24/08/2026 lúc 11:06 (GMT+7)
Breaking News

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Từ đồng hành lập pháp đến kiến tạo động lực phát triển

Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đang cho thấy một chuyển động đáng chú ý trong tư duy lập pháp: không chỉ tập trung xử lý những vướng mắc trước mắt mà hướng tới xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, linh hoạt và có khả năng mở đường cho phát triển. Khi Quốc hội và Chính phủ cùng nhìn về một hướng, thể chế không còn đơn thuần là “khung quản lý”, mà trở thành nguồn lực, động lực và lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế.

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Từ đồng hành lập pháp đến kiến tạo động lực phát triển. Ảnh minh họa - TL

Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu tăng tốc mạnh mẽ, đồng thời phải thích ứng với những thay đổi sâu rộng về mô hình quản trị, tổ chức chính quyền địa phương, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế. Việc Quốc hội làm việc với tinh thần khẩn trương, chủ động, linh hoạt để xem xét, sửa đổi, bổ sung nhiều luật có tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một kỳ họp lập pháp.

Điểm đáng chú ý nhất không chỉ nằm ở số lượng luật được xem xét hay thông qua, mà ở cách tiếp cận: tháo gỡ điểm nghẽn phải gắn với kiến tạo không gian phát triển mới. Đây cũng là tinh thần được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh trong thảo luận về sửa đổi Luật Đất đai: xử lý những điểm nghẽn là cần thiết, nhưng mục tiêu cao hơn là kiến tạo cho giai đoạn phát triển mới.

Từ “gỡ vướng” sang tư duy kiến tạo thể chế

Trong nhiều năm, một trong những vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp và người dân quan tâm là tình trạng quy định pháp luật chồng chéo, thủ tục kéo dài, thẩm quyền chưa được phân định rõ hoặc cùng một vấn đề nhưng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau. Những “điểm nghẽn” ấy nếu kéo dài sẽ làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian triển khai dự án, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và quan trọng hơn, có thể làm suy giảm niềm tin vào môi trường đầu tư, kinh doanh.

Bởi vậy, việc Quốc hội và Chính phủ cùng đặt trọng tâm vào tháo gỡ vướng mắc thể chế cần được nhìn nhận như một yêu cầu của phát triển chứ không chỉ là hoạt động kỹ thuật lập pháp.

Tại kỳ họp, đại biểu Trần Hoàng Ngân đánh giá cao tinh thần làm việc liên tục của Quốc hội, kể cả trong ngày nghỉ, để hoàn thành các nội dung Chính phủ trình. Theo ông, điều này thể hiện sự đồng hành giữa Quốc hội và Chính phủ trong việc thể chế hóa đường lối của Đảng, rà soát hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, dễ thực thi, qua đó thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Đây chính là điểm cần được nhấn mạnh khi đánh giá vai trò của thể chế trong giai đoạn phát triển mới.

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh không thể chỉ dựa vào vốn, đất đai, lao động hay tài nguyên. Những nguồn lực ấy chỉ có thể chuyển hóa thành giá trị khi được vận hành trong một môi trường thể chế phù hợp. Một quy định rõ ràng có thể rút ngắn thời gian đầu tư; một thủ tục được đơn giản hóa có thể giảm chi phí cho hàng nghìn doanh nghiệp; một thẩm quyền được phân cấp đúng chỗ có thể biến nhiều tháng chờ đợi thành những quyết định nhanh chóng ở cơ sở.

Nói cách khác, chất lượng thể chế quyết định một phần rất lớn chất lượng phân bổ nguồn lực. Từ góc nhìn đó, chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “kiến tạo” không có nghĩa là Nhà nước giảm vai trò, mà là thay đổi phương thức thực hiện vai trò. Nhà nước không làm thay thị trường, không can thiệp hành chính vào những gì thị trường có thể tự giải quyết, nhưng phải xây dựng luật chơi minh bạch, ổn định, công bằng và có khả năng dự báo.

