13/08/2026 lúc 08:43 (GMT+7)
Breaking News

Từ hoàn thiện thể chế đến tạo sản phẩm công nghệ: Bước chuyển quan trọng trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW

Tóm tắt: Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu mới: chuyển trọng tâm từ xây dựng, hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện, tạo ra sản phẩm công nghệ và những kết quả có thể đo lường. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về cách thức triển khai một nghị quyết, mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển, trong đó hiệu quả ứng dụng, năng lực làm chủ công nghệ và khả năng thương mại hóa được đặt ở vị trí trung tâm.

Từ khóa: Nghị quyết 57-NQ/TW; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; công nghệ chiến lược; sản phẩm công nghệ; doanh nghiệp công nghệ; tự chủ công nghệ.

Abstract: Vietnam is entering a new phase in implementing Resolution No. 57-NQ/TW, with the focus shifting from completing the institutional and policy framework to delivering tangible technological products and measurable outcomes. This transition reflects a broader change in development thinking, placing technological mastery, innovation capacity, commercialization, and practical application at the center of national development. By strengthening cooperation among the State, businesses, research institutes and universities, Vietnam aims to turn scientific and technological potential into concrete products, competitive enterprises and new drivers of sustainable economic growth.

Keywords: Resolution No. 57-NQ/TW; science and technology; innovation; digital transformation; strategic technologies; technology products; technology enterprises; technological self-reliance; commercialization; sustainable development.

Từ hoàn thiện thể chế đến tạo sản phẩm công nghệ: Bước chuyển quan trọng trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW. Ảnh minh họa - TL

Từ “đúng và đủ” về thể chế đến “đúng và trúng” trong thực tiễn

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng, tạo động lực để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực công nghệ, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Chương trình hành động tại Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 9/1/2025; sau đó tiếp tục cập nhật, bổ sung chương trình hành động tại Nghị quyết số 71/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP. Điều đó cho thấy quá trình triển khai được đặt trong một cơ chế điều hành liên tục, có khả năng điều chỉnh theo yêu cầu thực tiễn.

Đến tháng 8/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định một bước chuyển đáng chú ý: trọng tâm không còn chủ yếu là tiếp tục hoàn thiện hệ thống chủ trương, cơ chế, chính sách, mà phải chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, công nghệ và kết quả cụ thể phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đây là một chuyển dịch có ý nghĩa phương pháp luận.

Trong quản trị phát triển, thể chế là điều kiện cần, nhưng chưa phải điều kiện đủ. Một hệ thống pháp luật đầy đủ có thể tạo ra “đường ray”, song nền kinh tế chỉ thực sự chuyển động khi có những đoàn tàu cụ thể chạy trên đường ray ấy. Đối với khoa học và công nghệ, “đoàn tàu” đó chính là các công nghệ được làm chủ, các sản phẩm mới, các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh, các nền tảng số được sử dụng rộng rãi, những giải pháp giải quyết bài toán cụ thể của quốc gia, ngành và địa phương.

Vì vậy, yêu cầu chuyển từ “hoàn thiện thể chế” sang “tạo sản phẩm” không nên được hiểu là xem nhẹ thể chế. Ngược lại, đó là bước phát triển tiếp theo của quá trình thể chế hóa: chính sách phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn; cơ chế phải tạo ra động lực; nguồn lực phải được chuyển hóa thành kết quả; còn hiệu quả đầu tư phải được đo bằng tác động đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và đời sống kinh tế - xã hội.

Có thể nói, Việt Nam đang chuyển từ câu hỏi “đã có chính sách chưa?” sang những câu hỏi khó hơn: chính sách đã tạo ra sản phẩm gì, công nghệ gì, doanh nghiệp nào, năng lực mới nào và giá trị gia tăng bao nhiêu?

