Việt Nam đang bước vào giai đoạn đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở vị trí ngày càng trung tâm trong mô hình phát triển. Tuy nhiên, từ một kết quả nghiên cứu đến một công nghệ được ứng dụng rộng rãi, một sản phẩm có khả năng cạnh tranh hay một doanh nghiệp công nghệ vẫn còn khoảng cách đáng kể. Những vướng mắc về định giá tài sản trí tuệ, quản lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, kết nối cung - cầu công nghệ và năng lực của các tổ chức trung gian đang trở thành những “nút thắt” cần được tháo gỡ. Việc xử lý đồng bộ những điểm nghẽn này không chỉ nhằm tăng hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu mà còn mở rộng không gian để tri thức chuyển hóa thành năng suất, sản phẩm và giá trị kinh tế - xã hội.
![]()
TS Ngô Thị Thúy Hường, giảng viên, trưởng nhóm nghiên cứu Hóa môi trường và Độc học sinh thái tại trường Đại học Phenikaa. Ảnh: Phenikaa Group
Cuộc họp về những khó khăn, vướng mắc trong định giá quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, sàn giao dịch khoa học và công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì mới đây cho thấy một vấn đề có ý nghĩa rộng hơn phạm vi quản lý một lĩnh vực chuyên ngành: làm thế nào để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Theo thông tin từ Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các cơ quan tham dự đã tập trung trao đổi về cơ chế quản lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ, định giá quyền sở hữu trí tuệ, kết nối cung - cầu công nghệ và nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Chính phủ cũng nhận diện một số hạn chế đáng chú ý: nguồn cung công nghệ từ viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế; khả năng thương mại hóa chưa cao; doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào quá trình đặt hàng, nghiên cứu và phát triển công nghệ; cơ chế xác định, quản lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước còn chưa rõ; hoạt động định giá tài sản trí tuệ thiếu cơ sở dữ liệu giao dịch tham chiếu; hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và khả năng kết nối của các sàn giao dịch khoa học và công nghệ còn hạn chế.
Những vấn đề này cho thấy thương mại hóa kết quả nghiên cứu không thể chỉ được nhìn nhận như “khâu cuối” của một đề tài. Trên thực tế, khả năng thương mại hóa phải được tính đến ngay từ khi xác định nhiệm vụ nghiên cứu, lựa chọn công nghệ, xây dựng mô hình tài chính, xác lập quyền sở hữu và tìm kiếm doanh nghiệp tiếp nhận.
Từ “có kết quả nghiên cứu” đến “có giá trị trên thị trường”
Trong một nền kinh tế dựa ngày càng nhiều vào tri thức, kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi có khả năng giải quyết một vấn đề cụ thể của sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống xã hội.
Một công nghệ có thể có giá trị khoa học cao nhưng chưa chắc đã có giá trị thương mại ngay lập tức. Giữa hai trạng thái này tồn tại một khoảng chuyển tiếp gồm nhiều công đoạn: hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, kiểm chứng, chuẩn hóa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, định giá, tìm kiếm đối tác, huy động vốn, sản xuất thử, xây dựng thị trường và mở rộng quy mô.
Nếu thiếu một trong những mắt xích đó, kết quả nghiên cứu rất dễ dừng lại ở báo cáo nghiệm thu hoặc nguyên mẫu.
Đây chính là lý do thương mại hóa cần được nhìn như một chuỗi giá trị liên tục thay vì một nhiệm vụ riêng biệt của cơ quan quản lý khoa học và công nghệ.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một đột phá quan trọng hàng đầu, đồng thời đặt người dân và doanh nghiệp vào vị trí trung tâm, nhà khoa học là nhân tố then chốt và Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, giải phóng nguồn lực, khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đáng chú ý, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ khai thác thương mại các văn bằng bảo hộ sáng chế đạt 8-10%. Đây là chỉ dấu cho thấy hiệu quả của hệ thống khoa học, công nghệ không thể chỉ đo bằng số lượng công trình, bài báo, sáng chế hay đề tài được nghiệm thu, mà ngày càng phải gắn với khả năng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp, doanh thu, năng suất và những tác động thực tế.
Từ góc độ đó, việc tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa hiện nay có thể xem là bước chuyển từ tư duy “quản lý đề tài” sang tư duy “quản trị chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo”.
