Tóm tắt: Việc tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam vào ngày 24/11, bắt đầu từ năm 2026, mở ra một hướng tiếp cận mới trong quá trình đưa văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước. Gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ tạo nên không gian hoạt động văn hóa rộng khắp mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức theo hướng lấy nhân dân làm chủ thể, cộng đồng làm trung tâm và hiệu quả thực chất làm thước đo. Để sự kiện có sức sống lâu dài, cần chuyển từ tư duy tổ chức lễ hội sang phát triển môi trường văn hóa, từ hoạt động mang tính phong trào sang cơ chế khuyến khích sáng tạo, bảo tồn và thụ hưởng văn hóa thường xuyên. Đây cũng là cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, phát huy nguồn lực xã hội và tăng cường sự gắn kết cộng đồng trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Ngày Văn hóa Việt Nam; phát triển văn hóa; nhân dân là chủ thể; đại đoàn kết toàn dân tộc; công nghiệp văn hóa; chuyển đổi số.
Abstract: The establishment of Vietnam Culture Day on November 24, beginning in 2026, opens up a new approach to positioning culture as the spiritual foundation, endogenous resource and driving force of national development. Linking Vietnam Culture Day with the National Great Unity Festival creates opportunities for nationwide cultural activities while highlighting the need to place citizens at the center of cultural creation, participation and enjoyment. For the initiative to achieve lasting impact, implementation must move beyond annual celebrations toward the development of sustainable cultural environments, community-based creativity and broader access to cultural resources. The event also provides an opportunity to accelerate digital transformation in the cultural sector, mobilize social resources and strengthen community cohesion in an increasingly interconnected world.
Keywords: Vietnam Culture Day; cultural development; people-centered approach; national great unity; cultural industries; digital transformation.
![]()
Ảnh minh họa - TL
1. Đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, kinh tế có thể tạo ra sự thay đổi về quy mô nguồn lực, khoa học và công nghệ mở rộng năng lực sản xuất, còn văn hóa góp phần định hình hệ giá trị, bản lĩnh, lối sống và cách một xã hội lựa chọn con đường phát triển. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh, nhưng để duy trì sự phát triển bền vững, xã hội cần có nền tảng văn hóa đủ vững chắc, con người có trách nhiệm, cộng đồng có sự gắn kết và các giá trị chung được gìn giữ, bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Đối với Việt Nam, văn hóa không chỉ là di sản của lịch sử hay tập hợp các hoạt động nghệ thuật, lễ hội, phong tục. Văn hóa còn hiện diện trong cách ứng xử giữa người với người, trong kỷ cương pháp luật, đạo đức công vụ, văn hóa kinh doanh, ý thức bảo vệ môi trường, tinh thần tương trợ và trách nhiệm đối với cộng đồng. Vì vậy, phát triển văn hóa cần được nhìn nhận như một quá trình toàn diện, gắn với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong định hướng đó, văn hóa không thể chỉ được quan tâm vào những dịp kỷ niệm, sự kiện lớn, mà cần trở thành một thành tố thường xuyên trong hoạch định chính sách, tổ chức đời sống cộng đồng và nâng cao chất lượng phát triển con người.
Việc tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam vào ngày 24/11 từ năm 2026, theo kế hoạch của Chính phủ, vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ một ngày kỷ niệm. Đây là dịp để các cấp, ngành và toàn xã hội cùng nhìn nhận sâu sắc hơn vai trò của văn hóa; đồng thời tạo cơ hội để người dân tiếp cận, tham gia sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hóa ngay trong môi trường sống của mình.
Theo thông tin tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngày 12/10/2026, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg về Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2026–2030 và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 30/9/2026 về tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026. Chuỗi hoạt động Tuần Văn hóa – Đại đoàn kết toàn dân tộc dự kiến diễn ra từ ngày 18 đến ngày 24/11/2026.