Công nghệ chiến lược - từ xác định danh mục đến bài toán làm chủ

Một trong những điểm đáng chú ý trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW là cách tiếp cận đối với công nghệ chiến lược. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam đã xác lập danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời triển khai nhiệm vụ phát triển theo phương thức mới. Thay vì phân bổ nguồn lực dàn trải theo từng lĩnh vực, cách tiếp cận mới hướng đến giải quyết các bài toán lớn của quốc gia, ngành và địa phương. Mỗi nhiệm vụ phải xác định tương đối rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, công nghệ lõi cần làm chủ, doanh nghiệp tham gia, địa chỉ ứng dụng và phương án thương mại hóa. Đây là thay đổi quan trọng về tư duy đầu tư cho khoa học và công nghệ.

Trong thời gian dài, một trong những hạn chế của hoạt động nghiên cứu là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và nhu cầu của thị trường. Một đề tài có thể được đánh giá cao về mặt học thuật nhưng chưa chắc tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh. Một công nghệ có thể được chứng minh trong phòng thí nghiệm nhưng chưa chắc vượt qua được các yêu cầu về tiêu chuẩn, kiểm định, sản xuất quy mô lớn và thương mại hóa. Bởi vậy, việc xác định sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng ngay từ đầu có thể góp phần thu hẹp khoảng cách giữa “nghiên cứu” và “thị trường”.

Điều quan trọng hơn là phương thức này đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của chuỗi đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình để tiếp nhận kết quả nghiên cứu, mà cần tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng công nghệ, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm đến thương mại hóa.

Tinh thần này phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW khi nhấn mạnh việc thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ và phát triển các doanh nghiệp công nghệ số chiến lược trong nước.

Từ góc độ phát triển quốc gia, công nghệ chiến lược không nên chỉ được nhìn nhận như một danh sách các lĩnh vực ưu tiên. Giá trị thực sự của danh mục này nằm ở khả năng tạo ra một hệ thống năng lực mới: từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, kiểm định đến sản xuất và thương mại hóa.

Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng không phải “có mặt” trong một lĩnh vực công nghệ chiến lược, mà phải từng bước làm chủ được những khâu có giá trị gia tăng cao.

Điểm nghẽn mới không còn chủ yếu là thiếu chính sách

Một nghịch lý có thể xuất hiện trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ: càng hoàn thiện chính sách, càng dễ phát hiện rằng chính sách không phải là điểm cuối.

Thực tế triển khai Nghị quyết 57 cho thấy hệ thống thể chế dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được mở rộng nhanh chóng. Theo thông tin từ Bộ Khoa học và Công nghệ, kể từ khi Nghị quyết 57 được ban hành, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 luật, trình Chính phủ ban hành 33 nghị định và 1 nghị quyết, đồng thời tiếp tục hoàn thiện nhiều quyết định, thông tư hướng dẫn.

Khối lượng thể chế như vậy tạo ra một nền tảng pháp lý quan trọng. Nhưng chính từ đây, một vấn đề mới nổi lên: năng lực thực thi.

Nếu quy định không được hiểu thống nhất, nếu cán bộ thực hiện còn tâm lý e ngại trách nhiệm, nếu quy trình tài chính không phù hợp với đặc thù nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, nếu việc đặt hàng công nghệ không gắn với nhu cầu thực tế, thì chính sách dù tiến bộ vẫn khó tạo ra kết quả tương xứng.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng xác định điểm nghẽn hiện nay nằm nhiều hơn ở tổ chức thực hiện và khả năng chuyển hóa chính sách thành sản phẩm, kết quả cụ thể. Việc huy động nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực doanh nghiệp, còn hạn chế; liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp chưa chặt chẽ; nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa. Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi cả phương thức quản trị.

Một chương trình khoa học và công nghệ trong giai đoạn mới không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng nhiệm vụ được triển khai, số đề tài được nghiệm thu hay số công trình được công bố. Những chỉ tiêu đó vẫn có giá trị đối với nghiên cứu cơ bản, nhưng với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, cần bổ sung các thước đo về số công nghệ được làm chủ, số sản phẩm được hình thành, số doanh nghiệp tham gia, số giải pháp được ứng dụng, doanh thu từ sản phẩm công nghệ mới, năng suất lao động được cải thiện và mức độ thay thế công nghệ nhập khẩu. Đó chính là sự chuyển đổi từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả.

