TÓM TẮT: Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, đối chiếu quy định và tổng hợp chính sách để làm rõ những thay đổi thể chế chủ yếu của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15. Kết quả phân tích tập trung vào bốn phương diện: quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và mô hình quản trị; liêm chính, tự do học thuật; chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo; bảo đảm và kiểm định chất lượng. Đáng chú ý, Luật thiết lập cơ chế quản trị khác biệt giữa cơ sở công lập và tư thục, đồng thời có các quy định chuyển tiếp cần được thực hiện đúng thời hạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các ưu tiên thực thi ở cấp cơ sở giáo dục đại học. Đây là nghiên cứu phân tích chính sách, không phải đánh giá định lượng tác động của Luật.
Từ khóa: giáo dục đại học; thể chế; tự chủ đại học; trách nhiệm giải trình; liêm chính học thuật; chuyển đổi số.
ABSTRACT: This article employs methods of legal document analysis, comparative examination of legal provisions, and policy synthesis to clarify the key institutional changes introduced by the Law on Higher Education No. 125/2025/QH15. The analysis focuses on four main aspects: institutional autonomy associated with accountability and governance models; academic integrity and academic freedom; digital transformation, artificial intelligence, and innovation; and quality assurance and accreditation. Notably, the Law establishes distinct governance mechanisms for public and private higher education institutions, while also introducing transitional provisions that must be implemented within the prescribed time limits. On this basis, the article proposes implementation priorities at the institutional level. This study is a policy analysis rather than a quantitative assessment of the Law's impact.
Keywords: higher education; institutional framework; university autonomy; accountability; academic integrity; digital transformation.

Ảnh minh họa - TL
1. ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đổi mới thể chế là điều kiện quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực chủ yếu từ ngày 01/01/2026; một số khoản có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 theo Điều 45 [1]. Vì vậy, việc nhận diện chính xác nội dung đổi mới và yêu cầu chuyển tiếp có ý nghĩa thiết thực đối với quản trị đại học.
Bài viết kế thừa các nhóm vấn đề của bản thảo gốc và sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, hệ thống hóa nội dung luật, so sánh cấu trúc quản trị và suy luận chính sách. Nguồn pháp lý trọng tâm là toàn văn Luật số 125/2025/QH15; các khuyến nghị được phân biệt với nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Phạm vi nghiên cứu không bao gồm khảo sát thực địa hoặc đo lường kết quả thực thi.
2. TỰ CHỦ ĐẠI HỌC VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ
2.1. Tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình
Khoản 2 Điều 3 xác định quyền tự chủ là quyền chủ động quyết định gắn với trách nhiệm giải trình trong các lĩnh vực học thuật, đào tạo, nghiên cứu, hợp tác quốc tế, tổ chức, nhân sự, tài chính và hoạt động khác [1]. Chính sách của Nhà nước tại Điều 5 nhấn mạnh bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Quy định này giúp phân biệt quyền tự chủ trong quản trị với khả năng tự bảo đảm kinh phí, nhưng không có nghĩa cơ sở đào tạo được miễn tuân thủ các điều kiện chuyên ngành hoặc quy định về tài chính, tài sản.
Trách nhiệm giải trình theo khoản 3 Điều 3 bao gồm công khai, cập nhật thông tin; tiếp nhận và phản hồi kiến nghị; báo cáo, chịu giám sát và kiểm tra. Do đó, tự chủ cần được vận hành bằng quy trình ra quyết định có chứng cứ, công khai các chỉ số chất lượng, cơ chế xử lý phản ánh và kiểm soát xung đột lợi ích. Đây vừa là yêu cầu pháp lý vừa là điều kiện tạo niềm tin xã hội.