Điểm đáng chú ý là định hướng tổ chức không chỉ tập trung vào biểu diễn nghệ thuật, triển lãm hay hoạt động tuyên truyền, mà nhấn mạnh yêu cầu đưa văn hóa về cơ sở, lấy cộng đồng dân cư làm trung tâm và bảo đảm người dân trực tiếp tham gia. Đây chính là yếu tố quyết định để Ngày Văn hóa Việt Nam không dừng lại ở một chương trình có quy mô lớn, mà từng bước trở thành một thiết chế văn hóa có ý nghĩa trong đời sống xã hội.
2. Lấy nhân dân làm chủ thể: Sự chuyển đổi căn bản trong tư duy tổ chức văn hóa
Một trong những yêu cầu nổi bật được đặt ra đối với Ngày Văn hóa Việt Nam là phải bảo đảm nhân dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa. Yêu cầu này gợi mở sự chuyển đổi quan trọng: từ cách tổ chức hoạt động văn hóa chủ yếu theo phương thức cơ quan quản lý xây dựng chương trình, người dân đến tham dự, sang mô hình trong đó cộng đồng cùng tham gia lựa chọn nội dung, tổ chức hoạt động, gìn giữ giá trị và tạo ra sản phẩm văn hóa.
Trên thực tế, một chương trình nghệ thuật có thể thu hút đông đảo khán giả, một lễ hội có thể tạo không khí sôi động, một triển lãm có thể mang lại hiệu ứng truyền thông tích cực. Tuy nhiên, số lượng người tham dự chưa đủ để phản ánh đầy đủ hiệu quả phát triển văn hóa. Điều quan trọng hơn là sau sự kiện, người dân có thêm cơ hội tiếp cận văn hóa hay không; các câu lạc bộ, đội văn nghệ, nhóm sáng tạo cộng đồng có được duy trì hay không; những giá trị văn hóa địa phương có được nhận diện, bảo tồn và truyền lại cho thế hệ trẻ hay không.
Nếu người dân chỉ đứng ngoài quan sát các hoạt động được tổ chức sẵn, văn hóa dễ trở thành một sản phẩm cung cấp từ trên xuống. Ngược lại, khi người cao tuổi tham gia truyền dạy dân ca, nghệ nhân hướng dẫn nghề truyền thống, thanh thiếu niên thực hiện dự án số hóa di sản, các gia đình cùng tổ chức hoạt động đọc sách hoặc các khu dân cư xây dựng không gian sinh hoạt chung, văn hóa được tái tạo từ chính đời sống thường ngày.
Cần nhấn mạnh rằng, lấy nhân dân làm chủ thể không đồng nghĩa với việc Nhà nước giảm vai trò quản lý hay phó mặc hoạt động văn hóa cho cộng đồng. Nhà nước vẫn giữ vai trò kiến tạo thể chế, bảo đảm nguồn lực nền tảng, bảo tồn di sản có giá trị đặc biệt, hỗ trợ nhóm yếu thế và tạo điều kiện để các sáng kiến văn hóa được phát triển. Sự thay đổi nằm ở phương thức thực hiện: cơ quan quản lý không chỉ tổ chức hoạt động cho người dân, mà còn phải tạo điều kiện để người dân có tiếng nói, có khả năng tham gia và có cơ hội chủ động đóng góp.
Điều đó đòi hỏi quá trình xây dựng kế hoạch phải bắt đầu từ nhu cầu thực tế của từng cộng đồng. Ở khu vực đô thị, người dân có thể quan tâm đến không gian đọc sách, sân chơi cho trẻ em, hoạt động nghệ thuật đường phố, triển lãm sáng tạo và các chương trình trải nghiệm di sản. Tại vùng nông thôn, nhu cầu có thể gắn với bảo tồn lễ hội truyền thống, phục hồi nghề thủ công, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát huy thiết chế nhà văn hóa. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm cần là bảo tồn ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật trình diễn, tri thức bản địa và các giá trị văn hóa đặc sắc.