Doanh nghiệp phải trở thành chủ thể kiến tạo sản phẩm công nghệ

Một trong những điều kiện quyết định thành công của giai đoạn mới là sự tham gia thực chất của doanh nghiệp. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt doanh nghiệp vào vị trí quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nghị quyết nhấn mạnh chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ; đồng thời định hướng hình thành các doanh nghiệp công nghệ số chiến lược trong nước có khả năng dẫn dắt.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, cần giải quyết bài toán động lực. Nghiên cứu và phát triển thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài và mức độ rủi ro cao. Một doanh nghiệp có thể phải đầu tư nhiều năm trước khi công nghệ tạo ra doanh thu. Nếu cơ chế chia sẻ rủi ro chưa đủ hấp dẫn, doanh nghiệp sẽ có xu hướng ưu tiên những hoạt động mang lại lợi nhuận nhanh hơn thay vì đầu tư dài hạn cho R&D.

Do đó, cơ chế đồng đầu tư, đồng tài trợ có ý nghĩa đặc biệt. Nhà nước không nhất thiết phải làm thay doanh nghiệp, nhưng có thể chia sẻ một phần rủi ro ban đầu để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia.

Một cách tiếp cận đáng chú ý là Nhà nước xác định các bài toán lớn, đặt hàng công nghệ, tạo cơ chế thử nghiệm và hỗ trợ một phần chi phí; doanh nghiệp chịu trách nhiệm phát triển giải pháp, hoàn thiện sản phẩm và thương mại hóa. Khi sản phẩm thành công, thị trường sẽ tiếp tục tạo động lực mở rộng. Cách làm này cũng giúp khắc phục tình trạng nghiên cứu “đóng kín” trong viện, trường.

Đối với doanh nghiệp, tham gia vào chương trình khoa học và công nghệ không nên chỉ nhằm nhận hỗ trợ tài chính. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng tiếp cận tri thức, nhân lực, phòng thí nghiệm, mạng lưới nghiên cứu và thị trường. Ngược lại, viện nghiên cứu và trường đại học cũng cần tiếp cận sâu hơn với bài toán sản xuất, kinh doanh và nhu cầu công nghệ thực tế. Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh phải tạo được dòng chảy hai chiều: tri thức đi vào doanh nghiệp và nhu cầu của doanh nghiệp quay trở lại định hướng nghiên cứu.

Viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần cùng giải bài toán quốc gia

Một nền kinh tế muốn nâng cao năng lực công nghệ không thể chỉ dựa vào một vài doanh nghiệp dẫn đầu. Phía sau doanh nghiệp phải là một hệ thống nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo đủ mạnh.

Thông báo kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ nhà khoa học trong việc tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, nguồn nhân lực chất lượng cao và giải quyết những bài toán thực tiễn của đất nước, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Đối với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, hiệu quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa cần được coi là những thước đo quan trọng. Đây là định hướng rất đáng chú ý.

Không phải mọi nghiên cứu đều phải thương mại hóa ngay. Nghiên cứu cơ bản vẫn là nền tảng tạo ra tri thức mới và năng lực khoa học dài hạn. Tuy nhiên, đối với những chương trình xác định mục tiêu phát triển công nghệ và sản phẩm, cần thiết kế ngay từ đầu một chuỗi liên kết từ phòng thí nghiệm đến thị trường.

Có thể hình dung chuỗi này gồm năm mắt xích: bài toán thực tế - nghiên cứu - công nghệ lõi - sản phẩm mẫu - thương mại hóa. Nếu thiếu một mắt xích, quá trình đổi mới sáng tạo dễ bị đứt gãy.

Trong đó, “bài toán thực tế” là điểm khởi đầu. Một địa phương cần giải quyết vấn đề gì về giao thông, nông nghiệp, môi trường, y tế, năng lượng hay quản trị đô thị? Một ngành kinh tế cần nâng năng suất ở đâu? Doanh nghiệp đang phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu nào? Những câu hỏi đó phải trở thành đầu vào cho hoạt động nghiên cứu.