Điểm nghẽn lớn nằm ở tài sản và quyền sở hữu
Một trong những vấn đề phức tạp nhất được đặt ra là cơ chế xác định và quản lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
Đây là vấn đề có tính chất nền tảng. Bởi nếu chưa xác định rõ ai có quyền sở hữu, ai được sử dụng, ai có quyền chuyển giao, ai chịu trách nhiệm về tài sản và lợi ích được phân chia như thế nào, thì rất khó hình thành động lực đủ mạnh để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Thực tế này đã được Bộ Khoa học và Công nghệ nhận diện trong quá trình rà soát các quy định liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các nhóm vướng mắc được chỉ ra bao gồm giao quyền sử dụng hoặc sở hữu tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước; định giá kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ; phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa; cơ chế thành lập doanh nghiệp khởi nguồn trên cơ sở nghiên cứu của đơn vị sự nghiệp công lập; cũng như cơ chế góp vốn và tổ chức hoạt động của doanh nghiệp spin-off từ viện nghiên cứu, trường đại học.
Nếu một nhà khoa học hoặc tổ chức nghiên cứu không nhìn thấy con đường rõ ràng để tiếp tục phát triển và hưởng lợi hợp pháp từ kết quả nghiên cứu, động lực thương mại hóa sẽ bị suy giảm. Ngược lại, nếu cơ chế quyền tài sản rõ ràng, minh bạch và có khả năng dự báo, kết quả nghiên cứu có thể trở thành một loại tài sản thực sự tham gia vào thị trường.
Vì vậy, tháo gỡ vấn đề này không đơn thuần là sửa một vài thủ tục hành chính. Đó là quá trình thiết kế lại quan hệ giữa Nhà nước - tổ chức nghiên cứu - nhà khoa học - doanh nghiệp - nhà đầu tư trong toàn bộ vòng đời của một tài sản trí tuệ.
Định giá tài sản trí tuệ: “bài toán khó” cần dữ liệu thị trường
Khác với tài sản hữu hình, giá trị của một sáng chế, phần mềm, thiết kế công nghệ, quy trình sản xuất hay giải pháp kỹ thuật thường không thể xác định đơn giản bằng chi phí tạo ra nó.
Giá trị tài sản trí tuệ phụ thuộc vào khả năng ứng dụng, thị trường mục tiêu, mức độ độc quyền, khả năng thay thế công nghệ hiện hữu, tiềm năng tạo doanh thu, chi phí tiếp tục phát triển và nhiều yếu tố khác.
Trong khi đó, theo đánh giá tại cuộc họp, hoạt động định giá, thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu cơ sở dữ liệu và thông tin giao dịch tham chiếu.
Đây là điểm nghẽn có tính hệ thống. Khi thiếu dữ liệu giao dịch, người định giá khó xác định mức giá tham chiếu; doanh nghiệp khó đánh giá cơ hội đầu tư; viện, trường khó đàm phán chuyển giao; còn cơ quan quản lý dễ gặp tâm lý thận trọng vì nguy cơ xác định giá không phù hợp.
Do đó, phát triển thị trường khoa học và công nghệ phải song hành với phát triển hạ tầng dữ liệu của thị trường.
Một sàn giao dịch khoa học và công nghệ hiện đại không nên chỉ là nơi đăng danh mục công nghệ. Nó cần trở thành hạ tầng thông tin có khả năng cung cấp dữ liệu về công nghệ, bằng sáng chế, nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, lịch sử giao dịch, mức độ sẵn sàng công nghệ, chi phí chuyển giao, khả năng ứng dụng và các tổ chức trung gian.
Khi thông tin được chuẩn hóa và minh bạch hơn, chi phí tìm kiếm công nghệ và đối tác sẽ giảm xuống, qua đó tạo điều kiện hình thành các giao dịch thực chất.
Doanh nghiệp phải tham gia từ đầu, không chỉ ở khâu nhận chuyển giao
Một hạn chế được Chính phủ chỉ ra là doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào quá trình đặt hàng, nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Đây là vấn đề cần được xem xét trong mối quan hệ giữa “cung” và “cầu” của thị trường khoa học và công nghệ.