Sự đa dạng ấy không nên bị thu hẹp bởi một khuôn mẫu hoạt động áp dụng giống nhau trên toàn quốc. Một hệ thống thông điệp chung có thể tạo sự thống nhất, nhưng nội dung và cách thức triển khai phải phản ánh được bản sắc địa phương. Chính khả năng dung hòa giữa thống nhất quốc gia và đa dạng văn hóa cộng đồng sẽ tạo nên sức hấp dẫn thực chất của Ngày Văn hóa Việt Nam.
3. Gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc: Phát huy sức mạnh cộng đồng
Văn hóa và đại đoàn kết toàn dân tộc có mối quan hệ tương hỗ. Văn hóa tạo ra những giá trị chung, giúp các cá nhân và nhóm xã hội nhận diện sự gắn bó với cộng đồng; còn tinh thần đại đoàn kết tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được trao truyền, phát triển và lan tỏa trong một không gian xã hội thống nhất.
Việc gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc vì vậy mang ý nghĩa thiết thực. Thay vì tổ chức những hoạt động tách biệt, hai nội dung có thể bổ trợ cho nhau: văn hóa làm sâu sắc hơn ý nghĩa của sự đoàn kết, trong khi các hoạt động cộng đồng tạo môi trường để văn hóa hiện diện trong đời sống.
Ở cấp thôn, bản, tổ dân phố, những giá trị ấy thường không được thể hiện bằng các chương trình quy mô lớn mà bắt đầu từ những việc gần gũi: các gia đình cùng tham gia dọn dẹp đường làng, ngõ phố; người dân trao đổi sách, giới thiệu món ăn truyền thống; các thế hệ cùng kể chuyện lịch sử địa phương; nghệ nhân hướng dẫn trẻ em thực hành làn điệu dân ca; cộng đồng cùng xây dựng quy ước ứng xử văn minh tại không gian công cộng.
Những hoạt động như vậy có thể không tạo ra hình ảnh hoành tráng, nhưng lại góp phần hình thành sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm và khả năng hợp tác giữa các thành viên cộng đồng. Đây là những nền tảng quan trọng để giải quyết các vấn đề chung của xã hội, từ bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự đến chăm lo người có hoàn cảnh khó khăn.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, sự thay đổi cơ cấu dân cư và nhịp sống hiện đại đang làm biến đổi nhiều quan hệ cộng đồng truyền thống. Tại các khu chung cư, khu công nghiệp và khu đô thị mới, người dân có thể sống gần nhau về không gian nhưng ít có cơ hội tương tác. Những không gian sinh hoạt văn hóa chung, nếu được tổ chức phù hợp, có thể giúp hình thành quan hệ láng giềng, tạo môi trường giao tiếp giữa các thế hệ và tăng cường sự gắn bó với nơi cư trú.
Đối với vùng nông thôn, hoạt động văn hóa cộng đồng có thể góp phần duy trì bản sắc trong quá trình chuyển đổi sinh kế và phát triển kinh tế. Với địa bàn có nhiều dân tộc, tôn giáo cùng sinh sống, các chương trình giao lưu văn hóa được tổ chức trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt có thể mở rộng hiểu biết, củng cố quan hệ hợp tác và hạn chế định kiến.
Tuy nhiên, sự gắn kết cộng đồng không thể được tạo ra chỉ bằng việc tổ chức một ngày hội. Muốn có kết quả lâu dài, hoạt động trong tuần lễ cần trở thành điểm khởi đầu cho các chương trình thường xuyên: duy trì câu lạc bộ văn hóa, tổ chức sinh hoạt định kỳ, xây dựng tủ sách cộng đồng, bảo tồn không gian di sản và phát triển các mô hình tự quản văn hóa.
Nói cách khác, giá trị của sự kiện không chỉ nằm ở thời điểm diễn ra, mà còn ở những mối quan hệ xã hội, sáng kiến cộng đồng và thói quen văn hóa được hình thành sau đó.
