10/09/2026 lúc 03:57 (GMT+7)
Breaking News

Chủ trương đổi mới: Tái cơ cấu nghành nông nghiệp Nam Định

VNHN - Tỉnh Nam Định thuộc khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng, dân số 1,83 triệu người, diện tích tự nhiên 1.652,3km2; trong đó diện tích đất nông nghiệp 113.000 ha với gần 80.000 ha đất trồng lúa, 15.800 ha đất nuôi trồng thuỷ sản. Với điều kiện và đặc thù là tỉnh nông nghiệp, gần 70% dân số sống bằng nghề nông và được Chính phủ giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực, tỉnh Nam Định luôn coi phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn là một trong những nhiệm vụ lớn, trọng tâm của tỉnh

VNHN - Tỉnh Nam Định thuộc khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng, dân số 1,83 triệu người, diện tích tự nhiên 1.652,3km2;  trong đó diện tích đất nông nghiệp 113.000 ha với gần 80.000 ha đất trồng lúa, 15.800 ha đất nuôi trồng thuỷ sản. Với điều kiện và đặc thù là tỉnh nông nghiệp, gần 70% dân số sống bằng nghề nông và được Chính phủ giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực, tỉnh Nam Định luôn coi phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn là một trong những nhiệm vụ lớn, trọng tâm của tỉnh.

Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, ngày 17/7/2014 Tỉnh ủy Nam Định ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU về tăng cường lãnh đạo việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp Nam Định; ngày 30/7/2014 UBND tỉnh Nam Định có Quyết định số 1346/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Nam Định theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2014 - 2020. Ngành nông nghiệp xác định tái cơ cấu nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, nhằm làm chuyển biến nền nông nghiệp của tỉnh, nâng cao giá trị gia tăng  đi đôi với phát triển bền vững, mang lại những đổi thay tích cực trong cuộc sống của người nông dân. Đồng thời Ngành cũng xác định rằng tái cơ cấu là vấn đề khó vì thế phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, phát huy, khơi dậy tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, sáng tạo của nông dân và sự vào cuộc đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh.

Sau gần 3 năm triển khai, được sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương cùng với nguồn lực của tỉnh, Nam Định đã tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới và cơ giới hóa sản xuất; tiếp tục chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa với năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; đã cơ giới hóa được cơ bản khâu làm đất; khâu thu hoạch cơ giới hóa được xấp xỉ 80%; gieo sạ được gần 40% diện tích; đã hoàn thành quy hoạch sản xuất nông nghiệp, dồn điền đổi thửa và xây dựng được nhiều mô hình sản xuất hàng hóa tập trung cánh đồng mẫu lớn, nhiều mô hình phát triển kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao… Đã hình thành một số mô hình mới trong liên kết tổ chức sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa theo chuỗi giá trị. Từ những chuyển động đó, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực: Trồng trọt giảm từ 59,7% năm 2010 xuống còn 47,7% năm 2016, chăn nuôi và dịch vụ tăng từ 40,3% lên 52,3%; Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2010 - 2015 đạt 3,0%/năm; Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất canh tác năm 2016 đạt 107 triệu đồng, tăng 35% so với năm 2010.

Trồng trọt là ngành sản xuất chính, với thế mạnh là sản xuất lúa gạo. Năng suất lúa bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 120 tạ/ha/năm, sản lượng lúa đạt 920.000 - 940.000 tấn, trong đó lúa hàng hoá chất lượng cao đạt trên 400.000 tấn. Ở những vùng ven biển, đã đổi mới cơ cấu giống cây trồng theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu. Tỷ lệ lúa chất lượng cao tăng từ 43% diện tích (năm 2013) lên 70% diện tích (năm 2016). Cùng với lúa gạo, mỗi năm Nam Định cung cấp cho thị trường 16.000 tấn đậu tương, 25.000 tấn lạc, 50.000 tấn khoai tây và 260.000 tấn rau các loại.

Chăn nuôi là ngành có nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh. Hiện lĩnh vực này đang chuyển dịch tích cực theo hướng giảm chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, phát triển mạnh chăn nuôi gia trại, trang trại; tổng đàn lợn hàng năm đạt 750 - 800 ngàn con, đàn trâu, bò 38 - 40 ngàn con, gia cầm 7,0 - 7,2 triệu con; mỗi năm cung cấp cho thị trường trên 145 ngàn tấn thịt lợn, 4 ngàn tấn thịt bò, 19 ngàn tấn thịt gà, vịt và 270 triệu quả trứng.

