08/09/2026 lúc 10:35 (GMT+7)
Breaking News

Nghị quyết 71: Từ đột phá chính sách đến đổi mới thực chất

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, một khối lượng lớn nhiệm vụ về thể chế, chính sách, nguồn lực và quản trị đã được triển khai. Tuy nhiên, yêu cầu mới đặt ra không còn dừng ở việc “có chính sách”, mà phải chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện, tạo ra những thay đổi có thể đo đếm trong lớp học, nhà trường và chất lượng nguồn nhân lực. Đây chính là bước chuyển từ tư duy xây dựng chính sách sang tư duy quản trị kết quả, quyết định hiệu quả thực chất của công cuộc đổi mới giáo dục.

Trường Phổ thông nội trú (PTNT) tiểu học và trung học cơ sở (TH-THCS) Mường Khương (xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai) là điểm cầu trung tâm tổ chức lễ khánh thành và khai giảng năm học 2026 - 2027 trên toàn quốc.

Từ “đúng hướng” đến “đúng kết quả”: Bước chuyển quan trọng của Nghị quyết 71-NQ/TW

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đứng trước yêu cầu phát triển mới: không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học mà còn phải tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Nghị quyết xác định nhiều nhóm nhiệm vụ mang tính nền tảng, từ đổi mới thể chế, phát triển đội ngũ nhà giáo, hiện đại hóa giáo dục đến chuyển đổi số, phát triển nhân lực chất lượng cao và tăng cường công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Sau một năm triển khai, những chuyển biến bước đầu cho thấy quyết tâm chính trị đã được chuyển hóa thành một khối lượng công việc đáng kể. Theo đánh giá tại Thông báo số 160-TB/VPTW, đến giữa tháng 8/2026, có 35/76 nhiệm vụ cụ thể đã hoàn thành và không có nhiệm vụ quá hạn. Riêng về thể chế, đã ban hành 4 luật, 2 nghị quyết của Quốc hội, 25 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 16 quyết định của Thủ tướng Chính phủ cùng 78 thông tư cấp Bộ.

Những con số này có ý nghĩa quan trọng, bởi một trong những điểm nghẽn lâu nay của giáo dục chính là khoảng cách giữa chủ trương và khuôn khổ pháp lý để tổ chức thực hiện. Khi các quy định được rà soát, sửa đổi và ban hành tương đối đồng bộ, hệ thống giáo dục có thêm điều kiện để tháo gỡ những nút thắt về quản trị, nguồn lực, đội ngũ và phương thức hoạt động.

Một số chính sách lớn đã bắt đầu đi vào đời sống. Chính sách miễn học phí được triển khai; việc thống nhất một bộ sách giáo khoa được thực hiện; sắp xếp các trường mầm non và phổ thông cơ bản hoàn thành. Tại các xã biên giới, giai đoạn đầu đã xây dựng 108/248 trường phổ thông nội trú liên cấp, bổ sung 4.396 phòng học phục vụ gần 113.000 học sinh.

Ở lĩnh vực đào tạo nhân lực cho nền kinh tế mới, tỷ lệ sinh viên đại học nhập học các ngành STEM năm 2026 tăng 33,6%; khoảng 110.000 sinh viên đang theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học. Chuyển đổi số cũng có bước tiến đáng kể khi cơ sở dữ liệu ngành quản lý thông tin của khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên; đến tháng 8/2026 đã tiếp nhận hơn 16 triệu học bạ số và số hóa trên 8 triệu văn bằng, chứng chỉ.

Nhưng chính những kết quả đó lại đặt ra một yêu cầu cao hơn: không thể lấy khối lượng văn bản, số lượng nhiệm vụ hoàn thành hay mức độ số hóa làm thước đo cuối cùng của một cuộc cải cách giáo dục.

Giá trị thực sự của chính sách phải được phản ánh bằng sự thay đổi về chất lượng giáo dục, năng lực của người học, điều kiện làm việc của giáo viên, chất lượng quản trị nhà trường và khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực đối với nền kinh tế.

Đây là lý do việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện có ý nghĩa như một bước chuyển về phương pháp lãnh đạo và quản trị chính sách.

Nói cách khác, giai đoạn tiếp theo của Nghị quyết 71-NQ/TW không nên được nhìn đơn thuần là “giai đoạn thực hiện sau khi xây dựng chính sách”, mà cần được coi là giai đoạn kiểm chứng chất lượng chính sách bằng thực tiễn.

Đặt nhà trường, giáo viên và người học vào trung tâm của năng lực thực thi

Điểm đáng chú ý trong yêu cầu mới là sự dịch chuyển trọng tâm từ hệ thống văn bản sang những thay đổi bên trong nhà trường.

Nếu chính sách chỉ dừng ở cấp bộ, ngành, địa phương mà chưa làm thay đổi cách quản trị trường học, cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh thì mục tiêu “đột phá” sẽ khó đạt được.