4. Từ phong trào ngắn hạn đến môi trường văn hóa bền vững
Một thách thức đối với việc tổ chức các sự kiện văn hóa trên phạm vi rộng là nguy cơ đồng nhất hiệu quả với quy mô, số lượng hoạt động hoặc mức độ sôi động của chương trình. Khi áp lực tạo dấu ấn ngay trong năm đầu tiên trở nên lớn, một số địa phương có thể ưu tiên hình thức trình diễn, trang trí, sân khấu và truyền thông, trong khi các nhu cầu văn hóa thường nhật của người dân chưa được quan tâm tương xứng.
Bởi vậy, yêu cầu thiết thực, tiết kiệm, tránh phô trương và hình thức cần được xem là nguyên tắc xuyên suốt. Một địa phương không nhất thiết phải có chương trình biểu diễn lớn mới có thể tạo dấu ấn. Đôi khi, việc mở cửa thư viện vào buổi tối, tổ chức ngày đọc sách tại trường học, phục hồi một làn điệu dân ca, tạo không gian sinh hoạt cho trẻ em hoặc giúp người cao tuổi tiếp cận các thiết chế văn hóa đã có thể mang lại lợi ích trực tiếp và lâu dài.
Điều cần thay đổi trước hết là cách xác định mục tiêu. Thay vì bắt đầu bằng câu hỏi sẽ tổ chức bao nhiêu sự kiện, địa phương nên xác định người dân đang thiếu cơ hội văn hóa nào, nhóm đối tượng nào chưa được phục vụ đầy đủ và những giá trị bản địa nào cần được gìn giữ. Trên cơ sở đó, lựa chọn hoạt động phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và khả năng huy động nguồn lực xã hội.
Một nguyên tắc quan trọng khác là không để tuần lễ văn hóa trở thành gánh nặng đối với ngân sách hoặc đời sống người dân. Việc huy động đóng góp cần minh bạch, phù hợp quy định, không tạo áp lực tài chính cho hộ gia đình, không chạy theo thành tích và không biến hoạt động cộng đồng thành cơ hội quảng bá thương mại thiếu kiểm soát.
Các chương trình tài trợ của doanh nghiệp có thể góp phần bổ sung nguồn lực, nhưng cần gắn với lợi ích văn hóa cụ thể, chẳng hạn hỗ trợ thiết bị cho thư viện, phục hồi nghề truyền thống, trao học bổng nghệ thuật, tạo cơ hội tiếp cận biểu diễn cho trẻ em hoặc bảo tồn di sản. Hiệu quả hợp tác cần được đánh giá bằng giá trị mang lại cho cộng đồng, không chỉ bằng mức độ xuất hiện của thương hiệu.
Để tránh tình trạng hoạt động kết thúc cùng sự kiện, mỗi địa phương nên xác định một số mục tiêu tiếp nối có thể kiểm chứng. Chẳng hạn, sau tuần lễ, câu lạc bộ văn hóa nào sẽ tiếp tục hoạt động; không gian văn hóa nào được duy trì; số trường học, tổ dân phố hoặc nhóm cộng đồng nào tham gia chương trình đọc sách; những nghệ nhân nào được hỗ trợ truyền dạy; dữ liệu di sản nào được cập nhật và bảo tồn.
Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ tổ chức sự kiện sang tạo dựng môi trường văn hóa. Một môi trường văn hóa tốt không chỉ có nhiều chương trình, mà phải tạo điều kiện để người dân thường xuyên tiếp cận những hoạt động có chất lượng, được khuyến khích sáng tạo và có khả năng duy trì các thực hành văn hóa tích cực trong đời sống.
5. Mở rộng không gian thụ hưởng, bảo đảm cơ hội tiếp cận văn hóa công bằng
Một chính sách văn hóa chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi các cơ hội tiếp cận không bị giới hạn bởi nơi cư trú, điều kiện kinh tế, tuổi tác, khuyết tật hay khả năng sử dụng công nghệ. Nếu các hoạt động tập trung chủ yếu tại trung tâm đô thị, nhóm dân cư ở xa, người có thu nhập thấp, người cao tuổi hoặc trẻ em có thể khó tham gia.