Ở chiều ngược lại, Nhà nước cũng cần tạo môi trường để kết quả nghiên cứu được thử nghiệm nhanh, đánh giá khách quan và điều chỉnh linh hoạt. Đây là lý do các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, mua sắm công cho đổi mới sáng tạo và các mô hình sandbox có thể trở thành công cụ quan trọng trong giai đoạn mới.

Từ Trung ương đến địa phương: biến nhu cầu phát triển thành “bài toán công nghệ”

Một điểm mới trong phương thức triển khai Nghị quyết 57 là yêu cầu gắn công nghệ với những bài toán cụ thể của từng địa phương.

Không phải địa phương nào cũng cần phát triển tất cả các công nghệ chiến lược. Điều quan trọng là xác định công nghệ nào phù hợp với lợi thế kinh tế, nhu cầu xã hội và định hướng phát triển của địa phương.

Một địa phương có thế mạnh nông nghiệp có thể tập trung vào công nghệ sinh học, giống, tự động hóa, cảm biến, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Địa phương có lợi thế công nghiệp có thể ưu tiên tự động hóa, robot, vật liệu mới, sản xuất thông minh. Những đô thị lớn có thể tập trung vào trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, giao thông thông minh, quản trị đô thị và dịch vụ công số.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, các địa phương sẽ được hướng dẫn xây dựng “bài toán công nghệ chiến lược”, làm cơ sở hình thành các nhiệm vụ phát triển công nghệ phù hợp với nhu cầu thực tế.

Cách tiếp cận này có thể tạo ra một thay đổi quan trọng: chuyển địa phương từ vị thế “tiếp nhận công nghệ” sang chủ động đặt hàng và hình thành thị trường cho công nghệ.

Khi một bài toán được xác định rõ, Nhà nước có thể huy động viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng tham gia. Khi sản phẩm được thử nghiệm thành công tại địa phương, nó có thể tiếp tục mở rộng sang các địa bàn khác. Đây cũng là cách để tránh tình trạng đầu tư công nghệ theo phong trào.

Hạ tầng số và dữ liệu: nền móng cho giai đoạn tạo sản phẩm

Nếu công nghệ là động lực mới của tăng trưởng thì dữ liệu và hạ tầng số chính là một phần nền móng của động lực đó. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định yêu cầu phát triển nền tảng số dùng chung, tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong các ngành, lĩnh vực.

Trong giai đoạn chuyển trọng tâm sang tạo sản phẩm công nghệ, vấn đề này càng trở nên quan trọng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ số khác không thể phát triển hiệu quả nếu thiếu dữ liệu chất lượng cao, hạ tầng tính toán, tiêu chuẩn kết nối và cơ chế chia sẻ dữ liệu phù hợp.

Do đó, đầu tư cho hạ tầng số không nên được nhìn nhận đơn thuần là đầu tư cho phần cứng. Quan trọng hơn là xây dựng năng lực dữ liệu: dữ liệu phải có chất lượng, được chuẩn hóa, có khả năng liên thông, bảo đảm an toàn và có cơ chế khai thác phù hợp.

Một nền kinh tế có thể có nhiều doanh nghiệp công nghệ nhưng nếu dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn chung và khó tiếp cận, khả năng phát triển các sản phẩm số có quy mô lớn sẽ bị hạn chế. Bởi vậy, giai đoạn mới của Nghị quyết 57 cần đồng thời quan tâm đến “hạ tầng cứng” và “hạ tầng mềm” của nền kinh tế số.

Nhân lực công nghệ là điều kiện quyết định

Không có công nghệ chiến lược nào có thể phát triển nếu thiếu con người làm chủ công nghệ. Thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương nhấn mạnh yêu cầu thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia và trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước; đồng thời từ năm học 2026-2027, ngành giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp phải rà soát chương trình đào tạo, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đẩy mạnh kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Đây là yêu cầu có tính dài hạn.

Nếu chính sách công nghệ tập trung mạnh vào đầu tư thiết bị, phòng thí nghiệm nhưng nguồn nhân lực không đủ khả năng vận hành, nghiên cứu và cải tiến thì hiệu quả đầu tư sẽ thấp. Việt Nam cần đồng thời hình thành ba tầng nhân lực.

