I. MỞ BÀI: KINH TẾ TƯ NHÂN – ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI
Khu vực kinh tế tư nhân đã từng bước khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP, tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng trong thời gian gần đây tiếp tục xác định phát triển kinh tế tư nhân là yêu cầu chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức cạnh tranh cao và thích ứng với những biến động của bối cảnh toàn cầu. Điều kiện mô hình tăng trưởng đang chuyển mạnh từ dựa vào vốn và khai thác tài nguyên sang dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trụ cột của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ góc độ lý luận, phát triển kinh tế tư nhân không thể được đánh giá đơn thuần bằng số lượng doanh nghiệp thành lập mới hay quy mô vốn đăng ký, mà cần được nhìn nhận trên cơ sở chất lượng của môi trường thể chế và năng lực quản trị phát triển. Theo quan điểm quản trị công hiện đại và mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển, vai trò của chính quyền là tập trung hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tạo lập môi trường đầu tư ổn định, thuận lợi để doanh nghiệp phát triển. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia và địa phương cho thấy, những nơi có nền hành chính hiệu quả, mức độ phân cấp hợp lý và chất lượng điều hành cao thường tạo ra hệ sinh thái kinh doanh năng động, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng suất của khu vực tư nhân.
Đối với chính quyền cấp cơ sở, hiệu quả của các chủ trương phát triển kinh tế phụ thuộc trước hết vào khả năng chuyển hóa định hướng của Trung ương thành các chương trình hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, xã Yên Phú đứng trước yêu cầu tái tổ chức không gian phát triển, khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có và hình thành động lực tăng trưởng mới. Việc lựa chọn phát triển kinh tế tư nhân làm trọng tâm phát triển phản ánh tư duy lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, coi cải cách hành chính, chuyển đổi số và cải thiện môi trường đầu tư là nền tảng để khơi thông nguồn lực xã hội. Thực tiễn tại Yên Phú cho thấy, khi chính quyền chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, đồng thời nâng cao chất lượng điều hành và đồng hành cùng doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho phát triển bền vững ở địa phương.
II. TỪ NGHỊ QUYẾT ĐẾN HÀNH ĐỘNG: KIẾN TẠO THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân ngoài phụ thuộc vào năng lực nội tại của doanh nghiệp mà trước hết chịu tác động trực tiếp từ chất lượng của môi trường thể chế. Nhiều nghiên cứu của các tổ chức quốc tế cũng như các học giả về kinh tế thể chế đều cho thấy, những nền kinh tế có hệ thống pháp luật minh bạch, quyền tài sản được bảo đảm, thủ tục hành chính đơn giản và chi phí tuân thủ thấp thường có tốc độ phát triển doanh nghiệp nhanh hơn, năng lực đổi mới sáng tạo cao hơn và khả năng huy động nguồn lực xã hội hiệu quả hơn.
Theo quan điểm của nhà kinh tế học Douglass C. North, thể chế là "luật chơi" của xã hội, bao gồm các quy tắc chính thức và phi chính thức định hình hành vi của các chủ thể kinh tế. Chất lượng thể chế càng cao thì chi phí giao dịch càng thấp, mức độ bất định càng được giảm thiểu và niềm tin của nhà đầu tư càng được củng cố. Từ góc nhìn này, phát triển kinh tế tư nhân xây dựng một hệ sinh thái kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi để doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn. Khi thủ tục hành chính được đơn giản hóa, quá trình tiếp cận đất đai, tín dụng và thông tin thị trường được cải thiện, doanh nghiệp sẽ có điều kiện tập trung nguồn lực cho đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất lao động thay vì phải gánh chịu những chi phí giao dịch không cần thiết.
Vai trò của chính quyền địa phương trong bối cảnh đó cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình quản trị phát triển. Chính quyền x thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trở thành chủ thể kiến tạo môi trường đầu tư, kết nối nguồn lực, hỗ trợ khởi nghiệp và đồng hành cùng doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình phát triển. Thực tiễn tại nhiều địa phương như Quảng Ninh, Đồng Tháp hay Bắc Ninh cho thấy, những cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính, chuyển đổi số, đối thoại thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp và nâng cao chất lượng điều hành đã góp phần cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thu hút đầu tư và thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Ở nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lợi thế cạnh tranh của địa phương đến từ vị trí địa lý hay nguồn lực tự nhiên, ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế và năng lực quản trị của chính quyền.