Định hướng mở rộng không gian văn hóa vì vậy cần được triển khai theo cả chiều rộng địa lý và chiều sâu phục vụ. Bên cạnh bảo tàng, thư viện, nhà hát, rạp chiếu phim và di tích, cần phát huy trường học, nhà văn hóa, công viên, không gian công cộng, thiết chế văn hóa – thể thao ở cơ sở và những địa điểm sinh hoạt phù hợp khác.
Tại Hội nghị ngày 12/10/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu phát huy các thiết chế văn hóa, mở rộng cơ hội phục vụ nhân dân; đồng thời đề nghị xem xét mở cửa rộng rãi, kéo dài thời gian phục vụ, miễn hoặc giảm phí phù hợp, nhất là trong ngày 24/11. Đây là định hướng có ý nghĩa thực tế, bởi khả năng tiếp cận văn hóa không chỉ phụ thuộc vào việc có thiết chế hay không, mà còn phụ thuộc vào giờ mở cửa, chi phí, khoảng cách và mức độ phù hợp của dịch vụ.
Một thư viện chỉ mở cửa trong giờ hành chính có thể khó phục vụ người lao động. Một bảo tàng có nội dung trưng bày thiếu hình thức tương tác sẽ khó thu hút trẻ em. Một chương trình nghệ thuật chỉ tổ chức tại trung tâm tỉnh có thể nằm ngoài khả năng tiếp cận của người dân vùng xa. Vì vậy, chính sách cần quan tâm đồng thời đến cơ sở vật chất, phương thức phục vụ và nhu cầu thực tế của từng nhóm đối tượng.
Bên cạnh đó, cần chú trọng khả năng tiếp cận của người khuyết tật, người cao tuổi và trẻ nhỏ thông qua hạ tầng phù hợp, thông tin dễ hiểu, các chương trình có tính bao trùm và phương thức hỗ trợ cần thiết. Các hoạt động văn hóa dành cho cộng đồng không nên chỉ phục vụ nhóm có điều kiện tham gia thuận lợi, mà phải tạo cơ hội để những người ít có điều kiện tiếp cận cũng được hưởng lợi.
Với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo, việc đưa chương trình văn hóa lưu động, thư viện lưu động, chiếu phim cộng đồng, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động truyền dạy di sản đến gần người dân có thể tạo ra những chuyển biến thiết thực. Đồng thời, cần tránh cách làm coi văn hóa địa phương chỉ là nội dung trình diễn cho khách tham quan. Người dân phải có quyền tham gia quyết định cách giới thiệu, bảo tồn và khai thác các giá trị của chính cộng đồng mình.
Xét về dài hạn, mở rộng thụ hưởng văn hóa không chỉ mang ý nghĩa nâng cao đời sống tinh thần. Đây còn là một khía cạnh của phát triển con người, góp phần tăng khả năng sáng tạo, mở rộng hiểu biết, củng cố sự tự tin và nâng cao chất lượng đời sống xã hội.
6. Chuyển đổi số: Mở rộng không gian văn hóa nhưng không thay thế trải nghiệm thực
Chuyển đổi số đang tạo ra những phương thức mới để bảo tồn, giới thiệu và tiếp cận văn hóa. Các nền tảng dữ liệu, bảo tàng trực tuyến, thư viện số, công nghệ thực tế ảo, bản đồ di sản và các chương trình nghệ thuật trên môi trường mạng có thể giúp người dân tiếp cận tài nguyên văn hóa vượt ra ngoài giới hạn không gian, thời gian.
Trong kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026, Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam là một điểm đáng chú ý. Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc ngày 12/10, đến ngày 9/10, toàn bộ 34 tỉnh, thành phố đã được cấp tài khoản, hướng dẫn cập nhật dữ liệu và xác định đầu mối quản lý thông tin. Nền tảng dự kiến được công bố trên phạm vi toàn quốc vào ngày 1/11/2026.
