30/08/2026 lúc 15:27 (GMT+7)
Breaking News

Hiện đại hóa giáo dục: Từ đầu tư cơ sở vật chất đến kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên số

Đề xuất chính sách hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 cho thấy một cách tiếp cận mới: giáo dục không chỉ là lĩnh vực bảo đảm an sinh xã hội mà ngày càng được đặt ở vị trí nền tảng của phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu được thể chế hóa và triển khai hiệu quả, các chính sách này có thể tạo ra chuyển biến từ “mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục” sang “nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của người học”.

Hiện đại hóa giáo dục: Từ đầu tư cơ sở vật chất đến kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên số. Ảnh minh họa - TL

Từ nâng cấp trường lớp đến nâng cấp năng lực con người

Giáo dục Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu lớn hơn nhiều so với việc bảo đảm đủ trường, đủ lớp hay mở rộng quy mô đào tạo. Trong bối cảnh kinh tế chuyển dịch nhanh sang các ngành công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh và các mô hình sản xuất dựa trên tri thức, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành một trong những yếu tố quyết định tốc độ phát triển.

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 dành một cấu phần đáng chú ý cho hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực. Các nhóm chính sách được đề xuất trải rộng từ giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên đến giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, phát triển thị trường lao động, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.

Điểm đáng chú ý là tư duy chính sách đã dịch chuyển từ việc coi cơ sở vật chất là mục tiêu chủ yếu sang coi cơ sở vật chất, công nghệ, chương trình, đội ngũ và môi trường học tập là những thành tố của một hệ sinh thái giáo dục hiện đại.

Ở giáo dục mầm non và phổ thông, dự thảo đặt vấn đề xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp và kiên cố hóa phòng học, phòng bộ môn, thư viện, khu giáo dục thể chất, nhà công vụ giáo viên, nhà ăn, bếp ăn và các công trình phục vụ học sinh; đồng thời ưu tiên các cơ sở giáo dục dân tộc nội trú, bán trú, dự bị đại học và cơ sở giáo dục chuyên biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đây là một yêu cầu có tính nền tảng. Bởi chuyển đổi giáo dục không thể diễn ra trong những không gian học tập thiếu thốn, đặc biệt ở các địa bàn khó khăn. Khoảng cách về cơ sở vật chất nếu không được thu hẹp sẽ rất dễ chuyển hóa thành khoảng cách về chất lượng giáo dục và cuối cùng là khoảng cách về cơ hội phát triển của người học.

Nhưng hiện đại hóa giáo dục cũng không thể dừng ở việc xây thêm phòng học hay mua thêm thiết bị. Thách thức lớn hơn nằm ở việc làm thế nào để những nguồn lực đó thực sự thay đổi phương pháp dạy và học.

AI, STEM/STEAM và tiếng Anh: Ba trụ cột của trường học tương lai

Một trong những điểm nổi bật của đề xuất chính sách là đưa công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào sâu hơn trong hệ thống giáo dục.

Dự thảo đặt ra việc xây dựng mô hình trường học phát triển năng lực, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số và hội nhập quốc tế; trong đó có mô hình trường học thông minh ứng dụng công nghệ số và AI trong quản lý, giảng dạy và học tập. Cùng với đó là đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm, học liệu và đào tạo đội ngũ đáp ứng yêu cầu mới.

Đây là hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra một câu hỏi quan trọng: AI sẽ được sử dụng như một “công cụ hỗ trợ” hay trở thành một “phương thức tổ chức lại hoạt động giáo dục”?

Nếu chỉ trang bị phần mềm, máy tính hoặc nền tảng AI mà không thay đổi phương pháp sư phạm, chuyển đổi số rất dễ trở thành quá trình số hóa những cách làm cũ. Khi đó, trường học có thể có nhiều thiết bị hơn nhưng năng lực của người học chưa chắc được cải thiện tương ứng.

Vì vậy, giá trị thực sự của AI trong giáo dục phải được đo bằng khả năng cá thể hóa việc học, hỗ trợ giáo viên, phát hiện sớm những khoảng trống kiến thức, mở rộng khả năng tiếp cận học liệu và tạo môi trường để học sinh hình thành năng lực giải quyết vấn đề.

Cùng với AI, STEM/STEAM và tiếng Anh được đặt vào vị trí nổi bật. Dự thảo đề xuất xây dựng nội dung giáo dục STEM/STEAM, dạy một số môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh, phát triển kỹ năng số và từng bước xây dựng mô hình trường học có năng lực hội nhập quốc tế.

