Tóm tắt: Đảng và Nhà nước ta đã xác định Tham nhũng là một trong những nguy cơ cơ bản đe dọa sự tồn vong của chế độ. Cho nên, kiểm soát quyền lực Nhà nước trong phòng, chống tham những là một trong những vấn đề hết sức quan trọng. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam. Nghiên cứu đánh giá kết quả thể chế hóa, xử lý vi phạm, đồng thời chỉ ra các kẽ hở pháp lý tạo điều kiện cho lạm quyền và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; Quyền lực nhà nước; Phòng, chống tham nhũng; Thể chế chính trị; Tha hóa quyền lực.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền lực nhà nước là công cụ đặc biệt được nhân dân ủy thác để quản lý xã hội, duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển công bằng. Tuy nhiên, bản chất của quyền lực luôn xu hướng tự phình to và có nguy cơ bị tha hóa nếu thiếu một cơ chế kiểm soát đồng bộ, hiệu quả. Đúng như Montesquieu từng cảnh báo: "Bất cứ ai có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng nó, họ sẽ đi cho đến khi gặp giới hạn mới thôi". Ở Việt Nam, tham nhũng được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nguy cơ cơ bản đe dọa sự tồn vong của chế độ. Về bản chất, tham nhũng chính là sự tha hóa của quyền lực nhà nước, là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lạm dụng hoặc lợi dụng quyền lực được giao để trục lợi cá nhân.
Do đó, kiểm soát quyền lực nhà nước (KSQLNN) không chỉ là điều kiện tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mà còn là giải pháp gốc rễ, mang tính căn cơ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC). Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định quyết tâm: "Phải thiết lập cho được một cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất, hiệu quả, nhất là đối với người có chức vụ, quyền hạn". Việc đánh giá toàn diện kết quả thực hiện, chỉ rõ những nút thắt thể chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế KSQLNN trong PCTN có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đặc biệt cấp bách hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1. Khái niệm và mối quan hệ biện chứng
KSQLNN trong PCTN là tổng thể các hình thức, biện pháp, quy trình và cơ chế do các chủ thể khác nhau (Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân) thực hiện nhằm giám sát, ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi lạm quyền, lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi. Mối quan hệ giữa KSQLNN và PCTN là mối quan hệ giữa "nguyên nhân" và "kết quả", giữa "phương thức" và "mục tiêu”; cụ thể:
- Quyền lực không được kiểm soát là cội nguồn của tham nhũng: Khi một cá nhân hoặc cơ quan nắm giữ quyền lực tuyệt đối, thiếu cơ chế giải trình và giám sát, rào cản đạo đức sẽ dễ dàng bị phá vỡ bởi lợi ích vật chất.
- KSQLNN là cơ chế phòng ngừa tham nhũng từ sớm, từ xa: Kiểm soát quyền lực tạo ra một "mạng lưới lọc", buộc các chủ thể nắm giữ quyền lực phải vận hành đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục pháp lý, làm triệt tiêu các điều kiện nảy sinh tham nhũng.
- PCTN hiệu quả là thước đo năng lực kiểm soát quyền lực: Một hệ thống chính trị giảm thiểu được tham nhũng chứng tỏ cơ chế KSQLNN của hệ thống đó đang vận hành thông suốt và có hiệu lực thực chất.
2. Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Cơ chế KSQLNN ở Việt Nam được cấu thành bởi hai khối lớn mang tính đặc thù:
- Kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước: Được thực hiện dựa trên nguyên tắc Hiến định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Phương thức này bao gồm giám sát tối cao của Quốc hội; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ; và hoạt động công tố, xét xử của cơ quan Tư pháp. Đặc biệt, phương thức kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, định hướng toàn bộ hệ thống.
- Kiểm soát bên ngoài bộ máy nhà nước: Là phương thức giám sát phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí truyền thông và đặc biệt là quyền giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua cơ chế dân chủ cơ sở.
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THỜI GIAN QUA
1. Những kết quả đạt được
Trong giai đoạn vừa qua, công tác KSQLNN nhằm mục tiêu PCTN, TC đã có bước đột phá mạnh mẽ, chuyển biến rõ rệt với phương châm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai".
