Mở đầu: Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những yêu cầu mới về chất. Quy mô nền kinh tế, tiềm lực quốc gia, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên đáng kể; Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025. Tuy nhiên, chính những thành quả đó cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức phát triển: nếu tiếp tục dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực truyền thống, mở rộng đầu vào và lợi thế chi phí thấp, nền kinh tế sẽ ngày càng gặp giới hạn về năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao.
Trong bối cảnh đó, đổi mới mô hình phát triển không chỉ là câu chuyện lựa chọn ngành kinh tế mới, thúc đẩy khoa học - công nghệ hay mở rộng đầu tư. Ở tầng sâu hơn, đây là vấn đề đổi mới thể chế phát triển và phương thức quản trị quốc gia.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã đặt yêu cầu đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm hình thành năng lực phát triển mới. Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi trong mô hình phát triển mới, thể chế không thể chỉ đóng vai trò “khung pháp lý” cho nền kinh tế vận hành, mà phải trở thành một nguồn lực trực tiếp của tăng trưởng.
Nói cách khác, nếu vốn, đất đai, lao động, công nghệ và dữ liệu là những nguồn lực vật chất và phi vật chất của nền kinh tế thì thể chế chính là “hạ tầng mềm” quyết định các nguồn lực đó có được huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hay không.
Thể chế phải chuyển từ “rào chắn” thành động lực phát triển
Trong nền kinh tế hiện đại, chất lượng thể chế có tác động trực tiếp đến chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ, mức độ an toàn của đầu tư và khả năng đổi mới sáng tạo. Một quy định thiếu rõ ràng có thể làm chậm một dự án; một thủ tục chồng chéo có thể làm tăng chi phí của hàng nghìn doanh nghiệp; một cơ chế phân quyền không rõ ràng có thể khiến một quyết định thuộc thẩm quyền địa phương vẫn phải chờ nhiều tầng nấc.
Bởi vậy, cải cách thể chế không nên được nhìn nhận đơn thuần là sửa đổi văn bản pháp luật. Mục tiêu cao hơn là tạo ra một môi trường thể chế trong đó người dân và doanh nghiệp có thể chủ động hành động, đầu tư, sáng tạo và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng khoa Khoa học liên ngành - Ngoại ngữ - Tin học, Học viện Hành chính và Quản trị công, cho rằng đột phá phát triển trước hết phải bắt đầu từ đột phá thể chế; thể chế phải trở thành nguồn lực phát triển, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây chính là sự chuyển đổi quan trọng về tư duy quản lý.
Trong mô hình quản lý truyền thống, Nhà nước thường tập trung xác định doanh nghiệp được làm gì, làm như thế nào và phải xin phép ở đâu. Trong mô hình kiến tạo phát triển, Nhà nước cần tập trung xác lập luật chơi rõ ràng, tiêu chuẩn minh bạch, dữ liệu đầy đủ, cơ chế giám sát hiệu quả và chế tài đủ mạnh, đồng thời tạo không gian để thị trường và xã hội phát huy năng lực tự tổ chức.
Sự chuyển đổi này không đồng nghĩa với giảm vai trò của Nhà nước. Ngược lại, Nhà nước phải mạnh hơn về kiến tạo chính sách, hoạch định chiến lược, cung cấp hạ tầng, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và kiểm soát những rủi ro mà thị trường không thể tự giải quyết.
Một Nhà nước kiến tạo không phải là Nhà nước “làm thay” thị trường, mà là Nhà nước tạo ra môi trường để thị trường vận hành minh bạch và hiệu quả hơn.
Cải cách pháp luật phải đo bằng kết quả phát triển
Một trong những yêu cầu nổi bật của giai đoạn mới là chuyển từ tư duy “có quy định để quản lý” sang tư duy “quy định để giải quyết vấn đề phát triển”.
Điều này đòi hỏi quá trình xây dựng pháp luật phải xuất phát nhiều hơn từ thực tiễn. Một đạo luật tốt không chỉ được đánh giá bằng kỹ thuật lập pháp, số lượng điều khoản hay mức độ đầy đủ của quy định, mà quan trọng hơn phải được đánh giá sau khi đi vào cuộc sống: bao nhiêu thủ tục được cắt giảm, bao nhiêu chi phí tuân thủ được loại bỏ, thời gian thực hiện một dự án được rút ngắn bao nhiêu, khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp được cải thiện như thế nào và người dân được hưởng lợi ra sao.
Tinh thần này đang được thể hiện rõ trong hoạt động lập pháp của Quốc hội. Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, nhiều dự án luật được xem xét sửa đổi theo hướng cắt giảm thủ tục, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Đáng chú ý, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường dự kiến cắt giảm 40 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 12 thủ tục, cắt giảm 40 điều kiện kinh doanh và phân quyền 24 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Những con số này cho thấy cải cách thể chế đang được tiếp cận theo hướng cụ thể hơn: cắt giảm cái không cần thiết, phân quyền cho nơi có khả năng quyết định nhanh hơn và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm ở những lĩnh vực phù hợp.
Tuy nhiên, để cải cách thực sự tạo chuyển biến, cần tránh một nguy cơ: thủ tục cũ được “số hóa” nhưng bản chất quản lý không thay đổi.
