08/07/2026 lúc 16:09 (GMT+7)
Breaking News

Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số: Bài học từ thực tiễn điều hành kinh tế

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị kéo dài, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, lạm phát dù hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro, việc Việt Nam kiên định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026 không chỉ thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ mà còn phản ánh tư duy điều hành mới của Đảng và Chính phủ. Đây không đơn thuần là mục tiêu về tốc độ tăng trưởng, mà còn là yêu cầu tạo bước chuyển về chất lượng phát triển, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Ảnh minh họa - TL

Những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Chính phủ thường kỳ tháng 6 cùng với các kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã phát đi thông điệp rõ ràng: tăng trưởng phải trở thành nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó điều cốt lõi là tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Đây được xem là bước chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, từ điều hành theo tình huống sang quản trị bằng mục tiêu, bằng kết quả và trách nhiệm cụ thể.

Những tín hiệu tích cực từ thực tiễn điều hành

Nhìn lại 6 tháng đầu năm 2026, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực trong bối cảnh quốc tế còn nhiều khó khăn. Việc GDP tăng 8,18% là mức tăng cao nhất trong nhiều năm gần đây đã phản ánh hiệu quả của các giải pháp điều hành linh hoạt, chủ động và quyết liệt của Chính phủ. Quan trọng hơn, kết quả này đạt được trong điều kiện nền kinh tế vẫn phải đối mặt với nhiều sức ép từ bên ngoài, cho thấy khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế đã được cải thiện đáng kể.

Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực xuất khẩu, dịch vụ và du lịch. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn giữ vai trò là động lực chủ lực khi nhiều ngành hàng xuất khẩu phục hồi mạnh nhờ sự dịch chuyển đơn hàng và xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. Hoạt động thương mại quốc tế khởi sắc với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 550 tỷ USD, tăng hơn 27%, tiếp tục khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đáng chú ý, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì xu hướng tăng, nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, điện tử, năng lượng sạch tiếp tục được triển khai. Niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp được củng cố khi số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Điều này phản ánh kỳ vọng tích cực của khu vực sản xuất, kinh doanh đối với triển vọng phục hồi và phát triển của nền kinh tế.

Ở góc độ tài khóa, thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 62% dự toán, tăng 17,2% so với cùng kỳ, tạo dư địa để Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Việc miễn, giảm gần 89.000 tỷ đồng tiền thuế cho thấy chủ trương đồng hành cùng doanh nghiệp không chỉ dừng ở những tuyên bố chính sách mà đã được cụ thể hóa bằng các giải pháp tài chính thiết thực.

Một điểm sáng khác là sự xuất hiện của nhiều địa phương đạt tốc độ tăng trưởng hai con số như Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ và khu vực Tây Nguyên. Đây không chỉ là kết quả của lợi thế riêng từng địa phương mà còn phản ánh hiệu quả của quá trình phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương trong thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và khai thác các tiềm năng phát triển.

Điều hành quyết liệt - nhân tố quyết định thành công

Thực tiễn cho thấy, kết quả đạt được không phải ngẫu nhiên mà là hệ quả của quá trình điều hành kiên định, linh hoạt và có trọng tâm. Trong điều kiện kinh tế thế giới biến động nhanh, Chính phủ đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng.

Điểm nổi bật của phương thức điều hành hiện nay là sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; giữa điều hành vĩ mô với tháo gỡ khó khăn cho từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương. Các bộ, ngành không chỉ tập trung xử lý các vấn đề trước mắt mà còn chú trọng hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Đặc biệt, việc Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ liên tiếp ban hành các nghị quyết, kết luận về phát triển kinh tế đã tạo nên sự thống nhất từ nhận thức đến hành động trong toàn hệ thống chính trị. Các cơ chế, chính sách mới không chỉ hướng tới tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn mở đường cho những động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, phát triển khoa học - công nghệ và kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước khởi đầu. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong cả năm, nền kinh tế vẫn phải vượt qua nhiều rào cản cả từ bên ngoài lẫn nội tại. Chính vì vậy, điều quan trọng không chỉ là duy trì đà tăng trưởng mà còn phải chuyển hóa những kết quả bước đầu thành động lực phát triển bền vững thông qua các giải pháp điều hành mạnh mẽ, nhất quán và hiệu quả hơn.

Nếu những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm là cơ sở để củng cố niềm tin vào khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng, thì những hạn chế còn tồn tại cũng là lời nhắc nhở rằng chặng đường phía trước vẫn còn không ít thách thức. Điều đáng ghi nhận là Chính phủ không bằng lòng với những thành tựu bước đầu mà thẳng thắn nhìn nhận những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ. Chính tinh thần nhìn thẳng vào thực tế, đánh giá đúng vấn đề để có giải pháp phù hợp đã trở thành một trong những nét nổi bật của phương thức điều hành trong giai đoạn hiện nay.