Một là, thể chế hóa tư duy, quan điểm của Đảng thành pháp luật quy định chặt chẽ về quyền lực: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KSQLNN và PCTN ngày càng đồng bộ. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Thanh tra năm 2022, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 cùng các quy định của Đảng (như Quy định số 22-QĐ/TW về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; đặc biệt là các Quy định số 114, 131, 132-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng trong công tác cán bộ, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử) đã tạo ra hành lang pháp lý toàn diện. Các văn bản này đã từng bước cụ thể hóa nguyên tắc: "Quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; mọi quyền lực đều được kiểm soát bằng cơ chế".
Hai là, phát huy hiệu quả cơ chế phối hợp kiểm soát giữa các nhánh quyền lực và các cơ quan chuyên trách: Sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử ngày càng nhịp nhàng, chặt chẽ. Cơ chế "Kỷ luật Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho kỷ luật hành chính và xử lý hình sự" đã giải quyết triệt để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Hàng loạt vụ án kinh tế, tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC theo dõi, chỉ đạo (như vụ Việt Á, Chuyến bay giải cứu, Vạn Thịnh Phát - SCB, Tập đoàn Phúc Sơn, Thuận An...) đã được đưa ra ánh sáng. Việc xử lý nghiêm cả những cán bộ cấp cao (Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Bí thư Tỉnh ủy) chứng minh rằng cơ chế kiểm soát quyền lực đã chạm đến các tầng nấc quyền lực cao nhất, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Ba là, công khai, minh bạch và giải trình được nâng cao: Việc cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, ứng dụng Chính phủ điện tử đã góp phần thu hẹp không gian "ẩn nấp" của tham nhũng. Các quy định về kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn được thực hiện thực chất hơn. Cơ chế đấu thầu qua mạng, thanh toán không dùng tiền mặt và công khai quy hoạch đất đai, tài chính công đã tăng cường tính minh bạch, giúp người dân và các cơ quan giám sát dễ dàng tiếp cận, phát hiện sai phạm.
Bốn là, vai trò giám sát của xã hội và báo chí được khơi dậy: Báo chí đã phát huy vai trò là "tai mắt" của xã hội, là lực lượng tiên phong phát hiện nhiều vụ việc lạm quyền, tham nhũng từ sớm. Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức hàng nghìn hội nghị phản biện xã hội đối với các chính sách lớn, ngăn ngừa hiện tượng "cài cắm" lợi ích nhóm vào văn bản quy phạm pháp luật ngay từ khâu soạn thảo.
Năm là về Số liệu về kiểm tra, giám sát của Đảng và siết chặt kỷ luật hành chính: Sự chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế "kỷ luật Đảng đi trước, mở đường cho kỷ luật hành chính và xử lý hình sự" được thể hiện qua các con số biết nói. Trong giai đoạn 2021 – 2025, đặc biệt tính đến cuối năm 2025 và đầu năm 2026, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng trăm ngàn đảng viên, trong đó có hơn 250 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (bao gồm cả các Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng và Bí thư Tỉnh ủy). Việc kiên quyết xử lý nghiêm minh các "mắt xích quyền lực cao" này chứng minh cơ chế KSQLNN không còn vùng cấm
Sáu là, số liệu về công tác thanh tra, kiểm toán và phát hiện sai phạm từ bên trong bộ máy: Cơ chế kiểm soát nội bộ thông qua thanh tra và kiểm toán nhà nước đã chặn đứng và thu hồi lượng tài sản công bị thất thoát ở quy mô chưa từng có:
-Ngành Thanh tra: Trung bình mỗi năm tiến hành từ 6.500 đến 7.500 cuộc thanh tra hành chính và hàng trăm ngàn cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Chỉ tính riêng báo cáo tổng kết năm 2025 của Thanh tra Chính phủ trình Quốc hội, cơ quan này đã phát hiện sai phạm về kinh tế lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng và hàng ngàn héc-ta đất, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước, đồng thời chuyển hơn 200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để xử lý hình sự.
