I. Về tình hình thực hiện thu, chi NSNN 02 tháng đầu năm
a) Về thu NSNN:
Thực hiện thu NSNN 2 tháng đầu năm đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán, tăng 13,1% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, thu nội địa đạt 558,1 nghìn tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán, tăng 15% so cùng kỳ; thu từ dầu thô đạt khoảng 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 11,9% dự toán, giảm 42,2% so với cùng kỳ; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 38 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% dự toán, tăng 1,2% so với cùng kỳ.
b) Về chi NSNN
Tổng chi cân đối NSNN 02 tháng đầu năm ước đạt 311 nghìn tỷ đồng, bằng 9,8% dự toán, tăng 11% so cùng kỳ năm 2025, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 42,5 nghìn tỷ đồng, bằng 3,8% dự toán Quốc hội quyết định, tỷ lệ giải ngân ước đạt 4,3% kế hoạch vốn đầu tư phát triển Thủ tướng Chính phủ giao; chi trả nợ lãi ước đạt ước đạt 22,3% dự toán; chi thường xuyên ước đạt 13,3% dự toán.
Các nhiệm vụ chi ngân sách trong 02 tháng đầu năm được thực hiện theo dự toán, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ NSNN, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, tạo điều kiện cho các đối tượng thụ hưởng vui đón Tết cổ truyền.
Bên cạnh đó, đã thực hiện xuất cấp 15.527 tấn gạo dự trữ quốc gia theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm.
c) Về cân đối NSNN
Cân đối NSTW và ngân sách các cấp địa phương được đảm bảo. Đến hết tháng 02, đã thực hiện phát hành 60,5 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, kỳ hạn bình quân 10,03 năm, lãi suất bình quân 4,05%/năm.
II. Tình hình phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư công 02 tháng năm 2026
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn NSNN năm 2026
a) Căn cứ quy định Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương là 995.348,05 tỷ đồng, cao hơn khoảng 93 nghìn tỷ số với kế hoạch vốn năm 2025. Trong đó: vốn NSTW là 345.121,45 tỷ đồng (vốn trong nước là 327.440,122 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 17.681,328 tỷ đồng) và vốn NSĐP là 650.226,6 tỷ đồng.
b) Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 12.932,5 tỷ đồng.
c) Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 330,3 tỷ đồng; trong đó: NSTW là 246,2 tỷ đồng, NSĐP là 84,1 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.008.610,9 tỷ đồng.
2. Tình hình phân bổ chi tiết kế hoạch vốn năm 2026 cho các nhiệm vụ, dự án
Đến hết tháng 02, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 975.471,1 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 323.888,4 tỷ đồng, vốn NSĐP là 651.582,7 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (12.932,5 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 962.538,6 tỷ đồng, đạt 96,7% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao.
Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 32.809,4 tỷ đồng, chiếm 3,3% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (bao gồm: vốn NSTW là 21.233 tỷ đồng, vốn NSĐP là 11.576,4 tỷ đồng) của 15 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương chủ yếu đang trong quá trình hoàn thiện các thủ tục để phân bổ vốn cho dự án.
3. Tình hình giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026:
Giải ngân từ đầu năm đến ngày 28/02/2026 là 55.739,8 tỷ đồng, đạt 5,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (995.348,05 tỷ đồng); trong đó: vốn NSTW là 10.178 tỷ đồng, đạt 2,9%; vốn NSĐP là 45.561,8 tỷ đồng, đạt 7%. So với cùng kỳ năm 2025, kết quả giải ngân tương đương về tỷ lệ và cao về số tuyệt đối là 10.928,6 tỷ đồng.
Kết quả đến hết tháng 02/2026, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 06 bộ, cơ quan và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước (bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Công an; Điện Biên; Lai Châu; Thành phố Hải Phòng; Lạng Sơn; Thành phố Hồ Chí Minh; Hà Tĩnh; Cà Mau; Gia Lai; Thành phố Hà Nội; Thái Nguyên; Thành phố Cần Thơ; Khánh Hòa; Ninh Bình; Thành phố Đà Nẵng). Còn 29 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước (trong đó có 25 bộ, cơ quan có tỷ lệ giải ngân dưới 1% và chưa giải ngân).
4. Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2026
Năm 2026 là năm đầu tiên của giai đoạn trung hạn 2026-2030, ghi nhận lượng vốn đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay, khiến áp lực giải ngân vốn đầu tư công gia tăng. trong bối cảnh hiện nay, năm 2026 vẫn sẽ tồn tại một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giải ngân đầu tư công tương tự năm 2025 như: vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; tình trạng thiếu nguồn cung và khả năng biến động giá cả nguyên vật liệu khi rất nhiều công trình xây dựng lớn cùng đồng loạt triển khai; diễn biến thời tiết thất thường. Đồng thời, đây cũng là năm chuyển tiếp về thể chế, nhiều văn bản pháp luật mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, dẫn tới việc triển khai các cơ chế, chính sách mới có thể phát sinh những khó khăn, vướng mắc nhất định.
Trên cơ sở báo cáo định kỳ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính ghi nhận một số khó khăn, vướng mắc chủ yếu làm ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 02 tháng đầu năm 2026, cụ thể như sau:
4.1. Khó khăn, vướng mắc liên quan đến phân bổ vốn:
- Việc chưa phân bổ một lượng vốn tương đối lớn đã ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nguồn NSNN những tháng đầu năm 2026 (còn khoảng 32,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao); các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đang tập trung chỉ đạo để sớm hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đảm bảo điều kiện sớm bố trí kế hoạch vốn cho các nhiệm vụ, dự án
- Một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết cho các dự án không đủ điều kiện phân bổ và giải ngân như: nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán, bố trí vượt tổng mức đầu tư, vượt thời gian bố trí vốn thực hiện dự án,… Bộ Tài chính đã có các văn bản kiểm tra, nhận xét chi tiết đến từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương đề nghị điều chỉnh, hoàn thiện theo đúng quy định.
4.2. Khó khăn vướng mắc khác trong tổ chức thực hiện:
- Trong 02 tháng đầu năm, tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công thường đạt thấp, do các chủ đầu tư chủ yếu tập trung hoàn thiện thủ tục đầu tư, phân khai kế hoạch vốn chi tiết cho từng dự án và tiếp tục triển khai thi công đối với các dự án chuyển tiếp; trong khi thời gian nghỉ Tết năm 2026 rơi diễn ra muộn hơn so với năm 2025, tạm thời làm chậm công tác thi công xây dựng cho dự án của các chủ đầu tư, nhà thầu. Do đó, khối lượng nghiệm thu, thanh toán phát sinh trong tháng chưa nhiều, làm ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân chung.
- Khối lượng hồ sơ thanh toán lớn vào thời điểm cuối năm trước chuyển sang đầu năm 2026 cũng làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân trong tháng đầu năm.
- Hạn chế trong năng lực, trách nhiệm của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhà thầu do chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công; một số xã, phường mới hình thành sau khi chuyển đổi mô hình chính quyền 02 cấp còn thiếu cán bộ phụ trách đầu tư công do đã chuyển công tác hoặc nghỉ theo chủ trương tinh giản biên chế, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.
- Đối với các dự án ODA: một số dự án chưa hoàn thành quy trình thủ tục đầu tư (đang điều chỉnh, gia hạn thời gian thực hiện, thời gian giải ngân hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục ký kết và hiệu lực của Hiệp định vay) dẫn tới chưa đủ điều kiện bố trí kế hoạch vốn; trong 02 tháng đầu năm, các dự án tập trung giải ngân và hoàn chứng từ các khoản giải ngân từ tài khoản đặc biệt theo kế hoạch vốn năm 2025 và một số dự án đang thực hiện các thủ tục cho công tác đấu thầu, chuẩn bị ký kết Hợp đồng và xử lý các vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng nên giải ngân kế hoạch vốn năm 2026 còn thấp.