Một trong những vấn đề được chỉ ra là cần thực hiện một cuộc tự đổi mới sâu sắc trong ngành giáo dục, từ quản trị nhà trường, xây dựng đội ngũ giáo viên đến nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá. Tinh thần này đặt ra yêu cầu giảm lối truyền thụ một chiều, học thuộc, học đối phó; tăng cường tự học, thực hành, trải nghiệm, tư duy độc lập, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề.

Đây thực chất là bài toán đồng bộ hóa chính sách. Không thể yêu cầu giáo viên đổi mới phương pháp nếu cách kiểm tra, thi cử vẫn chủ yếu khuyến khích ghi nhớ. Không thể yêu cầu học sinh phát triển năng lực sáng tạo nếu thành tích học tập vẫn được đánh giá nặng về điểm số. Cũng khó có thể xây dựng một nền giáo dục thực chất nếu giáo viên phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính, hội họp và báo cáo.

Do đó, cải cách giáo dục trong giai đoạn mới cần chuyển từ tư duy “thêm nhiệm vụ” sang “giải phóng năng lực thực thi”.

Giảm thủ tục hành chính không đơn thuần là giảm giấy tờ. Đó là cách trả lại thời gian chuyên môn cho giáo viên. Phân cấp, phân quyền không chỉ là chuyển thêm thẩm quyền xuống cơ sở, mà phải đi kèm nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm soát. Tự chủ đại học hay tự chủ trường học cũng không thể chỉ được hiểu là trao quyền quyết định, mà phải đồng thời nâng cao năng lực quản trị và trách nhiệm giải trình.

Nghị quyết 71-NQ/TW ngay từ đầu đã nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát.

Đây chính là nền tảng để chuyển từ mô hình quản lý nặng về mệnh lệnh hành chính sang mô hình quản trị dựa trên mục tiêu và kết quả.

Một điểm quan trọng khác là đặt lại câu hỏi về mục tiêu cuối cùng của giáo dục. Giáo dục không thể chỉ hướng tới điểm số, bằng cấp hoặc thứ hạng của nhà trường. Mục tiêu cuối cùng phải là hình thành con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có năng lực số, ngoại ngữ, tư duy khoa học, khả năng sáng tạo và thích ứng.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc cách con người tiếp cận tri thức, câu hỏi “học gì” ngày càng phải gắn với câu hỏi “học để làm gì” và “con người cần năng lực gì mà máy móc không thể thay thế”.

Vì vậy, việc Nghị quyết 71-NQ/TW đặt trọng tâm vào STEM, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ, năng lực sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là sự điều chỉnh chương trình giáo dục. Đó là sự chuẩn bị cho một cấu trúc kinh tế mới, trong đó chất lượng con người trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia.

Quản trị bằng kết quả: Thước đo mới của thực thi chính sách

Nếu giai đoạn đầu của Nghị quyết 71-NQ/TW tập trung nhiều vào tháo gỡ điểm nghẽn thể chế thì giai đoạn tiếp theo cần hình thành một hệ thống quản trị thực thi dựa trên kết quả.

Điều này đặc biệt quan trọng bởi giáo dục là lĩnh vực có độ trễ chính sách rất lớn. Một quyết định hôm nay có thể phải mất nhiều năm mới thể hiện đầy đủ tác động đối với chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, nếu không có hệ thống chỉ số phù hợp, việc đánh giá thực hiện rất dễ rơi vào tình trạng đếm số văn bản, số chương trình, số hội nghị hoặc tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ hành chính mà chưa đo được tác động thực chất.

Một cách tiếp cận phù hợp là xây dựng các nhóm chỉ số ở ba tầng.

Tầng thứ nhất là chỉ số đầu vào, gồm cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, ngân sách, hạ tầng số, thiết bị dạy học và điều kiện học tập.

Tầng thứ hai là chỉ số quá trình, phản ánh chất lượng quản trị nhà trường, phương pháp dạy học, mức độ giảm thủ tục hành chính, việc ứng dụng công nghệ, mức độ tự chủ và trách nhiệm giải trình.

Tầng thứ ba, quan trọng nhất, là chỉ số đầu ra và tác động, bao gồm chất lượng học tập, năng lực của học sinh, tỷ lệ việc làm của sinh viên, mức độ phù hợp giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo và mức độ hài lòng của người học, giáo viên, phụ huynh, doanh nghiệp.

Khi chuyển trọng tâm sang tổ chức thực hiện, trách nhiệm của người đứng đầu cũng phải được xác lập rõ hơn. Đây là yêu cầu được nhấn mạnh trong kết luận về triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW. Cơ quan quản lý giáo dục không thể chỉ hoàn thành vai trò tham mưu chính sách mà phải trực tiếp dẫn dắt quá trình đổi mới của toàn ngành.

Đặc biệt, chính sách phải được kiểm nghiệm từ cơ sở. Một chính sách giáo dục chỉ thực sự tốt khi giáo viên có thể thực hiện được, nhà trường có đủ điều kiện thực hiện, học sinh được hưởng lợi và xã hội nhìn thấy kết quả. Vì thế, việc cán bộ quản lý tăng cường xuống cơ sở, lắng nghe giáo viên, học sinh, phụ huynh và doanh nghiệp không phải là hoạt động mang tính hình thức, mà là một phương thức quan trọng để thiết kế và điều chỉnh chính sách.