Quá trình sắp xếp đơn vị hành chính không chỉ tạo ra sự thay đổi về địa giới mà còn mở ra yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển ở cấp cơ sở. Được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba đơn vị hành chính gồm Yên Phú, Bình Hẻm và Xuất Hóa. Xã Yên Phú mới có diện tích gần 63,7 km² với quy mô dân số gần 20.000 người. Không gian phát triển được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức lại các vùng sản xuất, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn và khai thác hiệu quả các tiềm năng sẵn có của địa phương. Cùng với những cơ hội đó là yêu cầu cấp thiết về xây dựng động lực tăng trưởng mới đủ sức phát huy lợi thế quy mô và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Việc xác định phát triển kinh tế tư nhân là một trong những trọng tâm chiến lược thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào nguồn lực công sang mô hình huy động nguồn lực xã hội, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm của quá trình phát triển. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương của Đảng về phát huy mọi nguồn lực hợp pháp cho tăng trưởng, đồng thời phản ánh xu hướng quản trị hiện đại, trong đó chính quyền giữ vai trò định hướng, tạo lập môi trường và khuyến khích các chủ thể kinh tế chủ động đầu tư, đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất. Đối với một địa phương sau sáp nhập như Yên Phú, lựa chọn này nhằm gia tăng quy mô kinh tế, hướng tới hình thành nền tảng phát triển dài hạn dựa trên nội lực của cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai chủ trương phát triển kinh tế tư nhân tại Yên Phú là việc chuyển hóa các định hướng của Trung ương thành chương trình hành động với mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể. Theo Chương trình hành động số 08-CTr/ĐU, địa phương hiện có 15 doanh nghiệp, 2 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), 5 hợp tác xã và 369 hộ kinh doanh. Mặc dù quy mô chưa lớn, đây là nền tảng ban đầu của hệ sinh thái kinh tế địa phương, phản ánh sự hiện diện của nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh và khả năng huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân.
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng, địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển trên 40 doanh nghiệp, chuyển đổi ít nhất 20 hộ kinh doanh thành doanh nghiệp và nâng tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân lên khoảng 48%. Các chỉ tiêu này cho thấy định hướng phát triển ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp, hướng đến nâng cao chất lượng và tính chính thức của khu vực kinh tế tư nhân. Khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp giúp mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả năng tiếp cận tín dụng, ứng dụng công nghệ, tham gia chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, quá trình này còn góp phần tăng tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh, mở rộng cơ sở thu ngân sách và tạo thêm nhiều việc làm ổn định cho người lao động. Xét trên phương diện phát triển, đây là bước chuyển từ mô hình kinh tế hộ phân tán sang kinh tế doanh nghiệp có tổ chức, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nền kinh tế địa phương.
Điểm nổi bật trong định hướng phát triển của Yên Phú ở sự thay đổi về tư duy quản trị. Nếu trước đây hoạt động của chính quyền chủ yếu thiên về quản lý, kiểm soát và giải quyết các thủ tục hành chính thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang hỗ trợ, phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân. Sự chuyển đổi này phù hợp với yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng quản trị.
Địa phương tập trung cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công khai, minh bạch trong giải quyết công việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ liên quan đến đầu tư, đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính khác. Những giải pháp này không chỉ thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, còn trực tiếp giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa – lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực kinh tế tư nhân – một môi trường kinh doanh thông thoáng, ổn định và có khả năng dự báo thường mang lại giá trị lớn hơn nhiều so với các gói hỗ trợ tài chính ngắn hạn. Bởi lẽ, khi chi phí thể chế được cắt giảm, doanh nghiệp có điều kiện tập trung nguồn lực cho sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường. Chính vì vậy, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng quản trị địa phương vừa là nhiệm vụ của bộ máy hành chính vừa là giải pháp căn cơ, bền vững để khơi thông nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân và tạo lập động lực tăng trưởng mới cho địa phương trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
III. CHUYỂN ĐỔI SỐ: NỀN TẢNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ VÀ KHƠI THÔNG ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
Trong tiến trình phát triển hiện nay, chuyển đổi số ngày càng được nhìn nhận là sự chuyển đổi toàn diện về phương thức quản trị. Cốt lõi của chuyển đổi số nằm ở việc xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, chuẩn hóa quy trình xử lý công việc, tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao khả năng phối hợp giữa các cơ quan và cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công. Từ góc độ quản trị công hiện đại, công nghệ chỉ là công cụ, còn mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo lập môi trường phát triển thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) chỉ ra rằng Chính phủ số là một trong những nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch và nâng cao chất lượng quản trị công. Khi các quy trình hành chính được số hóa, dữ liệu được kết nối và chia sẻ đồng bộ, việc ra quyết định của cơ quan quản lý trở nên nhanh chóng, chính xác và có cơ sở khoa học hơn. Doanh nghiệp cũng được tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, giảm thời gian thực hiện thủ tục và hạn chế những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Nhận thức rõ vai trò của chuyển đổi số đối với nâng cao chất lượng điều hành, Yên Phú đang xây dựng nền tảng quản trị số phù hợp với điều kiện của chính quyền cấp cơ sở. Địa phương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như xây dựng cơ sở dữ liệu đảng viên 4.0, bảo đảm 100% cán bộ lãnh đạo được cấp chứng thư số, đẩy mạnh xử lý văn bản điện tử, thực hiện ký số trong giải quyết công việc, quản lý và điều hành trên môi trường số, đồng thời từng bước số hóa dữ liệu phục vụ công tác thống kê, theo dõi và chỉ đạo điều hành. Những nội dung này cho thấy chuyển đổi số không được tiếp cận như một hoạt động mang tính kỹ thuật đơn lẻ mà được lồng ghép vào quá trình đổi mới phương thức quản trị của chính quyền địa phương.
