Năm 2021, nền kinh tế Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách bởi dịch Covid-19. Dù vậy, với sự chung sức của toàn Đảng, toàn dân và đặc biệt là cộng đồng DN, đã giúp tốc độ tăng trưởng càng về cuối năm càng cao và ổn định hơn. Nhiều ngành sản xuất, lĩnh vực lấy lại đà tăng trưởng tích cực, giúp nền kinh tế Việt Nam bội thu trong gian khó. Những con số ấn tượng dưới đây sẽ minh chứng điều đó:

Ảnh minh họa - TTXVN
1. GDP tăng 2,58%
Trong bối cảnh dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021 nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh. Nhưng GDP năm 2021 của Việt Nam vẫn tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%) so với năm trước. Trong mức tăng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23%. Trong đó, riêng quý IV/2021 GDP tăng 5,22% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020. Trong đó đáng chú ý, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3,37%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,28%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 11,36%. Với kết quả này, các chuyên gia cho rằng, tăng trưởng kinh tế Việt Nam dù thấp hơn thời điểm trước đại dịch Covid-19, song vẫn tiếp tục bội thu trong gian khó, đặc biệt là trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới tiếp tục tăng trưởng âm.
2. Sản xuất công nghiệp tăng thêm 4,82%
Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố, nhờ có sự khởi sắc trong quý IV/2021, nên tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82% so với năm 2020 (quý I tăng 6,44%; quý II tăng 11,18%; quý III giảm 4,4%; quý IV tăng 6,52%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%, đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm... Tính chung năm 2021, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5% so với năm 2020 (năm trước tăng 3,3%).
3. Hơn 116 nghìn DN đăng ký thành lập mới
Năm 2021, sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt phong tỏa nghiêm ngặt, giãn cách kéo dài (đặc biệt là quý III/2021) đã tác động tiêu cực đến gia tăng số lượng DN. Tuy nhiên, sau hơn hai tháng thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 trên phạm vi toàn quốc, tình hình đăng ký kinh doanh của DN trong những tháng cuối năm đã khởi sắc rõ nét. Tính chung năm 2021, cả nước có 116,8 nghìn DN đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 1.611,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 854 nghìn lao động. Vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới trong năm 2021 đạt 13,8 tỷ đồng. Nếu tính cả 2.524,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 43,5 nghìn DN tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm nay là 4.136 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 43,1 nghìn DN quay trở lại hoạt động, nâng tổng số DN thành lập mới và DN quay trở lại hoạt động năm 2021 lên gần 160 nghìn DN, bình quân một tháng có 13,3 nghìn DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy dù phải chống chọi với dịch Covid-19, nhưng các DN vẫn tin tưởng vào triển vọng kinh tế Việt Nam trong cả hiện tại và năm tới.
4. Vốn FDI vào Việt Nam đạt trên 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ
Theo báo cáo của Bộ KHĐT, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2021 đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm trước (quý IV/2021 đạt 999,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước). Cùng nguồn vốn này thì đáng chú ý là vốn FDI vào Việt Nam vẫn rất ấn tượng. Cụ thể, tính đến 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, đáng lưu ý cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh đều tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, vốn đăng ký mới đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Vốn điều chỉnh thêm đạt trên 9 tỷ USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ. Chỉ có góp vốn, mua cổ phần là giảm 7,7%, nhưng cũng đạt gần 6,9 tỷ USD. Những con số này cho thấy, dù chịu tác động mạnh của dịch Covid-19, song các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tin tưởng vào triển vọng kinh tế và tiếp tục đổ vốn vào Việt Nam. Điều này cùng với xuất nhập khẩu của khu vực FDI tăng liên tục ở các tháng và trong cả năm... được xem là những điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2021.
5. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 668,5 tỷ USD
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2021 đạt con số kỷ lục là 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 336,25 tỷ USD, tăng 19% so với năm trước. Trong năm 2021 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%). Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 332,25 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước. Xuất khẩu tăng cao đã góp phần cải thiện đáng kể cán cân thương mại hàng hóa. Tính chung năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4 tỷ USD. Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 29,36 tỷ USD.