Với lợi thế của một tỉnh có 72 km bờ biển, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản cũng là một thế mạnh của Nam Định. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, sôi động trên cả 2 vùng mặn lợ và nước ngọt, được xác định là khâu đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 40 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và trên 600 trang trại nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thuỷ sản năm 2016 đạt 129,2 ngàn tấn.

Đến nay, các địa phương trong tỉnh đã hoàn thành dồn điền đổi thửa, quy hoạch và xây dựng ổn định 150 cánh đồng mẫu lớn với diện tích khoảng 7.500 ha, trong đó có gần 1.000 ha được ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Điển hình là mô hình liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao gắn với xây dựng thương hiệu gạo Nam Định của Công ty TNHH Toản Xuân; mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ cây dược liệu giữa Công ty CP Nam Dược với tổ hợp tác nuôi trồng và chế biến dược liệu Hải Lộc (Hải Hậu); mô hình sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn GACP-WHO của Công ty CP Dược phẩm Hoa Thiên Phú với các xã ở Nghĩa Hưng… Trong các mô hình liên kết này, doanh nghiệp giữ vai trò đầu mối, định hướng cho nông dân và HTX về quy mô, chất lượng và quy cách nông sản; HTX, tổ hợp tác là cầu nối đại diện của nông dân tham gia các liên kết với doanh nghiệp.

Ngoài ra, có hàng trăm hộ gia đình thuê gom, tích tụ ruộng đất với quy mô từ 2-20ha để phát triển sản xuất theo mô hình trang trại. Đến nay, toàn tỉnh có 677 trang trại đạt tiêu chí mới của Bộ NN và PTNT và 3.324 gia trại. Các trang trại tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, đồng thời tổ chức tốt việc liên kết tiêu thụ sản phẩm nên sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tạo việc làm ổn định với thu nhập khá cho nhiều lao động nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng Nông thôn mới.

Ở một góc độ khác, trên địa bàn Nam Định, đã có ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn để phát triển sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Tính đến nay, toàn tỉnh có 94 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có một số doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy sản như: Công ty Thủy sản Lenger, Công ty TNHH Cường Tân, Công ty cơ khí Đình Mộc, Công ty Toản Xuân, Công ty CP đầu tư thương mại Biển Đông, Công ty Phú Lộc, Doanh nghiệp Cửu Dung, Công ty Liên Phong,… Nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp đã khẳng định được vị trí trên thị trường trong và ngoài tỉnh như: Gạo sạch Toản Xuân, Ngao sạch Giao Thủy, Chả cá Hùng Vương, Nước mắm Ninh Cơ, Giò 7 phút Nam Phát, Sứa Tân Long… Đặc biệt, từ tháng 1/2016, tỉnh đã hoàn thành việc giao 139,73ha đất bãi sông Hành Thiện (Xuân Trường) cho Cty VinEco thuộc Tập đoàn VinGroup triển khai dự án đầu tư sản xuất rau sạch công nghệ cao. Công ty đã hoàn thành cơ bản việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông, nhà kính, nhà lưới…) và trồng 120ha rau, củ, quả theo công nghệ cao và VietGAP. Sản lượng rau, củ, quả đạt 5-6 tấn mỗi ngày, phục vụ cho chuỗi hệ thống siêu thị VinMart, VinMart+ của Tập đoàn VinGroup.

Bên cạnh đó, những  tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và mở rộng cơ giới hóa các khâu sản xuất, được các huyện, thành phố quan tâm tập trung áp dụng triển khai trên diện rộng. Nhờ đó, nâng cao được năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của các sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Đối với công tác chuyển đổi mô hình HTX, đến nay đã có 241 HTX chuyển đổi và tổ chức lại hoạt động theo Luật HTX và 77 HTX giải thể tự nguyện. Sau chuyển đổi, các HTX đều tổ chức được 4-6 dịch vụ thiết yếu như: thủy nông, bảo vệ đồng ruộng, làm đất, cung ứng vật tư… Một số HTX đã tổ chức được dịch vụ tín dụng nội bộ, tiêu thụ nông sản, cung cấp nước sạch và thu gom, xử lý rác thải. Hoạt động dịch vụ của 90% số HTX có lãi, doanh thu bình quân mỗi HTX đạt 470 triệu đồng/vụ. Bên cạnh việc củng cố, chuyển đổi hoạt động HTX theo Luật, một số địa phương chỉ đạo sâu sát, hỗ trợ tích cực nên đã thành lập mới một số HTX chuyên ngành và HTX dịch vụ tổng hợp. Hiện đã có 51 HTXNN được thành lập mới theo Luật HTX 2012; trong đó có 26 HTX chuyên ngành (11 HTX trồng trọt: cây dược liệu, rau, hoa, cây cảnh, nấm; 6 HTX chăn nuôi; 4 HTX khai thác thủy sản, 5 HTX nuôi trồng thủy sản) và 25 HTX dịch vụ tổng hợp.