Việc hình thành hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu đã góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm đáng kể việc sử dụng hồ sơ giấy, tăng tính chính xác trong trao đổi thông tin và nâng cao khả năng giám sát quá trình thực thi công vụ. Dữ liệu được cập nhật và khai thác tập trung cũng tạo điều kiện để lãnh đạo địa phương theo dõi tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo thời gian thực, từ đó đưa ra quyết định điều hành kịp thời và sát thực tiễn hơn.
Hiệu quả của chuyển đổi số hiện ở việc nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy hành chính, thông qua những lợi ích thiết thực đối với cộng đồng doanh nghiệp. Khi quy trình giải quyết thủ tục được chuẩn hóa và thực hiện trên môi trường điện tử, doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin nhanh hơn, thực hiện các thủ tục hành chính thuận tiện hơn, giảm thời gian chờ đợi và cắt giảm đáng kể chi phí tuân thủ. Đồng thời, tính công khai và minh bạch của hệ thống số cũng góp phần tăng cường niềm tin của nhà đầu tư, hạn chế tình trạng chồng chéo trong xử lý công việc và nâng cao tính dự báo của môi trường kinh doanh.
Ở góc độ phát triển địa phương, chất lượng của chính quyền số đang trở thành một lợi thế cạnh tranh ngày càng quan trọng trong thu hút đầu tư và phát triển kinh tế tư nhân. Với Yên Phú, việc từng bước hoàn thiện nền tảng quản trị số nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền, tạo điều kiện để khơi thông các nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành hệ sinh thái kinh doanh thuận lợi hơn. Qua đó, chuyển đổi số trở thành cầu nối giữa cải cách hành chính với phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời tạo nền tảng cho quá trình phát triển bền vững của địa phương trong giai đoạn mới.
IV. NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỂ KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN LÂU DÀI
Mặc dù đã tạo dựng được những nền tảng quan trọng, quá trình phát triển kinh tế tư nhân tại Yên Phú vẫn đối mặt với không ít thách thức. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và khả năng tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế; trình độ quản trị giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều; mức độ ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số còn chậm, trong khi nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh kinh tế số. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn làm giảm sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân trong dài hạn.
Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, Yên Phú cần tiếp tục duy trì cải cách hành chính theo hướng minh bạch, thuận lợi và lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; hoàn thiện môi trường đầu tư, khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hỗ trợ ứng dụng công nghệ số, nâng cao kỹ năng số cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất sẽ góp phần mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với thị trường. Quan trọng hơn, phát triển kinh tế tư nhân cần được xác định là một chiến lược phát triển lâu dài, gắn với cải cách thể chế, nâng cao chất lượng quản trị và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, thay vì chỉ là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong ngắn hạn.
V. KẾT LUẬN
Thực tiễn tại Yên Phú cho thấy, kinh tế tư nhân chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò là động lực tăng trưởng khi được đặt trong một môi trường thể chế minh bạch, ổn định và được hỗ trợ bởi nền quản trị hiện đại. Sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển đã tạo điều kiện khơi thông các nguồn lực xã hội, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Khi đó, chính quyền kiến tạo, cải cách hành chính và chuyển đổi số trở thành ba trụ cột quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí thể chế, nâng cao chất lượng phục vụ và tăng cường năng lực cạnh tranh của địa phương. Kinh nghiệm từ Yên Phú cho thấy, giá trị cốt lõi của phát triển kinh tế tư nhân không được đo bằng số lượng doanh nghiệp thành lập mới, mà quan trọng hơn là khả năng xây dựng một hệ sinh thái phát triển lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm. Đây cũng là nền tảng để hình thành động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế địa phương và hiện thực hóa mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới./.
ThS Trần Đinh Tùng