Nếu viện nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu dựa trên năng lực sẵn có, còn doanh nghiệp chỉ xuất hiện sau khi sản phẩm nghiên cứu đã hoàn thành, khoảng cách giữa công nghệ và nhu cầu thị trường rất dễ phát sinh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tham gia ngay từ quá trình xác định bài toán, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm, khả năng hình thành thị trường đầu ra sẽ cao hơn.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW khi xác định doanh nghiệp là một trong những chủ thể trung tâm của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể đóng vai trò “khách hàng đầu tiên” của công nghệ. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua cơ chế đặt hàng, đồng tài trợ, mua sắm công đối với sản phẩm đổi mới sáng tạo trong nước và các chính sách khuyến khích đầu tư cho R&D.
Khi hình thành được chuỗi “doanh nghiệp đặt hàng - nhà khoa học nghiên cứu - Nhà nước hỗ trợ - thị trường kiểm chứng”, khả năng thương mại hóa sẽ được nâng lên đáng kể.
Luật mới tạo nền tảng để chuyển từ quản lý sang kiến tạo
Việc Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/10/2025, tạo thêm cơ sở pháp lý quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điểm đáng chú ý trong quá trình hoàn thiện thể chế là yêu cầu tạo không gian để nghiên cứu, thử nghiệm và chấp nhận rủi ro hợp lý.
Nghiên cứu khoa học không phải mọi trường hợp đều có thể bảo đảm kết quả ngay từ đầu. Đặc biệt, với các công nghệ mới, thời gian từ nghiên cứu đến sản phẩm thường kéo dài và có thể trải qua nhiều vòng thử nghiệm.
Nếu cơ chế quản lý đặt nặng việc tránh mọi rủi ro thay vì quản trị rủi ro, nhà khoa học và doanh nghiệp sẽ có xu hướng lựa chọn những nhiệm vụ an toàn, ít đột phá hơn.
Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu có cách tiếp cận mở, cho phép thí điểm đối với những vấn đề mới; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đây là một thay đổi quan trọng về tư duy quản lý: không phải loại bỏ rủi ro, mà phải thiết kế cơ chế để nhận diện, phân loại và kiểm soát rủi ro.
Từ sàn giao dịch công nghệ đến hệ sinh thái giao dịch thực chất
Việc phát triển các sàn giao dịch khoa học và công nghệ được kỳ vọng tạo ra không gian kết nối cung - cầu. Tuy nhiên, như đánh giá tại cuộc họp, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và khả năng kết nối của các sàn hiện vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc “có sàn” mà là sàn có tạo ra giao dịch hay không. Một hệ thống giao dịch công nghệ hiệu quả cần hội tụ ít nhất bốn yếu tố: dữ liệu đáng tin cậy; công nghệ được chuẩn hóa thông tin; bên mua có nhu cầu thực; và tổ chức trung gian đủ năng lực thẩm định, tư vấn, đàm phán, chuyển giao.
Trong đó, tổ chức trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây có thể là các trung tâm chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp tư vấn công nghệ, tổ chức sở hữu trí tuệ, đơn vị định giá, quỹ đầu tư, vườn ươm doanh nghiệp hoặc các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Nếu thiếu các “nhà môi giới tri thức” này, nhà khoa học khó tiếp cận doanh nghiệp và doanh nghiệp khó đánh giá công nghệ.
Cần đo hiệu quả bằng giá trị tạo ra
Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong quản lý khoa học, công nghệ hiện nay là chuyển trọng tâm từ đầu vào và thủ tục sang kết quả và tác động.
Định hướng này đã được thể hiện rõ trong yêu cầu tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2035. Chính phủ đặt vấn đề xây dựng hệ thống chương trình tinh gọn, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ lớn, đồng thời gắn quản lý với kết quả đầu ra và thương mại hóa.
Theo thông tin được công bố, giai đoạn 2016-2025, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia có khoảng 42 chương trình, triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ với tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước gần 17.000 tỷ đồng.
Con số này cho thấy nguồn lực xã hội dành cho khoa học, công nghệ là đáng kể. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mỗi đồng đầu tư công tạo ra tác động lớn hơn thông qua tri thức, công nghệ, sản phẩm và năng suất.
