việt Nam vẫn đang trong bước chuyển tiếp từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ hai, nền kinh tế vẫn dựa trên nền tảng của mô hình tăng trưởng cũ là dựa vào nguồn lao động thủ công và tài nguyên thiên nhiên.

- Số liệu tổng hợp từ Báo cáo điều tra lao động việc làm và Niên giám thống kê cho thấy, tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo từ trình độ sơ cấp nghề trở lên biến động tăng nhẹ từ 20,6% (2015) lên 26 % (quí 1/2021). Riêng khu vực doanh nghiệp FDI, tỷ lệ lao động không có bằng cấp hoặc chứng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 80%, tỷ lệ này hầu như không thay đổi trong 8 năm liên tục từ năm 2011 đến năm 2017 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018).

- Đánh giá của doanh nghiệp về lao động sau tuyển dụng cũng thể hiện nhiều hạn chế về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động sau tuyển dụng phải đào tạo lại cao, nhiều doanh nghiệp phải tổ chức bộ máy đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ nhân viên sau tuyển dụng, phát sinh lãng phí và áp lực về tài chính cho doanh nghiệp.

- Nhiều vấn đề rất cần được giải quyết, khắc phục, nhưng đã và đang tồn tại trong một thời gian dài liên quan đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo thông qua hoạt động thực hành, thực tập của người học tại các cơ sở giáo dục đào tạo. Chẳng hạn: Hiện phần lớn các cơ sở giáo dục đào tạo công lập vẫn duy trì các học phần thực hành, thực tập thông qua mối liên hệ với các doanh nghiệp. Các chính sách cụ thể để triển khai Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp trên các khía cạnh tài chính, thuế, phát triển đội ngũ giảng viên doanh nghiệp,… vẫn còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chưa đạt được mục đích đẩy mạnh sự liên kết trong đào tạo nguồn nhân lực giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đào tạo.  Chưa đánh giá đúng mức và quan tâm đến hoạt động gắn kết với các cơ sở giáo dục đào tạo… 

- Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh ngày càng quyết liệt thì chất lượng nguồn nhân lực hiện tại đang là một rào cản và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong đổi mới công nghệ để tồn tại. Để nền kinh tế Việt Nam có những bước tiến mạnh mẽ trong điều kiện các nguồn lực về vốn, tài nguyên và lao động có hạn, thì việc thay đổi mô hình tăng trưởng trên nền tảng đổi mới và sáng tạo toàn diện, mà yếu tố then chốt chính là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đòi hỏi cần có sự thúc đẩy gắn kết chặt chẽ và hiệu quả giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp.

Định hướng và giải pháp

Hiện nay và trong những năm tới, chuyển đổi số là xu hướng tất yếu của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng để phát triển được nền kinh tế số, Việt Nam phải vượt qua một số thách thức, trong đó có thách thức về nguồn nhân lực. Kinh tế số phát triển đòi hỏi phải có nguồn nhân lực số để triển khai, tổ chức thực hiện và vận hành nền kinh tế một cách hiệu quả. Kinh tế số phát triển sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về lao động, quá trình chuyển đổi số sẽ vừa làm mất việc làm nhưng cũng sẽ tạo ra việc làm mới. Mặt khác, xu hướng chung của nền kinh tế là sự tăng trưởng giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, mở rộng tín dụng; từng bước dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều đó cho thấy, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ được cho là yếu tố quyết định để thực hiện hai khâu đột phá còn lại là hoàn thiện thể chế kinh tế và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định trong 5 năm tới, đột phá về phát triển nguồn nhân lực, trong đó, nội hàm về nguồn nhân lực chất lượng cao đã được xác định rõ hơn, đó là “nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt” và đặc biệt, Đảng ta tiếp tục gắn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với “ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII (tháng 10/2022), Đảng ta cũng xác định việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một giải pháp cần thiết, không thể thiếu của việc tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là những bổ sung kịp thời, hợp lý gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết số 29-NQ/TW (ngày 17/11/2022) của Trung ương về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” cũng nêu rõ một quan điểm chỉ đạo quan trọng. Đó là: “Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị tinh hoa văn hoá dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam và truyền thống của giai cấp công nhân, vai trò xung kích, đi đầu của đội ngũ trí thức và doanh nhân Việt Nam”. Trong quan điểm trên, có thể thấy rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam với phát huy bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam - nhất là truyền thống của giai cấp công nhân, vai trò xung kích, đi đầu của đội ngũ trí thức và tầng lớp doanh nhân nước ta. Đây chính là lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thời gian tới, cần chú trọng thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

Thứ nhất, thông qua việc hoàn thiện chính sách để việc xây dựng con người Việt Nam đi vào thực chất, hiệu quả, nhằm phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình và Tổ quốc; đồng thời, phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Bên cạnh đó, để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, các cấp, ngành, địa phương cần căn cứ vào thực lực của mình để có chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài hợp lý; tránh tình trạng “chảy máu chất xám”. Ngoài ra, cần xây dựng các chương trình cấp quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài để bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nguồn nhân lực đã được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc.

Thứ hai, phải có những giải pháp hù hợp và hiệu quả nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo. Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo chuyên gia, nhân lực chất lượng cao, lao động kỹ thuật trong các lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Chỉ trên cơ sở đó thì chúng ta mới đào tạo được nguồn nhân lực có sức khỏe, có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, có phẩm chất xã hội phù hợp.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và các giải pháp cụ thể nhất nhằm đưa việc phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao mang lại kết quả thực chất, rõ rệt.

Thứ tư, cùng với việc xác lập các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp với sự phát triển của thị trường, cần thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động./.

ThS Phạm Xuân Hòa

...