2.2. Phân biệt mô hình quản trị công lập và tư thục
Một thay đổi có ý nghĩa đặc biệt là không thể tiếp tục mô tả hội đồng trường như thiết chế quản trị chung cho mọi cơ sở giáo dục đại học. Theo Điều 15–18, hội đồng trường được quy định đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục và một số cơ sở thành lập theo hiệp định; giám đốc, hiệu trưởng giữ vai trò quản lý, điều hành theo thẩm quyền. Điều 46 quy định từ ngày 01/01/2026, hội đồng đại học công lập và hội đồng trường của cơ sở công lập kết thúc hoạt động, bàn giao hồ sơ cho hiệu trưởng; các văn bản đã ban hành được áp dụng theo giới hạn chuyển tiếp luật định [1].
Vì thế, cơ sở công lập cần rà soát thẩm quyền ban hành quyết định, quy chế tổ chức và hồ sơ bàn giao; cơ sở tư thục cần bảo đảm hội đồng trường thực hiện chức năng quản trị, giám sát, không trực tiếp điều hành. Hội đồng khoa học và đào tạo tiếp tục có chức năng tư vấn chuyên môn, nghiên cứu, bảo đảm chất lượng và liêm chính học thuật theo Điều 18 [1].
3. LIÊM CHÍNH VÀ TỰ DO HỌC THUẬT
Luật xác định liêm chính học thuật tại khoản 4 Điều 3 theo các chuẩn mực trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không sao chép, xuyên tạc, làm giả dữ liệu hoặc xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ [1]. Việc thể chế hóa khái niệm này tạo căn cứ quan trọng để cơ sở giáo dục đại học xây dựng quy tắc ứng xử trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá, nghiên cứu và công bố khoa học. Tự do học thuật cần được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, chuẩn mực nghề nghiệp và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Ở cấp tổ chức, cần có quy trình phòng ngừa và xử lý vi phạm minh bạch, bảo đảm quyền giải trình của người bị xem xét; hướng dẫn trích dẫn, quản lý dữ liệu nghiên cứu và khai báo việc sử dụng công cụ AI. Không nên đồng nhất mọi hình thức hỗ trợ bằng AI với gian lận: đánh giá phải dựa trên quy định công bố trước, mục đích sử dụng và mức độ đóng góp thực chất của người học, nhà nghiên cứu.
4. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC SỐ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
4.1. Ứng dụng công nghệ số và AI có trách nhiệm
Các quy định của Luật về công nghệ số và giáo dục đại học số mở rộng khả năng tổ chức dạy học, quản lý và khai thác học liệu trên nền tảng số [1]. Tuy nhiên, lợi ích công nghệ chỉ bền vững khi được gắn với bảo đảm chất lượng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, khả năng tiếp cận bình đẳng và năng lực số của giảng viên, người học. Việc triển khai AI trong tuyển sinh, đánh giá hoặc hỗ trợ học tập cần có cơ chế giám sát của con người và kênh khiếu nại đối với quyết định có ảnh hưởng đáng kể.
Về quản trị, mỗi trường nên ban hành quy định sử dụng AI theo mức độ rủi ro, quy tắc khai báo sử dụng công cụ, tiêu chuẩn bảo mật và quy trình thẩm định hệ thống trước khi triển khai rộng rãi. Đây là khuyến nghị tổ chức thực hiện, không phải danh mục nghĩa vụ được trích nguyên văn từ một điều luật.
4.2. Kết nối nghiên cứu với chuyển giao tri thức
Định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo thêm cơ hội kết nối cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp, phát triển tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu [1]. Tuy nhiên, quyền thành lập tổ chức, góp vốn hoặc khai thác tài sản phải được đọc đồng thời với pháp luật về tài sản công, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ. Không thể suy luận rằng mọi trường đều được tự động thành lập doanh nghiệp spin-off hoặc định đoạt mọi tài sản nghiên cứu mà không cần đáp ứng điều kiện pháp luật liên quan.
Giải pháp phù hợp là thiết lập bộ phận hỗ trợ chuyển giao công nghệ, quy trình xác lập quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, định giá độc lập khi cần thiết và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa trường, nhóm nghiên cứu và đối tác.