Nếu được xây dựng và vận hành hiệu quả, bản đồ số có thể trở thành công cụ kết nối dữ liệu di tích, lễ hội, thiết chế văn hóa, làng nghề, nghệ nhân, điểm đến và các hoạt động cộng đồng. Người dân có thể tìm kiếm địa điểm văn hóa gần nơi sinh sống; trường học có thể lựa chọn điểm trải nghiệm phù hợp; nhà nghiên cứu có thêm nguồn dữ liệu; doanh nghiệp văn hóa và du lịch có cơ sở phát triển sản phẩm gắn với tài nguyên bản địa.
Tuy nhiên, giá trị của nền tảng không chỉ nằm ở việc tập hợp thông tin lên môi trường số. Chất lượng dữ liệu, khả năng cập nhật, tính chính xác, sự thống nhất về chuẩn thông tin và cơ chế phối hợp giữa các địa phương mới quyết định hiệu quả sử dụng. Nếu dữ liệu thiếu, trùng lặp hoặc lỗi thời, nền tảng khó trở thành công cụ hữu ích cho cộng đồng.
Một yêu cầu khác là phải bảo đảm quyền tiếp cận của người ít có kỹ năng số. Công nghệ cần làm giảm rào cản, chứ không tạo ra khoảng cách mới. Bản đồ số và các chương trình trực tuyến nên được thiết kế dễ sử dụng, tương thích với thiết bị phổ biến, đồng thời duy trì các hình thức cung cấp thông tin trực tiếp tại cơ sở.
Đặc biệt, không nên đồng nhất chuyển đổi số văn hóa với việc đưa mọi hoạt động lên mạng. Trải nghiệm trực tiếp tại di tích, việc nghe nghệ nhân kể chuyện, tham gia một lễ hội truyền thống, cùng hát dân ca hay thực hành nghề thủ công có những giá trị mà công nghệ không thể thay thế hoàn toàn. Phương thức phù hợp là kết hợp hai không gian: công nghệ giúp mở rộng khả năng tìm hiểu, kết nối và lưu giữ; trải nghiệm thực tế tạo chiều sâu cảm xúc, sự tương tác và khả năng truyền nối văn hóa giữa con người với con người.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và công nghệ tạo sinh phát triển nhanh, việc ứng dụng công nghệ vào giới thiệu di sản cũng cần đi cùng trách nhiệm về tính xác thực. Nội dung số phải phân biệt rõ tư liệu lịch sử với sản phẩm tái dựng, tránh làm sai lệch thông tin, xâm phạm quyền của chủ thể văn hóa hoặc thương mại hóa thiếu kiểm soát những giá trị thuộc về cộng đồng.
7. Phát huy nguồn lực xã hội, thúc đẩy công nghiệp văn hóa
Văn hóa vừa là giá trị tinh thần, vừa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế khi được tổ chức, sáng tạo và khai thác phù hợp. Nhiều sản phẩm văn hóa có thể kết nối với du lịch, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, ẩm thực và các dịch vụ sáng tạo. Vì vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam cũng có thể trở thành dịp giới thiệu năng lực sáng tạo, quảng bá sản phẩm văn hóa và mở rộng thị trường cho các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế văn hóa phải được đặt trên nền tảng bảo vệ giá trị văn hóa, tôn trọng quyền lợi của người sáng tạo và cộng đồng sở hữu di sản. Không phải mọi giá trị văn hóa đều có thể khai thác thương mại theo cùng một phương thức. Với di sản tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống và tri thức bản địa, yêu cầu bảo vệ tính nguyên gốc, sự tôn trọng và quyền tham gia của cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu.
Trong tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam, doanh nghiệp có thể tham gia thông qua tài trợ, cung cấp dịch vụ, hỗ trợ công nghệ, tổ chức hoạt động sáng tạo hoặc phát triển sản phẩm văn hóa có trách nhiệm. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, nghệ nhân và tổ chức xã hội cũng có thể đóng góp chuyên môn, nhân lực và ý tưởng.