Định hướng này cũng tương đồng với những nhiệm vụ giáo dục đang được đặt ra ở tầm quốc gia. Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ giai đoạn 2026-2035 đã xác định việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, phát triển STEAM và nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số, đồng thời xây dựng đề án phát triển và ứng dụng AI trong giáo dục.

Tuy nhiên, bài toán không đơn giản là “dạy thêm tiếng Anh” hay “đưa thêm AI vào lớp học”. Điều quan trọng hơn là tạo ra một hệ thống giáo dục trong đó ngoại ngữ, công nghệ và khoa học trở thành công cụ để người học tiếp cận tri thức.

Thực tế kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 cho thấy tiếng Anh và một số môn STEM vẫn còn nhiều thách thức. Tỷ lệ bài thi dưới trung bình môn tiếng Anh ở mức 55,6%; ở Toán là 42,34%, Vật lý 42,69%, Sinh học 34,7% và Tin học 27,83%. Những con số này cho thấy việc nâng cao năng lực ngoại ngữ, toán học, khoa học và công nghệ vẫn là nhiệm vụ dài hạn.

Do đó, đầu tư cho STEM, AI và tiếng Anh cần được nhìn như một quá trình cải tổ năng lực nền tảng của người học, chứ không phải một phong trào công nghệ mới.

Phát hiện và nuôi dưỡng nhân tài từ sớm

Một điểm đáng chú ý khác trong đề xuất là chính sách phát hiện, ươm mầm và bồi dưỡng tài năng, năng khiếu; phát triển kỹ năng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và kỹ thuật then chốt.

Theo đó, có thể xây dựng công cụ, bộ tiêu chí định hướng nghề nghiệp; lựa chọn học sinh có năng khiếu; tổ chức câu lạc bộ khoa học - kỹ thuật, sáng tạo, khởi nghiệp; đưa học sinh đến trải nghiệm tại doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và kết nối với chuyên gia.

Đây là sự thay đổi quan trọng về quan niệm phát triển nhân lực.

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ được tạo ra ở giai đoạn đại học. Những năng lực về tư duy khoa học, sáng tạo, giải quyết vấn đề và tinh thần khởi nghiệp cần được hình thành từ sớm.

Quan trọng hơn, việc phát hiện năng khiếu không nên chỉ giới hạn ở học sinh có thành tích học tập cao. Một hệ thống đánh giá hiện đại cần nhận diện nhiều dạng năng lực khác nhau, từ tư duy toán học, khoa học, công nghệ đến năng lực sáng tạo, thiết kế, nghệ thuật, lãnh đạo và giải quyết vấn đề thực tiễn.

Nếu làm tốt, trường học có thể trở thành “vườn ươm” đầu tiên của nguồn nhân lực cho những ngành công nghệ chiến lược.

Đại học phải tiến gần hơn đến nghiên cứu và thị trường

Đối với giáo dục đại học, đề xuất chính sách cho thấy định hướng tập trung nguồn lực vào các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và cơ sở thực hành; ưu tiên các cơ sở đào tạo ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Điểm quan trọng hơn nằm ở yêu cầu gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ; thúc đẩy các trường liên kết, đặt hàng với tổ chức khoa học - công nghệ, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu thị trường lao động.

Đây chính là hướng giải quyết một trong những khoảng cách lớn của giáo dục đại học: khoảng cách giữa giảng đường và thị trường lao động.

Trong nền kinh tế mới, doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp mà cần trở thành một chủ thể tham gia vào quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo phải phản ánh được sự thay đổi của công nghệ, tiêu chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực.

Một trường đại học hiện đại vì vậy không chỉ được đánh giá bằng số lượng sinh viên hay công trình nghiên cứu, mà còn phải được nhìn nhận qua năng lực tạo ra tri thức, chuyển giao tri thức và biến tri thức thành sản phẩm, công nghệ, doanh nghiệp và giá trị xã hội.

Giáo dục nghề nghiệp phải đi thẳng vào những ngành kinh tế mới

Nếu giáo dục đại học được kỳ vọng tạo ra lực lượng nhân lực nghiên cứu, quản trị và chuyên gia, thì giáo dục nghề nghiệp phải trở thành một trong những trụ cột cung ứng nhân lực kỹ thuật cho quá trình công nghiệp hóa mới.

Dự thảo đề xuất ưu tiên đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo những ngành như công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, AI, tự động hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời, chương trình đào tạo được định hướng tiếp cận tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, khu vực và quốc tế.