6. Tăng trưởng tín dụng 12,97% so với cùng kỳ
Mặc dù trải qua một năm 2021 đầy gian khó với những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, song với việc triển khai quyết liệt các chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt ngay từ đầu năm đã giúp thị trường tiền tệ ổn định; lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức thấp. Tính đến thời điểm 24/12/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,93% so với cuối năm 2020; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 8,44%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 12,97% so với cuối năm 2020 và tăng hơn 14,57% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, vốn tín dụng được ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV. Giảm tỷ trọng vốn vay của khu vực phi sản xuất; lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm; thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực, tỷ giá ổn định, trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng, dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Kết quả này càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, diễn biến phức tạp với những khó khăn, thách thức mới chưa từng có trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.
7. Kiều hối đạt 12,5 tỷ USD
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lượng kiều hối chuyển về trong năm 2021 đạt khoảng 12,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm ngoái. Trong số đó, lượng kiều hối gửi qua các tổ chức tín dụng khoảng 7%, các công ty kiều hối 28%, qua bưu điện 2%...Đây là một nguồn ngoại tệ đáng kể bổ sung quan trọng cho cán cân thanh toán, ổn định thị trường ngoại hối và dự trữ ngoại hối của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII) sụt giảm do khó khăn kinh tế thế giới.
8. VN-Index đạt mức kỷ lục 1.500,8 điểm
Năm 2021 Việt Nam hứng chịu tác động mạnh mẽ hơn của đại dịch Covid-19 khiến GDP quý 3 tăng trưởng âm 6,17%. Song, thị trường chứng khoán lại có bước tăng trưởng vượt bậc, đánh dấu bằng những kỷ lục chưa từng về điểm số, thanh khoản và số tài khoản mở mới... Trong đó, đáng lưu ý là VN-Index đạt mức mức kỷ lục với 1.500,8 điểm trong phiên 25/11, tăng gần 36% so với cuối năm 2020. Thanh khoản thường xuyên đạt mức hàng chục tỷ USD và lập kỷ lục ngày 23/12 với gần 2,3 tỷ USD. Quy mô thị trường cổ phiếu đã tăng mạnh, đạt 122,% GDP vào ngày 12/11 (tính GDP năm 2020) và số lượng tài khoản đầu tư gia tăng kỷ lục, khi đến hết tháng 11/2021 có tới 4 triệu tài khoản chứng khoán, tăng 1,2 triệu so với thời điểm cuối năm 2020 (2,8 triệu tài khoản). Qua đó, góp lượng lớn nguồn vốn cho thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế Việt trong năm qua.
9. Bội chi NSNN trong phạm vi cho phép
Mặc dù đợt dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt hoạt động của nền kinh tế - xã hội, tạo sức ép rất lớn đến cân đối thu, chi NSNN (thu NSNN giảm do kinh tế khó khăn và thực hiện các chính sách ưu đãi miễn, giảm; trong khi nhu cầu tăng chi lớn). Song kết thúc năm 2021, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng thu NSNN ước đạt 1.523,4 nghìn tỷ đồng, bằng 113,4% dự toán năm (tăng 180,1 nghìn tỷ đồng), trong đó thu nội địa bằng 110,4% so với dự toán năm (tăng gần 118 nghìn tỷ đồng); thu từ dầu thô bằng 197,4% (tăng 22,6 nghìn tỷ đồng); thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 122,1% (tăng 39,5 nghìn tỷ đồng). Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2021 ước tính đạt 1.839,2 nghìn tỷ đồng, bằng 109% dự toán năm, trong đó, chi thường xuyên bằng 102,3%; chi đầu tư phát triển bằng 106,4%; chi trả nợ lãi bằng 96,2%. Nhờ vậy, các chỉ tiêu về bội chi, nợ công, nợ Chính phủ đều trong phạm vi Quốc hội quyết định (không quá 4% GDP, 46,1% GDP, 41,9% GDP).
10. Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết, giá xăng dầu, giá gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới; dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước; học phí học kỳ I năm học 2021-2022 tiếp tục được miễn, giảm tại một số địa phương là các nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2021 giảm 0,18% so với tháng trước và tăng 1,81% so với tháng 12/2020. Bình quân năm 2021, CPI tăng 1,84% so với năm trước, đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.