Để nguồn lực xã hội được huy động hiệu quả, cần xây dựng cơ chế hợp tác minh bạch, phân định rõ trách nhiệm và bảo đảm lợi ích công cộng. Những hoạt động do doanh nghiệp tài trợ không nên làm lu mờ mục tiêu văn hóa hoặc biến ngày hội thành chuỗi sự kiện quảng cáo. Ngược lại, sự tham gia của khu vực tư nhân cần được khuyến khích khi tạo ra giá trị rõ ràng cho người dân và góp phần duy trì các hoạt động văn hóa sau sự kiện.
Đối với các địa phương có lợi thế về di sản, làng nghề, ẩm thực và cảnh quan, chuỗi hoạt động có thể tạo điều kiện để hình thành các sản phẩm trải nghiệm gắn với bản sắc địa phương. Điều này giúp kết nối bảo tồn văn hóa với sinh kế, tạo thêm cơ hội việc làm cho nghệ nhân, người làm nghề truyền thống và các doanh nghiệp sáng tạo.
Dẫu vậy, hiệu quả kinh tế không nên là thước đo duy nhất. Một mô hình bảo tồn ngôn ngữ dân tộc, một lớp truyền dạy nghệ thuật truyền thống cho trẻ em hay một không gian đọc sách miễn phí có thể không tạo doanh thu trực tiếp nhưng vẫn đem lại lợi ích xã hội đáng kể. Chính sách cần có cơ chế đánh giá đa chiều, ghi nhận cả giá trị tinh thần, xã hội và kinh tế của hoạt động văn hóa.
8. Những điều kiện để Ngày Văn hóa Việt Nam có sức sống lâu dài
Năm 2026 là năm đầu tiên tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam trên phạm vi cả nước. Vì vậy, việc tạo dấu ấn là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là xây dựng được phương thức tổ chức có khả năng kế thừa, điều chỉnh và phát triển qua từng năm.
Trước hết, cần bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo nhưng linh hoạt trong thực hiện. Các cơ quan Trung ương có thể hướng dẫn khung hoạt động, mục tiêu, nhận diện và tiêu chí đánh giá; địa phương chủ động lựa chọn chương trình dựa trên điều kiện, bản sắc và nhu cầu của cộng đồng. Sự thống nhất nên nằm ở giá trị cốt lõi và nguyên tắc thực hiện, không phải ở việc mọi địa phương phải tổ chức những chương trình giống nhau.
Thứ hai, cần chuyển từ quản lý theo kế hoạch sang quản trị dựa trên kết quả. Mỗi chương trình phải xác định rõ đối tượng phục vụ, nguồn lực, đơn vị chịu trách nhiệm và sản phẩm đầu ra. Sau sự kiện, việc đánh giá không nên chỉ dừng ở số lượng hoạt động, số lượt tham dự hay kinh phí đã sử dụng, mà cần xem xét mức độ hài lòng của người dân, khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế, số mô hình tiếp tục được duy trì và tác động đối với đời sống cộng đồng.
Thứ ba, cần phát huy vai trò của đội ngũ làm văn hóa tại cơ sở. Nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, trường học, cán bộ văn hóa, nghệ nhân và các nhóm sáng tạo cộng đồng là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng hoạt động. Nếu thiếu nhân lực có chuyên môn, kinh phí vận hành và cơ chế khuyến khích, nhiều chương trình dù được đầu tư trong thời gian ngắn cũng khó duy trì. Bởi vậy, đầu tư cho con người và năng lực tổ chức cần được coi trọng không kém đầu tư cơ sở vật chất.
Thứ tư, cần bảo đảm tính liên tục giữa các kỳ tổ chức. Sau ngày 24/11, các mô hình tốt cần được tổng kết, chia sẻ và nhân rộng phù hợp; những hạn chế cần được nhận diện công khai để điều chỉnh. Mỗi năm có thể lựa chọn một số chủ đề trọng tâm, nhưng không nên thay đổi định hướng liên tục đến mức cộng đồng khó hình thành thói quen tham gia.