Từ góc độ truyền thông chính sách, đây cũng là một thay đổi đáng chú ý. Khi trọng tâm chuyển sang thực thi, truyền thông không thể chỉ làm nhiệm vụ phổ biến văn bản. Truyền thông chính sách cần trở thành một bộ phận của quá trình thực thi: giải thích chính sách dễ hiểu, làm rõ quyền lợi và trách nhiệm, cung cấp thông tin thống nhất, phản ánh những vướng mắc từ cơ sở và góp phần hình thành đồng thuận xã hội.

Nói cách khác, chính sách chỉ có thể đi vào cuộc sống khi người thực hiện hiểu đúng, người thụ hưởng hiểu rõ và xã hội có khả năng giám sát kết quả.

Đây cũng là lý do những vấn đề như bệnh thành tích, gian lận trong học tập và thi cử, dạy thêm - học thêm biến tướng, tiêu cực trong tuyển sinh, đạo văn, gian lận khoa học hay bạo lực học đường cần được nhìn nhận như những vấn đề về chất lượng thực thi, chứ không chỉ là những hiện tượng riêng lẻ. Kết luận về triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW yêu cầu phải bổ sung, làm rõ nhiệm vụ xây dựng văn hóa, đạo đức và kỷ cương giáo dục bằng mục tiêu, giải pháp, trách nhiệm và thước đo cụ thể.

Đặc biệt, trong một nền giáo dục đang chuyển đổi số nhanh chóng, dữ liệu phải trở thành công cụ quản trị chứ không chỉ là sản phẩm thống kê.

Việc ngành giáo dục xây dựng cơ sở dữ liệu quy mô lớn về cơ sở giáo dục, học sinh, giáo viên, học bạ và văn bằng là một nền tảng quan trọng. Nhưng giá trị lớn hơn nằm ở khả năng sử dụng dữ liệu để dự báo nhu cầu giáo viên, phân bổ nguồn lực, phát hiện khoảng cách giáo dục giữa các vùng, hỗ trợ học sinh yếu thế và đánh giá hiệu quả chính sách.

Cùng với đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải đi đôi với quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu và chuẩn mực đạo đức. Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt vấn đề xây dựng chiến lược dữ liệu và nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát.

Như vậy, chuyển đổi số trong giáo dục không nên được hiểu đơn giản là số hóa hồ sơ hay đưa thêm công nghệ vào lớp học. Mục tiêu sâu hơn là hình thành một phương thức quản trị giáo dục dựa trên dữ liệu, kết quả và khả năng dự báo.

Từ “có chính sách” đến “có thay đổi”

Một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW cho thấy Việt Nam đã tạo được một nền tảng thể chế và chính sách đáng kể cho chặng đường đột phá giáo dục. Nhưng chính nền tảng đó đang đặt ra yêu cầu mới: phải chứng minh hiệu quả bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống giáo dục.

Đây là lúc cần chuyển từ tư duy “hoàn thành nhiệm vụ” sang “hoàn thành mục tiêu”; từ “ban hành chính sách” sang “tạo tác động”; từ “quản lý quá trình” sang “quản trị kết quả”.

Năm học 2026-2027 vì thế có thể được xem như một phép thử quan trọng đối với năng lực thực thi Nghị quyết 71-NQ/TW. Không phải ở số lượng văn bản được ban hành thêm, mà ở việc lớp học có thay đổi hay không; giáo viên có được giảm áp lực hành chính và tăng thời gian chuyên môn hay không; học sinh có được học tập chủ động, sáng tạo và toàn diện hơn hay không; các trường đại học có thực sự tạo ra nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghệ và đổi mới sáng tạo hay không.

Xa hơn, thước đo lớn nhất vẫn là khả năng đóng góp của giáo dục vào năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một nền giáo dục mạnh không chỉ tạo ra những người đạt điểm cao, mà phải tạo ra những công dân có tri thức, bản lĩnh, sức khỏe, đạo đức, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng với một thế giới biến động nhanh.

Vì vậy, yêu cầu “chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện” không đơn thuần là một điều chỉnh về phương thức triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW. Đây là bước chuyển trong tư duy quản trị phát triển: chính sách chỉ hoàn thành sứ mệnh khi biến thành năng lực, năng lực tạo thành kết quả và kết quả tạo ra giá trị phát triển cho con người và đất nước.

Nếu làm được điều đó, Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ không chỉ tạo thêm một chu kỳ đổi mới giáo dục, mà có thể mở ra một giai đoạn mới trong quản trị giáo dục Việt Nam - giai đoạn lấy thực chất, chất lượng và hiệu quả làm trung tâm.

ThS Đoàn Hồng Chiến

____________________________________

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
  2. Văn phòng Trung ương Đảng (2026), Thông báo số 160-TB/VPTW ngày 29/8/2026 về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về kết quả một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW.
  3. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 281/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.