Đây cũng là lý do thương mại hóa không nên được hiểu đơn giản là mục tiêu “kiếm tiền từ đề tài”. Giá trị của thương mại hóa rộng hơn nhiều: đó có thể là nâng năng suất, giảm chi phí sản xuất, thay thế công nghệ nhập khẩu, hình thành ngành công nghiệp mới, tạo việc làm chất lượng cao, nâng năng lực tự chủ công nghệ hoặc mở ra sản phẩm xuất khẩu.
Tạo một “đường cao tốc” từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Nhìn tổng thể, những điểm nghẽn hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quyền tài sản chưa rõ làm khó định giá; định giá thiếu dữ liệu làm khó giao dịch; giao dịch ít làm thị trường công nghệ kém phát triển; thị trường yếu khiến doanh nghiệp chưa tích cực tham gia; doanh nghiệp ít tham gia lại khiến nghiên cứu khó bám sát nhu cầu thị trường.
Vì thế, không thể xử lý từng điểm nghẽn một cách biệt lập. Điều cần thiết là hình thành một “đường cao tốc” cho quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị, trong đó mỗi khâu đều có cơ chế rõ ràng: xác định bài toán nghiên cứu; đặt hàng; nghiên cứu; bảo hộ sở hữu trí tuệ; xác lập quyền tài sản; thử nghiệm; định giá; huy động vốn; chuyển giao; sản xuất và thương mại hóa.
Trong chuỗi đó, Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp làm thay thị trường. Vai trò quan trọng hơn là kiến tạo thể chế, đầu tư vào hạ tầng dùng chung, tạo cơ chế chia sẻ rủi ro và bảo đảm cạnh tranh minh bạch.
Viện nghiên cứu và trường đại học cần được trao thêm không gian tự chủ để khai thác tài sản trí tuệ và hợp tác với doanh nghiệp. Nhà khoa học cần có động lực rõ ràng để theo đuổi quá trình phát triển công nghệ sau khi đề tài kết thúc. Doanh nghiệp cần được tham gia từ đầu và có cơ chế khuyến khích đầu tư R&D. Các tổ chức trung gian cần được chuyên nghiệp hóa.
Đặc biệt, dữ liệu phải trở thành nền tảng của thị trường khoa học và công nghệ. Khi có dữ liệu về công nghệ, quyền sở hữu, mức độ sẵn sàng công nghệ, giao dịch và nhu cầu doanh nghiệp, quá trình kết nối cung - cầu sẽ minh bạch và hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Nghị quyết 57-NQ/TW, thương mại hóa kết quả nghiên cứu có thể xem là một phép thử quan trọng đối với khả năng chuyển hóa chủ trương thành giá trị thực tế. Sau hơn một năm triển khai, các cơ quan Trung ương tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu gắn việc tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ với chuyển hóa thành giá trị mới cho xã hội; đồng thời yêu cầu xác định rõ sản phẩm, kết quả và tác động thực tế của từng nhiệm vụ.
Nếu giải quyết được những nút thắt về quyền tài sản, định giá, dữ liệu, kết nối thị trường và cơ chế tham gia của doanh nghiệp, Việt Nam sẽ không chỉ nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ mà còn tạo thêm một kênh quan trọng để thúc đẩy năng suất và năng lực cạnh tranh.
Điều quan trọng nhất là hình thành một tư duy xuyên suốt: một công trình nghiên cứu không nên kết thúc ở nghiệm thu; một sáng chế không nên dừng lại ở văn bằng; một công nghệ không nên chỉ tồn tại trong phòng thí nghiệm. Đích đến cuối cùng phải là khả năng tạo ra giá trị cho nền kinh tế và xã hội.
Đó cũng chính là bước chuyển từ nền khoa học chú trọng tạo ra tri thức sang một hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có khả năng biến tri thức thành sản phẩm, sản phẩm thành thị trường và thị trường thành động lực phát triển.
ThS Bạch Thái Tuyền
__________________________________
Tài liệu tham khảo
- Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Quốc hội (2025), Luật số 93/2025/QH15 về Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, ban hành ngày 27/6/2025, có hiệu lực từ 1/10/2025.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), “Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ”, ngày 27/9/2026.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), “Tái cấu trúc chương trình KHCN phải tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ lớn của quốc gia”, ngày 11/8/2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2024), Tài liệu rà soát những vướng mắc trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.