Thứ năm, cần coi trọng truyền thông chính sách và truyền thông cộng đồng. Báo chí, phát thanh, truyền hình, nền tảng số và các kênh thông tin cơ sở có thể giúp người dân hiểu rõ mục tiêu, lịch hoạt động, địa điểm tham gia và quyền lợi được hưởng. Truyền thông hiệu quả không chỉ là tạo không khí sôi động mà còn phải cung cấp thông tin hữu ích, phản ánh những mô hình thực chất và lan tỏa câu chuyện về con người, cộng đồng, di sản.
Cuối cùng, cần duy trì nguyên tắc tiết kiệm, an toàn, minh bạch và tôn trọng sự đa dạng văn hóa. Quy mô tổ chức phải phù hợp với điều kiện thực tế; việc sử dụng ngân sách và huy động tài trợ cần được kiểm soát; các hoạt động đông người phải có phương án an ninh, y tế, giao thông và môi trường. Tôn trọng khác biệt vùng miền, dân tộc, tín ngưỡng cũng là điều kiện để ngày hội trở thành không gian chung của toàn dân, thay vì chỉ phản ánh một số hình thức văn hóa phổ biến.
9. Kết luận: Dấu ấn lớn nhất là sự thay đổi trong đời sống văn hóa của nhân dân
Ngày Văn hóa Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên trên phạm vi cả nước vào năm 2026 là cơ hội để chuyển những định hướng về phát triển văn hóa thành các hoạt động cụ thể, gần gũi và có khả năng lan tỏa trong xã hội. Việc gắn ngày hội với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc càng làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa, con người và sức mạnh cộng đồng trong tiến trình phát triển đất nước.
Tuy nhiên, thành công của ngày hội không thể chỉ được xác định bằng quy mô sân khấu, số lượng chương trình hay hiệu ứng truyền thông. Giá trị cốt lõi nằm ở việc người dân có thực sự được tham gia, có thêm cơ hội tiếp cận văn hóa, có điều kiện sáng tạo và có thể duy trì những thực hành văn hóa tích cực trong đời sống thường nhật hay không.
Khi một đứa trẻ có thêm cơ hội đọc sách, một nghệ nhân có điều kiện truyền dạy nghề truyền thống, một người cao tuổi được tham gia sinh hoạt cộng đồng, một thư viện mở cửa thuận tiện hơn, một di sản được bảo tồn bằng sự đồng thuận của người dân, hoặc một khu dân cư hình thành được nếp sống văn minh, những kết quả ấy chính là dấu ấn cụ thể của chính sách văn hóa.
Để đạt được điều đó, cần kiên trì chuyển từ tổ chức sự kiện sang xây dựng môi trường văn hóa; từ cung cấp hoạt động sang khuyến khích sáng tạo; từ đánh giá bằng quy mô sang đánh giá bằng giá trị xã hội; từ huy động người dân tham dự sang trao cơ hội để người dân chủ động làm nên ngày hội.
Nếu được tổ chức theo tinh thần ấy, ngày 24/11 sẽ không chỉ là một dấu mốc trên lịch hoạt động văn hóa quốc gia. Ngày Văn hóa Việt Nam có thể từng bước trở thành dịp để mỗi gia đình quan tâm hơn đến việc gìn giữ giá trị tốt đẹp, mỗi cộng đồng chủ động làm giàu đời sống tinh thần và mỗi cơ quan, tổ chức nhìn nhận rõ hơn trách nhiệm của mình đối với sự phát triển con người.
Dấu ấn bền vững nhất của năm đầu tiên, vì thế, không nằm ở việc tạo ra một sự kiện lớn trong thời gian ngắn, mà ở khả năng khơi dậy một quá trình lâu dài: đưa văn hóa hiện diện sâu hơn trong đời sống, để nhân dân thực sự là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và thụ hưởng các giá trị văn hóa Việt Nam.
ThS Phạm Thu Thủy
__________________________________________
Tài liệu tham khảo
-
Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
-
Chính phủ (2026), Quyết định số 1111/QĐ-TTg về Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2026–2030.
-
Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 30/9/2026 về tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026.
-
Báo Điện tử Chính phủ (12/10/2026), “Tạo dấu ấn ngay từ năm đầu tiên tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam, lấy người dân làm chủ thể”.