Đây cũng là lý do yêu cầu phân cấp, phân quyền đang trở thành một nội dung xuyên suốt trong quá trình hoàn thiện thể chế.

Dự án Luật Phát triển đô thị được đề cập tại kỳ họp là một ví dụ. Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, dự luật bổ sung nhiều nội dung phân cấp, phân quyền để Hội đồng nhân dân các thành phố có thể ban hành quy phạm pháp luật trong phạm vi được giao mà không phải chờ nghị định của Chính phủ; riêng Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng có cơ chế phân cấp, phân quyền trọn gói, qua đó chủ động hơn trong xử lý những vấn đề phát sinh và phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ, tài chính quốc tế và thu hút nhà đầu tư chiến lược.

Đằng sau câu chuyện phân quyền là một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để quyết định được đưa ra ở đúng nơi, bởi đúng chủ thể và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả.

Nếu phân cấp mà không đi cùng trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát và dữ liệu minh bạch thì rất dễ phát sinh rủi ro. Nhưng nếu vì sợ sai mà giữ quá nhiều thẩm quyền ở cấp trên, bộ máy sẽ khó phản ứng nhanh trước những yêu cầu mới của thực tiễn.

Do đó, phân cấp, phân quyền trong giai đoạn mới cần được thiết kế như một hệ thống quản trị hoàn chỉnh: giao quyền, giao nguồn lực, xác lập trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và đánh giá bằng kết quả đầu ra.

Pháp luật phải đi trước một bước để mở không gian phát triển

Một trong những dấu hiệu rõ nhất của tư duy kiến tạo là pháp luật không chỉ xử lý những vấn đề đã phát sinh mà phải dự liệu được những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới và công nghệ mới.

Luật Dầu khí (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 23/8 là một minh chứng. Với 473/475 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành, luật mới không chỉ tập trung tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động dầu khí truyền thống mà còn mở khung pháp lý cho thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) và năng lượng ngoài khơi.

Đáng chú ý, luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý hoạt động dầu khí, rút ngắn chuỗi phê duyệt và phân định rõ hơn trách nhiệm giữa Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Cách tiếp cận này phản ánh một nguyên tắc quản trị quan trọng: cấp nào nắm rõ nhất về vấn đề gì thì nên được trao thẩm quyền quyết định đối với vấn đề đó, trong khuôn khổ pháp luật và cơ chế giám sát phù hợp.

Quan trọng hơn, việc đưa CCS và năng lượng ngoài khơi vào khuôn khổ pháp luật cho thấy pháp luật đang được sử dụng như công cụ mở đường cho những chuỗi giá trị mới. Đây là sự thay đổi rất đáng chú ý về tư duy.

Trong nền kinh tế truyền thống, luật thường đi sau thực tiễn để điều chỉnh những quan hệ xã hội đã hình thành. Nhưng trong nền kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức, nếu pháp luật luôn đi sau thì có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển. Công nghệ mới xuất hiện nhanh hơn chu kỳ sửa đổi luật; mô hình kinh doanh mới có thể hình thành trước khi có quy định điều chỉnh; dòng vốn quốc tế có thể dịch chuyển rất nhanh giữa các thị trường.

Vì vậy, thể chế phát triển phải có khả năng đi trước một bước nhưng không vượt khỏi giới hạn an toàn. Sửa đổi Luật Đất đai cũng đặt ra yêu cầu tương tự. Các đại biểu cho rằng Luật Đất đai năm 2024 tuy mới đi vào thực tiễn nhưng việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và yêu cầu khơi thông nguồn lực đất đai khiến việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện luật trở nên cần thiết.

Đặc biệt, yêu cầu đổi mới quy hoạch cho thấy bài toán thể chế hiện nay không chỉ là “có quy định hay không” mà là quy định có đủ linh hoạt để theo kịp thực tiễn hay không.