Tầng thứ nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có khả năng nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi.

Tầng thứ hai là kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực công nghệ có khả năng triển khai, vận hành, cải tiến và thương mại hóa.

Tầng thứ ba là lực lượng lao động phổ thông có kỹ năng số đủ để thích ứng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế.

Đặc biệt, chính sách nhân lực cần chuyển từ tư duy “đào tạo để có bằng cấp” sang “đào tạo để giải quyết vấn đề”. Doanh nghiệp phải được tham gia sâu vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo; trường đại học cần tăng hợp tác nghiên cứu và thực hành; các phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo cần trở thành không gian kết nối giữa học thuật và sản xuất.

Đổi mới cơ chế tài chính: từ “cấp kinh phí” sang “đầu tư cho kết quả”

Một trong những điểm nghẽn khó nhất của đổi mới sáng tạo là cơ chế tài chính. Đặc thù của nghiên cứu và phát triển công nghệ là tính rủi ro cao, kết quả khó dự đoán và thời gian hoàn vốn dài. Nếu áp dụng một cơ chế quản lý tài chính quá cứng nhắc, hoạt động nghiên cứu khó có thể đạt được sự linh hoạt cần thiết.

Tại Hội nghị về thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tháng 7/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đang đổi mới mô hình hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng phù hợp hơn với tính chất của một quỹ tài chính; đồng thời mở rộng khả năng hỗ trợ từ nghiên cứu, phát triển đến tạo sản phẩm mẫu. Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nếu được triển khai đồng bộ, đây có thể là một trong những cơ chế quan trọng giúp nối liền khoảng trống giữa nghiên cứu và thị trường. Tuy nhiên, đổi mới tài chính khoa học và công nghệ cần đi cùng đổi mới phương thức đánh giá. Không thể yêu cầu mọi nhiệm vụ đều thành công theo nghĩa thương mại, bởi đổi mới sáng tạo luôn có thất bại. Điều cần thiết là phân biệt giữa thất bại do rủi ro khoa học, công nghệ với thất bại do quản trị yếu kém, lựa chọn sai bài toán hoặc sử dụng nguồn lực không hiệu quả.

Một hệ thống khuyến khích đổi mới sáng tạo phải cho phép thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung; đồng thời phải có cơ chế giám sát để hạn chế thất thoát, đầu tư dàn trải và chạy theo thành tích.

Cần một hệ thống đánh giá mới cho Nghị quyết 57

Khi trọng tâm chuyển sang sản phẩm và kết quả, câu hỏi quan trọng tiếp theo là: đo lường bằng cách nào? Đây có lẽ là một trong những nhiệm vụ cần được đặc biệt chú trọng trong giai đoạn tới. Một hệ thống đánh giá hiệu quả triển khai Nghị quyết 57 có thể được xây dựng theo ba tầng.

Thứ nhất là kết quả công nghệ: số công nghệ lõi được làm chủ, số sản phẩm công nghệ được hình thành, số bằng sáng chế, tiêu chuẩn, giải pháp kỹ thuật và sản phẩm mẫu.

Thứ hai là kết quả kinh tế: số doanh nghiệp tham gia, doanh thu từ sản phẩm mới, năng suất lao động, tỷ lệ nội địa hóa, mức độ giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba là tác động xã hội: chất lượng dịch vụ công, hiệu quả quản trị, khả năng tiếp cận dịch vụ số, cải thiện môi trường, chất lượng y tế, giáo dục và đời sống người dân.

Khi có hệ thống chỉ tiêu như vậy, việc triển khai Nghị quyết sẽ bớt phụ thuộc vào những báo cáo thiên về số lượng hoạt động và chuyển sang đánh giá bằng tác động thực chất.

Thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương cũng nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu, yêu cầu xác định rõ vướng mắc, nguyên nhân, trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; kết quả thực hiện Nghị quyết 57 phải trở thành một tiêu chí quan trọng trong đánh giá cán bộ, tập thể và người đứng đầu.