Đáng chú ý, chính sách còn hướng tới đào tạo nghề gắn với vị trí việc làm thực tế và thực hành tại doanh nghiệp; hỗ trợ cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và tuyển dụng.

Đây là hướng tiếp cận cần được đẩy mạnh. Thị trường lao động trong những năm tới sẽ không chỉ cần kỹ sư hay cử nhân mà còn cần số lượng lớn kỹ thuật viên, nhân lực vận hành, nhân lực bảo trì, nhân lực tự động hóa, bán dẫn, robot, năng lượng, logistics và các ngành công nghệ mới.

Một nền giáo dục hiện đại vì vậy phải bảo đảm tính liên thông giữa giáo dục phổ thông - giáo dục nghề nghiệp - giáo dục đại học - thị trường lao động, đồng thời tạo cơ hội học tập suốt đời và đào tạo lại khi công nghệ thay đổi.

Đầu tư cho giáo viên là đầu tư có tính quyết định

Công nghệ có thể thay đổi lớp học nhưng không thể thay thế vai trò của người thầy trong việc hình thành nhân cách, định hướng tư duy và phát triển năng lực người học.

Dự thảo dành một nhóm chính sách riêng cho nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Nội dung bao gồm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản trị; năng lực số, AI và sử dụng hệ sinh thái học tập số; đào tạo đội ngũ phục vụ các ngành, nghề trọng điểm và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đây có thể xem là “nút thắt” quyết định thành công của quá trình hiện đại hóa. Một trường học thông minh nhưng giáo viên chưa đủ năng lực sử dụng công nghệ sẽ khó tạo ra thay đổi thực chất. Một chương trình STEM hiện đại nhưng thiếu giáo viên có năng lực tổ chức hoạt động nghiên cứu sẽ dễ trở thành những tiết học mang tính trình diễn. Một chủ trương dạy môn học bằng tiếng Anh nhưng thiếu giáo viên vừa giỏi chuyên môn vừa đủ năng lực ngoại ngữ cũng khó có thể mở rộng bền vững.

Bởi vậy, đầu tư cho giáo viên cần được xem là đầu tư dài hạn, không phải hoạt động tập huấn ngắn hạn.

Không để hiện đại hóa tạo thêm khoảng cách giáo dục

Một trong những giá trị quan trọng của chính sách mới là kết hợp hiện đại hóa với bảo đảm công bằng giáo dục.

Dự thảo đề xuất hỗ trợ học phí, chi phí học tập, tiền ăn cho trẻ em và học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo; hỗ trợ sách giáo khoa miễn phí theo lộ trình, ưu tiên vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đối với giáo dục nghề nghiệp, chính sách cũng hướng tới hỗ trợ học phí, tiền ăn, chỗ ở, đi lại và vật tư thực hành cho người học thuộc các nhóm khó khăn.

Đây là điều đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi số. Nếu không có chính sách điều tiết, AI, thiết bị số, ngoại ngữ và các mô hình giáo dục chất lượng cao có thể được tiếp cận trước hết bởi những nhóm học sinh có điều kiện kinh tế tốt. Khi đó, công nghệ thay vì thu hẹp khoảng cách lại có thể làm khoảng cách giáo dục sâu thêm. Hiện đại hóa giáo dục vì thế phải đi cùng phổ cập cơ hội tiếp cận.

Chuyển đổi số phải đi cùng quản trị bằng dữ liệu

Một nội dung có ý nghĩa nền tảng khác là chuẩn hóa và kết nối dữ liệu giáo dục. Dự thảo đề xuất xây dựng các bộ chuẩn và công cụ đánh giá năng lực chuyển đổi số, AI và đổi mới sáng tạo đối với nhà giáo, cán bộ quản lý; nâng cấp hệ thống quản lý thông tin, quản lý học tập và kho học liệu mở; đồng thời chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu chuyên ngành giáo dục với cơ sở dữ liệu dùng chung.

Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là bước tiến quan trọng từ quản lý giáo dục dựa nhiều vào báo cáo hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Dữ liệu có thể giúp nhận diện nhu cầu nhân lực, năng lực người học, chất lượng đào tạo, hiệu quả đầu tư và những khu vực còn thiếu hụt nguồn lực. Nhưng để đạt được điều đó, dữ liệu phải được chuẩn hóa, liên thông và đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin cá nhân. Đây cũng là lĩnh vực đòi hỏi năng lực quản trị mới của ngành giáo dục.