-Kiểm toán Nhà nước (KTNN): Qua hoạt động kiểm toán tài chính công, tài sản công, KTNN kiến nghị xử lý tài chính từ 50.000 đến gần 100.000 tỷ đồng mỗi năm (bao gồm kiến nghị tăng thu, giảm chi ngân sách, và xử lý khác). KTNN cũng đã chuyển hàng chục hồ sơ sai phạm nghiêm trọng sang cơ quan công an, trở thành một bộ lọc quyền lực tài chính vô cùng đắc lực.
Bảy là, số liệu về công tác điều tra, truy tố, xét xử các đại án tham nhũng: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thể hiện sức mạnh kiểm soát thông qua các con số truy quét tội phạm chức vụ: Tính đến các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (như Phiên thứ 29 cuối năm 2025 và Phiên thứ 30 năm 2026), cả nước đã khởi tố mới, điều tra hàng ngàn vụ án với hàng ngàn bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế.
Hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng được coi là điểm sáng vượt bậc thể hiện hiệu lực thực chất của KSQLNN. Tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo đã tăng mạnh, từ mức dưới 10% trong giai đoạn trước năm 2016 nay đã đạt tỷ lệ trung bình từ 45% đến trên 50%, có những đại án tỷ lệ kê biên, phong tỏa, thu hồi tài sản đạt từ 70% đến gần 90% (ví dụ như việc thu hồi, nộp khắc phục hậu quả hàng ngàn tỷ đồng trong các vụ án Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, Việt Á...).
Tám là, đánh giá khách quan và sự gia tăng chỉ số quốc tế: Hiệu quả KSQLNN và PCTN của Việt Nam được ghi nhận rõ ràng trên trường quốc tế qua Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố: Năm 2018: Việt Nam chỉ đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu. Đến giai đoạn 2024 - 2025: Việt Nam liên tục bứt phá vững chắc, duy trì số điểm từ 41 đến 43/100 điểm, vươn lên vị trí trong top 80 quốc gia có sự cải thiện tốt nhất về kiểm soát tham nhũng trên thế giới.
2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả mang tính bước ngoặt, hệ thống KSQLNN vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, khoảng trống thể chế:
Một là, cơ chế kiểm soát bên trong giữa các nhánh quyền lực còn mang tính hình thức: Nguyên tắc phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được thực hiện khá tốt, nhưng nguyên tắc "kiểm soát" lẫn nhau vẫn còn mờ nhạt. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao nhưng hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề đôi khi còn mang tính sự vụ, chưa đi sâu vào kiểm soát tận gốc quy trình ra quyết định của cơ quan hành pháp. Cơ quan Tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát) về mặt pháp lý là độc lập khi xét xử và thực hành quyền công tố, nhưng trên thực tế vẫn chịu những tác động nhất định từ cơ quan hành pháp cùng cấp về mặt tổ chức, nhân sự và ngân sách.
Hai là, công tác kiểm soát nội bộ hiệu quả chưa cao, tự kiểm tra còn yếu: Năng lực tự phát hiện tham nhũng, lạm quyền trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước vẫn là khâu yếu nhất. Rất ít vụ việc tham nhũng được phát hiện qua công tác tự kiểm tra của đơn vị, chủ yếu là do cơ quan kiểm tra cấp trên phát hiện hoặc do đơn thư tố cáo, báo chí phản ánh. Các cơ quan thanh tra bộ, ngành, địa phương phụ thuộc trực tiếp vào thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp về tổ chức, nhân sự và kinh phí, dẫn đến tâm lý e dè, "nể nang", "né tránh", không dám đấu tranh trực diện với sai phạm của cấp trên hoặc đồng nghiệp.
Ba là, cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập còn nhiều lỗ hổng: Mặc dù đã có quy định về xác minh tài sản, thu nhập, nhưng việc kiểm soát dòng tiền, tài sản trên thực tế vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Nền kinh tế Việt Nam vẫn tồn tại lượng lớn giao dịch bằng tiền mặt. Tình trạng cán bộ, công chức tẩu tán tài sản bằng cách nhờ người thân, họ hàng đứng tên quyền sử dụng đất, cổ phần, tài khoản ngân hàng diễn ra tinh vi nhưng cơ chế kiểm tra, đối chiếu thông tin chưa đủ mạnh để truy xuất nguồn gốc hợp pháp của các loại tài sản này.