Điều đó cho thấy “sản phẩm” không chỉ là khái niệm của khoa học và công nghệ, mà đang trở thành một yêu cầu trong quản trị quốc gia.

Tạo sản phẩm công nghệ Việt Nam - bước đi hướng tới tự chủ và cạnh tranh quốc tế

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, tự chủ công nghệ không đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tự phát triển tất cả mọi công nghệ. Tự chủ cần được hiểu là khả năng lựa chọn công nghệ, hấp thụ công nghệ, cải tiến công nghệ và trong một số lĩnh vực then chốt có thể làm chủ những công nghệ lõi quan trọng.

Nghị quyết 57-NQ/TW đặt yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ tiên tiến và chủ động tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế đối với công nghệ mới. Đặc biệt, thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương định hướng hợp tác quốc tế phải chuyển từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước. Đây là tư duy hội nhập công nghệ ở cấp độ cao hơn.

Việt Nam không chỉ cần thu hút các tập đoàn quốc tế đến đầu tư, mà phải từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Khi một sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam xuất hiện trên thị trường quốc tế, giá trị không chỉ nằm ở doanh thu của sản phẩm đó. Nó còn phản ánh năng lực nghiên cứu, nhân lực, quản trị, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, sản xuất và thương mại của cả hệ sinh thái phía sau.

Chuyển từ “có chính sách” sang “có kết quả” là thước đo của giai đoạn mới

Sau hơn một năm rưỡi triển khai, Nghị quyết 57-NQ/TW đã tạo ra một chuyển động quan trọng trong nhận thức và xây dựng thể chế. Nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ khó hơn nhiều, bởi đây là giai đoạn phải biến quyết tâm chính trị thành năng lực công nghệ và sản phẩm cụ thể.

Điểm đáng chú ý là chính yêu cầu này đang thúc đẩy một phương thức quản trị mới: Nhà nước kiến tạo thể chế và thị trường; doanh nghiệp dẫn dắt quá trình thương mại hóa; viện nghiên cứu và trường đại học tạo tri thức, công nghệ và nhân lực; địa phương xác định bài toán thực tế; còn người đứng đầu chịu trách nhiệm về tiến độ và kết quả.

Nếu những mối quan hệ này được kết nối hiệu quả, Nghị quyết 57 có thể tạo ra tác động vượt ra ngoài phạm vi một chương trình phát triển khoa học và công nghệ. Nó có thể trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam.

Từ nay đến cuối năm 2026, trọng tâm được xác định là thúc đẩy các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, hoàn thiện cơ chế tài trợ, đặt hàng và quản lý chương trình; tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tăng cường đồng đầu tư, đồng tài trợ; phát triển hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng số, dữ liệu và thị trường khoa học và công nghệ. Mục tiêu cuối cùng là hình thành những sản phẩm công nghệ chiến lược mang thương hiệu Việt Nam và phát triển các doanh nghiệp công nghệ có năng lực dẫn dắt.

Vì thế, thành công của giai đoạn mới không nên được đo bằng việc Việt Nam đã ban hành thêm bao nhiêu văn bản. Thước đo quan trọng hơn là đã tạo ra bao nhiêu công nghệ được làm chủ, bao nhiêu sản phẩm có khả năng cạnh tranh, bao nhiêu doanh nghiệp vươn lên bằng đổi mới sáng tạo và bao nhiêu vấn đề phát triển của đất nước được giải quyết bằng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Đó chính là bước chuyển từ “hoàn thiện thể chế” sang “tạo giá trị”.

Và xét đến cùng, đây cũng là yêu cầu cốt lõi của Nghị quyết 57-NQ/TW: đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ một lĩnh vực chính sách trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

ThS Phạm Linh Chi

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  2. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
  3. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/04/2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
  4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP.
  5. Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
  6. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Triển khai Nghị quyết 57: Chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang tạo sản phẩm công nghệ”, ngày 12/8/2026.
  7. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Thể chế đã bao phủ, trọng tâm là thực thi chính sách”, ngày 15/7/2026.