Về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, hệ thống kênh mương nội đồng được quan tâm hỗ trợ, đầu tư nghiên cứu cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh (toàn tỉnh đã có trên 90% diện tích canh tác được tưới - tiêu chủ động).

Nam Định tiếp tục đẩy mạnh chương trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là chương trình hợp tác với các tỉnh của Nhật Bản: Ibaraki, Miyazaki, Fukui…, trên thực tế đã đạt được một số kết quả bước đầu trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, liên doanh, liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp hữu cơ…

Về kết quả tái cơ cấu bộ máy tổ chức ngành nông nghiệp, đã kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy tổ chức Ngành NN&PTNT  từ tỉnh đến các xã theo hướng tinh giảm, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Từ những kết quả trên, ngành Nông nghiệp đã góp phần tích cực trong phong trào xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Năm 2016, toàn tỉnh đã có 169/209 xã và huyện Hải Hậu đạt chuẩn Nông thôn mới. Tỉnh Nam Định phấn đấu đến năm 2020 sẽ trở thành tỉnh Nông thôn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp tỉnh  Nam Định vẫn còn một số bất cập, như: phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, còn bộc lộ nhiều hạn chế và cũng có rất nhiều khó khăn thách thức, đó là:

- Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ manh mún. Công tác dồn điền đổi thửa đã được thực hiện ở tất cả các xã, nhưng bình quan số mảnh đất trên hộ vẫn còn cao.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng sản xuất, hạ tầng xã hội tuy đã được từng bước cải tạo, nâng cấp, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Giá cả vật tư, nguyên liệu sản xuất liên tục tăng, thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn nhưng chậm sửa đổi... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình triển khai Nghị quyết.

- Số doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp còn ít.

- Do biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp,...

 Trong thời gian tới, tỉnh Nam Định tiếp tục thực hiện đồng bộ các nội dung Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng NTM, tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

1. Tiếp tục rà soát, bổ sung các quy hoạch nông nghiệp, nông thôn, nhất là quy hoạch phát triển các ngành hàng chủ yếu gắn với việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và các giải pháp đối với những nông sản chất lượng cao, đặc trưng của địa phương nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa các quy hoạch và phù hợp với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tăng cường quản lý và thực hiện tốt các quy hoạch.

2. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao để chuyển dịch nhanh, toàn diện cơ cấu cây trồng, vật nuôi hàng hóa; phát triển nhanh cơ giới hóa sản xuất; tập trung các giải pháp nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản trong cơ cấu nội ngành.

3. Hoàn thành việc chuyển đổi toàn diện các HTX theo Luật HTX năm 2012. Tổng kết, đánh giá và phát triển mạnh các tổ hợp tác, các HTX chuyên ngành để làm đầu mối thực hiện các mô hình liên kết chuỗi giá trị.

4. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kinh tế trang trại, gia trại. Nhân rộng nhanh các mô hình kinh tế hợp tác và mô hình liên kết chuỗi giá trị và có hiệu quả. Phát triển mạnh các mô hình thuê gom, tích tụ ruộng đất sản xuất hàng hóa tập trung.  Thí điểm mô hình nông dân góp vốn cổ phần với doanh nghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp.

5. Xây dựng thương hiệu cho các nông sản, thực phẩm chủ lực của Tỉnh. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm.

6. Tiếp tục thu hút mạnh mẽ sự đầu tư của các doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn và tích cực triển khai các chương trình hợp tác, liên kết giữa các doanh  nghiệp, HTXNN của Tỉnh với các doanh nghiệp lớn. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến và các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư.

7. Tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho nông dân, gắn đào tạo nghề với tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới.

8. Tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản, trong đó tập trung phát triển các HTX khai thác hải sản. Thực hiện tốt Quyết định 67 của Thủ tướng Chính phủ; phát triển nhanh tàu đánh cá vỏ thép và đẩy mạnh khai thác xa bờ. Phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá cả trên bờ và trên biển.

9. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên chính sách thu hút đầu tư; hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa và phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, và ưu tiên nguồn lực cho việc thực hiện các nội dung tái cơ cấu ngành nông nghiệp./.