5. BẢO ĐẢM VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
Bảo đảm chất lượng phải được xem là hệ thống quản trị liên tục, thay vì hoạt động chuẩn bị hồ sơ theo đợt. Các quy định tại Chương VI của Luật đặt trọng tâm vào trách nhiệm xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng, đánh giá và kiểm định theo đối tượng, điều kiện và lộ trình tương ứng [1]. Khi diễn giải phạm vi bắt buộc kiểm định, cần phân biệt kiểm định cơ sở giáo dục với kiểm định chương trình đào tạo, đồng thời đối chiếu văn bản hướng dẫn đang có hiệu lực; không nên khái quát rằng tất cả chương trình đều có cùng một nghĩa vụ hoặc chu kỳ.
Các trường cần liên kết dữ liệu về chuẩn đầu ra, kết quả học tập, việc làm của người tốt nghiệp, phản hồi của các bên liên quan và kết quả cải tiến. Xếp hạng đại học là nguồn thông tin tham khảo về vị thế, không thay thế kiểm định chất lượng hoặc đánh giá nội bộ.
6. THÁCH THỨC THỰC THI VÀ KHUYẾN NGHỊ
Thứ nhất, chuyển đổi mô hình quản trị đòi hỏi rà soát đồng bộ thẩm quyền, quy chế và cơ chế giám sát. Nếu chậm cập nhật văn bản nội bộ, cơ sở giáo dục có thể gặp rủi ro về tính hợp lệ của quyết định quản lý. Cần ưu tiên xử lý các vấn đề chuyển tiếp theo Điều 46 và xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm.
Thứ hai, sự khác biệt về nguồn lực giữa các cơ sở có thể tạo khoảng cách trong triển khai hạ tầng số, bảo vệ dữ liệu và năng lực AI. Cần xây dựng lộ trình đầu tư theo rủi ro, đào tạo giảng viên và nhân viên, đánh giá khả năng tiếp cận của người học trước khi mở rộng quy mô.
Thứ ba, thương mại hóa kết quả nghiên cứu liên quan nhiều hệ thống pháp luật. Cần chuẩn hóa hợp đồng, quản lý tài sản trí tuệ, đánh giá xung đột lợi ích và tham vấn pháp lý đối với giao dịch phức tạp. Thứ tư, cơ chế giải trình phải dựa vào dữ liệu có thể kiểm chứng, công khai phù hợp và cải tiến chất lượng sau đánh giá độc lập.
Ở cấp quản lý nhà nước, cần tiếp tục hướng dẫn thống nhất các quy định được giao chi tiết và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho cơ sở giáo dục đại học. Ở cấp nhà trường, có thể thiết lập kế hoạch thực thi theo ba bước: kiểm kê nghĩa vụ pháp lý và thời hạn; phân công đơn vị chủ trì, nguồn lực và chỉ số theo dõi; kiểm tra định kỳ và công bố kết quả khắc phục. Các giải pháp này cần được điều chỉnh theo loại hình và điều kiện cụ thể của từng cơ sở.
7. KẾT LUẬN
Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong thể chế giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt ở quan hệ giữa tự chủ và giải trình, cơ cấu quản trị theo loại hình cơ sở, liêm chính học thuật, chuyển đổi số và bảo đảm chất lượng. Giá trị thực tiễn của đổi mới pháp luật phụ thuộc vào việc thực hiện đúng các quy định chuyển tiếp, phối hợp các luật có liên quan và xây dựng năng lực quản trị dựa trên dữ liệu. Nghiên cứu tiếp theo cần khảo sát thực tiễn triển khai tại các nhóm trường để kiểm chứng hiệu quả của những thay đổi này.
TS Trần Danh Lực
Đại học Quốc gia Hà Nội
______________________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Quốc hội (2025), Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, ngày 10/12/2025, hiệu lực theo Điều 45.
https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=216506&pageid=27160&typegroupid=3
[2] Quốc hội (2012), Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 (và các văn bản sửa đổi, bổ sung trước năm 2026); đối chiếu quy định hết hiệu lực và chuyển tiếp tại Điều 45–46 Luật số 125/2025/QH15.
[3] Quốc hội (2017), Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14, ngày 21/6/2017 (tham chiếu trong phân tích rủi ro quản lý tài sản).
[4] Chính phủ (2026), Nghị định số 91/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.