Từ chính sách đầu tư đến một hệ sinh thái phát triển con người

Nhìn tổng thể, đề xuất chính sách hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026-2035 có thể được xem như một bước chuyển từ tư duy “đầu tư cho giáo dục” sang “đầu tư cho hệ sinh thái phát triển con người”.

Hệ sinh thái đó bao gồm trường học, giáo viên, công nghệ, chương trình đào tạo, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, thị trường lao động và các chính sách bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới. Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 cũng đặt trọng tâm vào hiện đại hóa nền giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế và phát triển nhân lực cho những lĩnh vực như AI, bán dẫn, điện tử, công nghệ số, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, năng lượng, vật liệu tiên tiến, robot và tự động hóa.

Tuy nhiên, để những định hướng này trở thành kết quả thực tế, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở chất lượng thiết kế chính sách và phương thức thực hiện.

Cần tránh tình trạng đầu tư dàn trải, chạy theo thiết bị hoặc phong trào công nghệ; cần có tiêu chí đo lường rõ ràng về chất lượng đầu ra, năng lực người học và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Các mô hình mới nên được thí điểm, đánh giá độc lập trước khi nhân rộng; nguồn lực cần ưu tiên cho những địa bàn, nhóm đối tượng và ngành đào tạo thực sự có nhu cầu.

Đặc biệt, hiện đại hóa giáo dục phải được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế. Đào tạo nhân lực không thể tách khỏi nhu cầu của doanh nghiệp, các ngành công nghiệp chiến lược và quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Mở rộng cánh cửa cho một thế hệ công dân mới

Chính sách giáo dục hiện đại cuối cùng không chỉ nhằm tạo ra những người lao động có kỹ năng tốt hơn. Mục tiêu sâu xa hơn là hình thành một thế hệ công dân có năng lực thích ứng với thay đổi, làm chủ công nghệ, có tư duy sáng tạo, khả năng học tập suốt đời và trách nhiệm với cộng đồng.

Dự thảo cũng đặt vấn đề phát triển toàn diện người học thông qua giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kiến thức pháp luật, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội; đồng thời tăng cường tư vấn tâm lý học đường, hướng nghiệp và khởi nghiệp.

Đó là điểm cần được nhấn mạnh trong quá trình hiện đại hóa. AI có thể giúp con người xử lý thông tin nhanh hơn, nhưng giáo dục phải giúp con người biết lựa chọn thông tin đúng. Công nghệ có thể thay đổi nghề nghiệp, nhưng giáo dục phải giúp người học có khả năng thích ứng với những nghề nghiệp chưa tồn tại hôm nay. Thị trường lao động có thể thay đổi liên tục, nhưng những phẩm chất về trách nhiệm, sáng tạo, kỷ luật và tinh thần học tập suốt đời vẫn là nền tảng.

Vì vậy, hiện đại hóa giáo dục không đơn thuần là xây dựng những ngôi trường thông minh. Đó là quá trình xây dựng một nền giáo dục đủ năng lực tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, có kỹ năng, có bản lĩnh và có khả năng đồng hành cùng quá trình phát triển của đất nước.

Nếu được triển khai đồng bộ, có trọng tâm và lấy người học làm trung tâm, các chính sách đề xuất cho giai đoạn 2026-2035 có thể tạo thêm một nền tảng quan trọng để Việt Nam chuyển từ lợi thế về quy mô dân số sang lợi thế về chất lượng nguồn nhân lực. Khi đó, giáo dục không chỉ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện tại mà còn trở thành lực lượng chuẩn bị nguồn nhân lực cho những ngành công nghệ, mô hình sản xuất và cơ hội phát triển của tương lai.

ThS Hà Sơn Thủy

Tài liệu tham khảo

  1. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Quyết định số 1888/QĐ-BGDĐT ngày 30/6/2026 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: 2026-2030.
  3. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 7/4/2026 về kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 249/2025/QH15 của Quốc hội.
  4. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Đề xuất chính sách hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo”, ngày 29/8/2026. Đây là nguồn trực tiếp cho các nội dung về cơ sở vật chất, thiết bị số, STEAM, tiếng Anh, AI, giáo dục nghề nghiệp, đại học, đội ngũ nhà giáo và hỗ trợ người học trong bài viết.
  5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025), thông tin về quá trình Quốc hội thảo luận chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.
  6. Đại biểu Nhân dân (2025), “Hiện đại hóa, tạo bước chuyển căn bản về chất lượng giáo dục và đào tạo”, phân tích mục tiêu, phạm vi và định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035.