Thực tế cho thấy, mặc dù GDP 6 tháng đầu năm tăng trên 8%, song vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Đáng chú ý, còn tới 25 trong số 34 địa phương chưa đạt tốc độ tăng trưởng kỳ vọng; sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng, miền vẫn khá lớn. Điều này cho thấy dư địa tăng trưởng chưa được khai thác đồng đều và hiệu quả lan tỏa của các cực tăng trưởng vẫn cần tiếp tục được phát huy mạnh mẽ hơn.

Bên cạnh đó, sức cầu trong nước phục hồi chưa tương xứng với tiềm năng. Hoạt động tiêu dùng và đầu tư của khu vực tư nhân còn chịu tác động bởi tâm lý thận trọng, trong khi một số doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về vốn, thị trường và chi phí sản xuất. Mặc dù môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện đáng kể, nhưng nhiều thủ tục hành chính, quy trình đầu tư, giải phóng mặt bằng, tiếp cận đất đai và triển khai dự án vẫn là những "nút thắt" ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các chương trình phát triển.

Một vấn đề khác được đặt ra là hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành trong một số lĩnh vực chưa thực sự đồng bộ. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại một số nơi còn lúng túng; tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, e ngại va chạm hoặc xử lý công việc theo tư duy an toàn vẫn xuất hiện ở một bộ phận cán bộ, công chức. Đây là những rào cản không chỉ làm chậm tiến độ thực hiện chính sách mà còn làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội.

Kinh nghiệm từ thực tiễn điều hành

Từ thực tiễn điều hành nền kinh tế thời gian qua có thể rút ra nhiều bài học có giá trị đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, sự thống nhất về nhận thức và quyết tâm chính trị là điều kiện tiên quyết để tạo nên sức mạnh hành động. Khi mục tiêu tăng trưởng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị, mọi cấp, mọi ngành đều phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ phát triển. Những chỉ đạo xuyên suốt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã tạo nên sự thống nhất trong điều hành, hạn chế tình trạng cục bộ, thiếu liên kết giữa các ngành, địa phương.

Thứ hai, thể chế tiếp tục là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Thực tiễn cho thấy, ở đâu thủ tục được đơn giản hóa, môi trường đầu tư được cải thiện, ở đó doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng sản xuất, dòng vốn đầu tư được khơi thông và tốc độ tăng trưởng cao hơn. Vì vậy, cải cách thể chế không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, khơi thông nguồn lực xã hội có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh dư địa ngân sách nhà nước có giới hạn, khu vực kinh tế tư nhân cần tiếp tục được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế. Đầu tư công phải phát huy vai trò dẫn dắt, tạo hiệu ứng lan tỏa để thu hút đầu tư tư nhân, thúc đẩy các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và hạ tầng chiến lược phát triển đồng bộ.

Thứ tư, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu là yếu tố quyết định hiệu quả thực thi chính sách. Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng chương trình hành động đặc biệt cho những tháng cuối năm với yêu cầu "rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả, rõ cơ chế kiểm tra" không chỉ là phương pháp quản trị hiện đại mà còn đặt ra yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đây cũng là kinh nghiệm quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo và điều hành phát triển.

Khơi thông động lực tăng trưởng mới

Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, bên cạnh việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, cần tập trung tạo dựng những động lực phát triển mới có tính dài hạn.

Trước hết, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các công trình hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là những lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và tạo dư địa thu hút đầu tư xã hội.

Song song với đó là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng minh bạch, thuận lợi và ổn định. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính cần được thực hiện thực chất, gắn với chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và kinh tế số. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào năng lực ứng dụng công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là nền tảng để Việt Nam không chỉ tăng trưởng nhanh mà còn nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Cùng với đó, cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc kết hợp hài hòa giữa mở rộng thị trường quốc tế với phát triển thị trường trong nước sẽ giúp nền kinh tế tăng khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài.

Biến khát vọng thành hành động

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn, nhưng hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa nếu cả hệ thống chính trị tiếp tục phát huy tinh thần đổi mới, quyết liệt và đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Điều quan trọng không chỉ nằm ở việc ban hành thêm các chính sách mới mà là nâng cao chất lượng thực thi, bảo đảm mọi chủ trương được triển khai nhanh, hiệu quả và đi vào cuộc sống.

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng cao và bền vững chỉ đạt được khi thể chế được hoàn thiện, nguồn lực được khơi thông, doanh nghiệp được tạo điều kiện phát triển và bộ máy hành chính hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đối với Việt Nam, đây cũng chính là thời điểm để chuyển hóa quyết tâm chính trị thành kết quả phát triển cụ thể, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển với những yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là thước đo năng lực quản trị quốc gia và hiệu quả điều hành của bộ máy nhà nước. Khi các điểm nghẽn về thể chế tiếp tục được tháo gỡ, các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn và tinh thần trách nhiệm được lan tỏa đến từng cấp, từng ngành, khát vọng tăng trưởng nhanh sẽ có thêm nền tảng để trở thành hiện thực, góp phần đưa Việt Nam tiến nhanh trên con đường phát triển nhanh và bền vững.

Phạm Thủy