Bốn là, cơ chế giám sát từ phía xã hội chưa có hành lang pháp lý đủ mạnh: Vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể vẫn bị giới hạn ở quyền "kiến nghị", "phản ánh". Khi phát hiện dấu hiệu sai phạm, các cơ quan này không có quyền chế tài, không có quyền đình chỉ hay yêu cầu xử lý trực tiếp, mà phải phụ thuộc vào sự tiếp nhận và giải quyết của chính cơ quan bị giám sát. Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng còn nhiều bất cập, khiến nhiều người dân có tâm lý ngại va chạm, sợ bị trù dập, trả thù.
Năm là, sự yếu kém của công tác tự kiểm tra, tự phát hiện: Mặc dù số vụ án bị khởi tố tăng cao, nhưng số liệu thống kê cho thấy một nghịch lý cấu trúc: Trên 90% các vụ việc tham nhũng, tiêu cực là do cơ quan kiểm tra cấp trên, thanh tra chuyên ngành, cơ quan điều tra hoặc do báo chí, người dân phản ánh phát hiện. Số vụ việc tham nhũng được phát hiện thông qua công tác tự kiểm tra nội bộ tại cơ quan, đơn vị, địa phương chỉ chiếm dưới 5%. Điều này phản ánh cơ chế tự kiểm soát quyền lực tại chỗ tại các bộ, ngành, địa phương vẫn mang tính hình thức, e dè, nể nang.
Sáu là, lỗ hổng trong kiểm soát tài sản, thu nhập: Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ về việc xác minh tài sản, thu nhập bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên đối với người có chức vụ, quyền hạn: Mỗi năm, các cơ quan chức năng tiến hành tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của hàng chục ngàn người. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện và xử lý cán bộ kê khai không trung thực hoặc không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (dưới 1% số người được xác minh). Phần lớn các trường hợp sai phạm chỉ bị xử lý ở mức độ "rút kinh nghiệm", "khiển trách" hành chính, chưa thể truy cứu tận gốc do nghẽn dòng dữ liệu dòng tiền và giao dịch tiền mặt trong xã hội còn quá lớn.
CÁC NÚT THẮT THỂ CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ
Để tìm ra giải pháp căn cơ, cần phân tích sâu các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng trên:
1. Sự bất đối xứng về thông tin: Cơ quan nhà nước và người có chức vụ nắm giữ độc quyền các thông tin về quy hoạch, dự án, ngân sách. Khi các thông tin này không được công khai đầy đủ hoặc công khai mang tính hình thức, các chủ thể giám sát bên ngoài (báo chí, người dân) hoàn toàn thiếu công cụ và dữ liệu để kiểm soát hành vi quyền lực.
2. Sự chồng chéo và thiếu độc lập trong mô hình tổ chức: Mô hình các cơ quan kiểm tra, thanh tra hiện nay vừa chịu sự quản lý theo ngành dọc, vừa chịu sự quản lý theo lãnh thổ. Sự phụ thuộc của cơ quan thanh tra vào UBND cùng cấp khiến cho quyền lực thanh tra bị vô hiệu hóa khi đối tượng cần thanh tra chính là người đứng đầu cơ quan hành chính đó.
3. Chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu chưa đủ sức răn đe: Nhiều vụ việc tham nhũng kéo dài nhiều năm nhưng người đứng đầu cơ quan, đơn vị chỉ bị xử lý kỷ luật hành chính nhẹ nhàng, chưa phải chịu trách nhiệm liên đới hình sự một cách tương xứng với hậu quả do sự buông lỏng quản lý gây ra.
4. Lợi ích nhóm và hiện tượng "bắt tay ngầm" (Collusion): Có sự thông đồng giữa cán bộ thoái hóa biến chất trong bộ máy nhà nước với các doanh nghiệp sân sau để thao túng chính sách, đấu thầu, thâu tóm đất công. Khi lợi ích nhóm đã định hình, chúng tạo ra một liên minh tự bảo vệ, tìm cách vô hiệu hóa hoặc bẻ lái các dòng kiểm soát của nhà nước.