Nếu quy định quá cứng nhắc, địa phương khó xử lý những tình huống mới. Nhưng nếu quy định quá mở mà thiếu tiêu chí, điều kiện và cơ chế giám sát, nguy cơ tùy tiện trong thực thi sẽ gia tăng.

Bởi vậy, tư duy lập pháp hiện đại cần tìm được điểm cân bằng giữa ổn định và linh hoạt; giữa kỷ cương và sáng tạo; giữa phân quyền và kiểm soát quyền lực.

Dự thảo Luật Đất đai được đại biểu Lương Đình Hưng phân tích theo hướng chuyển từ tư duy xây dựng luật quá chi tiết sang quy định những vấn đề khung, nguyên tắc, còn những nội dung thường xuyên biến động được giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt.

Đây có thể xem là một hướng đi phù hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật trong một nền kinh tế vận động nhanh.

Đồng hành để biến thể chế thành năng lực cạnh tranh

Điểm cuối cùng quyết định thành công của quá trình tháo gỡ điểm nghẽn không nằm ở việc có bao nhiêu đạo luật được sửa đổi, mà ở khả năng đưa các quy định ấy vào cuộc sống.

Một đạo luật tốt nhưng chậm được hướng dẫn, thực thi không thống nhất hoặc cán bộ vẫn giữ tư duy “không quản được thì cấm” thì tác động tích cực sẽ bị hạn chế. Ngược lại, một quy định được thiết kế rõ ràng, cùng với cơ chế thực thi minh bạch và đội ngũ công vụ dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn.

Tại kỳ họp, đại biểu Phan Đức Hiếu nhấn mạnh nhiều nội dung luật được sửa đổi liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ tạo tác động tích cực; Nhà nước tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực, đồng thời đẩy mạnh các chính sách miễn, giảm thuế đối với cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nếu nhìn từ phía doanh nghiệp, đây chính là phần “đầu ra” của cải cách thể chế. Doanh nghiệp không cần thêm những khẩu hiệu cải cách, mà cần thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn, quyền tài sản được bảo vệ tốt hơn, chính sách ổn định hơn và khả năng dự báo cao hơn. Người dân cũng cần các quy định dễ hiểu, thủ tục thuận tiện và cơ chế giải quyết công việc minh bạch.

Ở cấp độ vĩ mô, những cải thiện nhỏ ấy cộng lại sẽ tạo ra thay đổi lớn về năng suất và sức cạnh tranh quốc gia.

Đặc biệt, trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, dư địa từ cải cách thể chế có thể trở thành một trong những động lực quan trọng. Không phải mọi động lực tăng trưởng đều đến từ việc tăng thêm vốn đầu tư. Một phần đáng kể có thể đến từ việc sử dụng tốt hơn những nguồn lực đang có.

Đất đai được đưa vào sử dụng hiệu quả hơn; dự án được triển khai nhanh hơn; doanh nghiệp giảm thời gian tuân thủ; vốn tư nhân được giải phóng; công nghệ được ứng dụng rộng hơn; chính quyền địa phương chủ động hơn… tất cả đều góp phần nâng cao năng suất của nền kinh tế.

Việc ứng dụng Big Data và AI vào phân tích, đọc luật, tổng hợp và xử lý ý kiến tại kỳ họp, như đại biểu Hoàng Văn Nghĩa đề cập, cũng gợi mở một hướng đi mới cho chính hoạt động lập pháp.

Nếu dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, công nghệ có thể hỗ trợ cơ quan lập pháp đánh giá tác động chính sách nhanh hơn, nhận diện sự chồng chéo giữa các quy định và phát hiện những điểm có nguy cơ gây khó khăn trong thực thi. Xa hơn, dữ liệu thực tiễn có thể trở thành một thành phần quan trọng của quy trình xây dựng chính sách.