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
Từ thực trạng lý luận và thực tiễn, việc thiết lập một cơ chế KSQLNN chặt chẽ, đồng bộ nhằm PCTN hiệu quả trong giai đoạn mới cần được thực hiện qua nhóm 5 giải pháp chiến lược sau:
1.Hoàn thiện thể chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Đây là giải pháp nền tảng để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Nâng cao năng lực giám sát tối cao của Quốc hội: Cần đổi mới phương thức giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Chuyển mạnh từ giám sát sự vụ sang giám sát thể chế; tập trung vào giám sát quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện và hủy bỏ ngay các quy định có dấu hiệu "cài cắm" lợi ích nhóm. Tăng cường hoạt động giải trình tại các Ủy ban của Quốc hội, buộc các Bộ trưởng, Trưởng ngành phải đối thoại trực diện về các bất cập trong quản lý quyền lực thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
- Bảo đảm tính độc lập thực chất của cơ quan Tư pháp: Cần đổi mới mô hình tổ chức của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân theo hướng độc lập theo thẩm quyền xét xử, giảm dần sự phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ. Ngân sách hoạt động và công tác nhân sự (bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên) cần do một hội đồng quốc gia độc lập quản lý, thay vì phụ thuộc vào chính quyền địa phương như hiện nay. Chỉ khi Tòa án độc lập thực chất, quyền lực tư pháp mới trở thành cán cân công lý sòng phẳng, kiểm soát hiệu quả các hành vi lạm quyền của cơ quan hành pháp.
2. Đổi mới mô hình tổ chức và nâng cao tính độc lập của các cơ quan thanh tra, kiểm toán
Phải triệt tiêu tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi" trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Tăng cường tính độc lập ngành dọc của hệ thống thanh tra: Nghiên cứu cải cách mô hình hệ thống Thanh tra theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Cơ quan Thanh tra cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về tổ chức, nhân sự và chuyên môn từ Thanh tra Chính phủ. Tránh tình trạng Chánh Thanh tra tỉnh bị ràng buộc bởi quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh khi thực hiện thanh tra các dự án do chính tỉnh phê duyệt.
- Phát huy vai trò của Kiểm toán Nhà nước: Nâng cao vị thế và năng lực của Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Mở rộng diện kiểm toán đối với toàn bộ các cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, bao gồm cả các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Kết luận kiểm toán phải được công khai rộng rãi và có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện, các dấu hiệu tội phạm phát hiện qua kiểm toán phải được chuyển ngay cho cơ quan điều tra mà không cần qua các khâu trung gian.
3. Siết chặt cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập và công khai, minh bạch dòng tiền
Đây là giải pháp nhằm "chặt đứt" mục tiêu kinh tế của hành vi tham nhũng. Cụ thể:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản, thu nhập: Tích hợp, liên thông dữ liệu về kê khai tài sản của cán bộ, công chức với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu quản lý thuế, dữ liệu đăng ký đất đai và hệ thống tài khoản ngân hàng. Áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để tự động quét, phân tích và phát hiện các biến động tài sản bất thường hoặc sự chênh lệch lớn giữa thu nhập danh nghĩa với tài sản sở hữu thực tế của cán bộ và người thân trong gia đình cán bộ.
- Thúc đẩy nền kinh tế không dùng tiền mặt: Bắt buộc tất cả các giao dịch có giá trị lớn như mua bán bất động sản, ô tô, cổ phiếu, vàng... phải được thực hiện qua hệ thống ngân hàng. Đồng thời, cần sớm nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) về hình sự hóa hành vi "làm giàu bất hợp pháp". Theo đó, nếu người có chức vụ, quyền hạn có tài sản tăng lên đáng kể mà bản thân họ không giải trình được nguồn gốc hợp pháp thì tài sản đó sẽ bị tịch thu và chủ sở hữu phải bị xử lý hình sự.