Đó chính là bước chuyển từ lập pháp dựa nhiều vào kinh nghiệm sang lập pháp ngày càng dựa trên dữ liệu và bằng chứng.

Trong bối cảnh ấy, “đồng hành” giữa Quốc hội và Chính phủ cũng cần được hiểu theo nghĩa sâu hơn. Đó không chỉ là phối hợp để thông qua một dự án luật, mà là phối hợp trong toàn bộ vòng đời chính sách: từ nhận diện vấn đề, thiết kế giải pháp, xây dựng luật, tổ chức thực hiện đến giám sát và đánh giá tác động.

Mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ phải đồng thời đặt câu hỏi: nguồn lực nào được giải phóng, ai được hưởng lợi, năng suất nào được cải thiện và không gian phát triển nào được mở ra?

Đây là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng của một cuộc cải cách thể chế. Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với khối lượng công việc lớn và tiến độ khẩn trương, đang cho thấy quyết tâm đưa pháp luật đến gần hơn với yêu cầu của thực tiễn. Quốc hội ngày 23/8 đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan và Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), đồng thời tiếp tục thảo luận về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Nhưng giá trị lớn nhất của những quyết định lập pháp này sẽ không chỉ được đo bằng thời điểm luật được thông qua. Giá trị ấy được kiểm chứng trong những năm tiếp theo, khi doanh nghiệp có thể đầu tư thuận lợi hơn, người dân tiếp cận dịch vụ công dễ dàng hơn, địa phương chủ động hơn và nguồn lực xã hội được huy động hiệu quả hơn.

Thể chế vì thế cần được nhìn nhận như một dạng hạ tầng đặc biệt của phát triển. Hạ tầng giao thông giúp hàng hóa lưu chuyển; hạ tầng số giúp dữ liệu lưu chuyển; còn hạ tầng thể chế giúp nguồn lực, quyền lợi và cơ hội được phân bổ và vận hành trong một trật tự minh bạch.

Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không chỉ cần những đạo luật “đúng” mà cần những đạo luật có sức sống, có khả năng thích ứng và tạo động lực. Không chỉ tháo gỡ những nút thắt của hôm nay, mà phải chủ động mở đường cho những cơ hội của ngày mai.

Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của tinh thần Quốc hội đồng hành cùng Chính phủ: cùng tháo gỡ để không bị mắc kẹt trong những giới hạn cũ; cùng kiến tạo để đất nước có thêm không gian phát triển; và cùng chịu trách nhiệm trước nhân dân về chất lượng của một hệ thống thể chế phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và thịnh vượng.

ThS Phạm Linh Chi

Tài liệu tham khảo

  1. Báo Tin tức - Thông tấn xã Việt Nam, Đồng hành tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tạo động lực phát triển, ngày 23/8/2026.
  2. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, Quốc hội khóa XVI khai mạc Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất: Kiến tạo thể chế, không để lỡ thời cơ phát triển, ngày 3/8/2026.
  3. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, Kiến tạo thể chế phát triển: Dấu ấn hơn 10 ngày đầu Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tháng 8/2026.
  4. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, Dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế TNCN và thuế TNDN: Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh, ngày 21/8/2026.
  5. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI phải là nhiệm kỳ của kiến tạo thể chế phát triển, tháng 8/2026.
  6. Bộ Tư pháp, Tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định của pháp luật - tạo đột phá về thể chế phát triển, 2026.
  7. Bộ Tư pháp, Tập trung xử lý dứt điểm “điểm nghẽn” về thể chế, tháng 5/2026.
  8. Bộ Tư pháp – Cổng thông tin về xây dựng pháp luật, Tạo bước chuyển biến rõ nét trong cắt giảm thủ tục hành chính, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tháng 6/2026.
  9. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, Thông cáo báo chí về dự kiến nội dung, chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, tháng 7/2026.
  10. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ - Xây dựng Chính sách, Pháp luật, chuyên mục Thể chế, các bài viết về nâng cao năng lực thực thi và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.