4. Cơ chế hóa quy trình kiểm soát quyền lực của Đảng gắn với công tác cán bộ
Quyền lực của Nhà nước ở Việt Nam bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, do đó kiểm soát quyền lực nhà nước phải đi đôi với kiểm soát quyền lực của Đảng. Theo đó, cần phải:
- Minh bạch hóa quy trình công tác cán bộ: Tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW. Mọi quy trình từ quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử cán bộ phải được thực hiện công khai, dân chủ, có sự tham gia đánh giá chéo giữa các cơ quan tổ chức, kiểm tra và cấp ủy cơ sở. Nghiêm cấm việc người đứng đầu tự ý quyết định nhân sự theo ý chí chủ quan hoặc đưa người thân, người nhà vào các vị trí béo bở trong bộ máy.
- Hoàn thiện cơ chế "Miễn nhiệm, từ chức": Tạo lập một văn hóa chính trị tiên tiến, nơi việc từ chức của cán bộ khi để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực mình phụ trách trở thành một việc bình thường. Quy định rõ ràng: người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chính trị trực tiếp nếu cấp phó hoặc cơ quan do mình quản lý xảy ra tham nhũng nghiêm trọng, không thể lấy lý do "không biết" để đùn đẩy trách nhiệm.
5. Phát huy quyền lực nhân dân và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của xã hội
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, là lực lượng giám sát rộng khắp và hiệu quả nhất.
- Thực hiện thực chất Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở: Đảm bảo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" đi vào đời sống. Mọi dự án đầu tư công, quy hoạch đất đai, các khoản thu chi ngân sách địa phương phải được niêm yết công khai tại trụ sở và trên các trang thông tin điện tử của địa phương để người dân dễ dàng tiếp cận và giám sát.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ và tôn vinh người tố cáo tham nhũng: Xây dựng quy trình tiếp nhận thông tin tố cáo tham nhũng tuyệt đối bí mật. Có chế tài xử lý hình sự thật nghiêm khắc đối với bất kỳ hành vi nào nhằm lạm dụng chức vụ để trù dập, trả thù hoặc đe dọa người tố cáo. Đồng thời, cần có chính sách khen thưởng xứng đáng bằng vật chất (trích tỷ lệ phần trăm từ tài sản thu hồi được) đối với những cá nhân có công phát hiện, giúp nhà nước thu hồi tài sản tham nhũng.
- Bảo đảm không gian hoạt động khách quan cho báo chí: Tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan thông tấn, báo chí thực hiện quyền tác nghiệp theo quy định của Luật Báo chí. Các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho báo chí khi có yêu cầu giải trình về các dấu hiệu khuất tất, tiêu cực. Báo chí phải thực sự trở thành cầu nối đáng tin cậy, phản ánh trung thực tiếng nói của nhân dân đến các cơ quan có thẩm quyền xử lý.
KẾT LUẬN
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong phòng, chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, cam go nhưng là con đường tất yếu để bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước và giữ vững niềm tin của Nhân dân. Những kết quả đạt được trong thời gian qua đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng và Nhà nước, tạo ra hiệu ứng răn đe mạnh mẽ toàn xã hội. Tuy nhiên, để chuyển từ giai đoạn "chữa cháy" (tập trung phát hiện, xử lý phần ngọn) sang giai đoạn "phòng bệnh" (ngăn ngừa tận gốc bằng thể chế), việc hoàn thiện cơ chế KSQLNN là nhiệm vụ trọng tâm và quyết định.
Bằng việc đồng bộ hóa thể chế pháp lý, nâng cao tính độc lập của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, tư pháp, ứng dụng công nghệ để kiểm soát minh bạch dòng tiền và khơi dậy sức mạnh giám sát tối cao từ phía nhân dân, chúng ta mới có thể tạo ra một cơ chế vận hành tối ưu: "Không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng và không muốn tham nhũng". Một hệ thống quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, vận hành minh bạch trong khuôn khổ pháp luật chính là nền tảng vững chắc nhất cho sự phát triển bền vững, thịnh vượng của nước nhà trong kỷ nguyên mới./.
TS Hoàng Đình Cường
-------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
- Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
- Bộ Chính trị: Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
- Bộ Chính trị: Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27-10-2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
- Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023.