Nếu doanh nghiệp vẫn phải cung cấp cùng một dữ liệu nhiều lần trên các nền tảng khác nhau, nếu hồ sơ điện tử vẫn phải in ra để ký, đóng dấu và nộp bản giấy, hoặc nếu một thủ tục trực tuyến chỉ đơn giản là chuyển biểu mẫu giấy sang môi trường mạng thì chuyển đổi số chưa tạo ra cải cách thực chất.
Chuyển đổi số trong quản trị nhà nước phải hướng tới thay đổi phương thức vận hành, chứ không chỉ thay đổi phương tiện thực hiện thủ tục.
Dữ liệu trở thành nền tảng của phương thức quản trị mới
Một trong những thay đổi căn bản của mô hình phát triển mới là vai trò ngày càng lớn của dữ liệu. Trong nền kinh tế số, dữ liệu không chỉ là thông tin phục vụ quản lý mà còn là một nguồn lực tạo ra giá trị. Dữ liệu về dân cư, doanh nghiệp, đất đai, tài chính, giao thông, y tế, giáo dục, môi trường và thị trường nếu được chuẩn hóa, liên thông và khai thác đúng quy định có thể giúp Nhà nước ra quyết định nhanh hơn, doanh nghiệp giảm chi phí và người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn.
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng thêm các cơ sở dữ liệu mà phải hình thành hệ sinh thái quản trị dựa trên dữ liệu.
Điểm quan trọng là phải xác định rõ dữ liệu nào cần chia sẻ, cơ quan nào được khai thác, ai chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu và cơ chế xử lý khi dữ liệu sai, chậm cập nhật hoặc bị sử dụng không đúng mục đích.
Thực tế thảo luận về sửa đổi pháp luật trong lĩnh vực viễn thông, giao dịch điện tử và chuyển giao công nghệ cũng cho thấy yêu cầu này ngày càng rõ. Khai thác dữ liệu mà Nhà nước đã có để làm đầu vào của quản lý sẽ giúp giảm việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại cùng một thông tin dưới nhiều hình thức. Đây là bước chuyển từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu.
Nếu được thực hiện đồng bộ, dữ liệu có thể trở thành công cụ để giảm đáng kể chi phí tuân thủ. Doanh nghiệp không phải mất thời gian chứng minh những thông tin mà Nhà nước đã có; cán bộ không phải xử lý thủ công những dữ liệu đã được chuẩn hóa; các quyết định quản lý có thể dựa trên dữ liệu thời gian thực thay vì báo cáo chậm và phân tán.
Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi đi cùng với thể chế về chia sẻ, bảo vệ, khai thác và trách nhiệm giải trình. Nếu dữ liệu bị “đóng” trong từng cơ quan, từng ngành hoặc từng hệ thống, giá trị phát triển của dữ liệu sẽ bị hạn chế rất lớn.
Phân cấp, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm
Đổi mới mô hình phát triển cũng đòi hỏi thay đổi căn bản mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương. Trong một nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, nhu cầu phát triển giữa các địa phương ngày càng đa dạng. Không thể sử dụng một mô hình quản lý giống nhau cho tất cả địa phương, trong khi mỗi địa phương có lợi thế, điều kiện tự nhiên, cấu trúc kinh tế và nhu cầu phát triển khác nhau.
Do đó, phân cấp, phân quyền là yêu cầu tất yếu. Tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” đang được thể hiện trong các dự án luật được Quốc hội thảo luận. Dự thảo Luật Phát triển đô thị hướng tới tăng quyền chủ động cho chính quyền đô thị trong tổ chức bộ máy, quản lý biên chế, quy hoạch, xây dựng và thực thi chính sách; đồng thời mở ra những không gian phát triển mới như khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, logistics và xã hội hóa dịch vụ công.
Nhưng phân quyền không đồng nghĩa với “trao quyền mà không kiểm soát”. Kinh nghiệm quản trị cho thấy quyền lực càng được phân tán thì cơ chế kiểm soát càng phải rõ ràng. Người được trao quyền phải có đủ nguồn lực để thực hiện; đồng thời phải có tiêu chí đánh giá, trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát tương ứng.
Vì vậy, công thức phù hợp không chỉ là: Trao quyền → tăng tính chủ động. Mà phải là: Trao quyền + nguồn lực + dữ liệu + năng lực thực thi + kiểm soát quyền lực + trách nhiệm giải trình.
Nếu thiếu một trong những yếu tố đó, phân quyền có thể dẫn đến tình trạng quyền hạn và trách nhiệm không tương xứng, hoặc thậm chí phát sinh những dạng “xin - cho” mới ở cấp địa phương.
Đặc biệt, cần làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu. Khi địa phương được trao quyền quyết định mạnh hơn về quy hoạch, đầu tư, đất đai, tổ chức bộ máy, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, người đứng đầu phải có đủ thẩm quyền để hành động nhưng cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về kết quả. Đây là điều kiện để chuyển từ nền hành chính nặng về thủ tục sang nền hành chính hướng tới kết quả phát triển.
Tạo “không gian thử nghiệm” cho những mô hình mới
Mô hình phát triển mới chắc chắn sẽ xuất hiện những hoạt động mà pháp luật hiện hành chưa dự liệu đầy đủ. Trí tuệ nhân tạo, tài sản số, công nghệ tài chính, kinh tế nền tảng, thương mại điện tử xuyên biên giới, công nghệ xanh, logistics thông minh hay các mô hình đô thị mới đều có tốc độ phát triển nhanh hơn chu kỳ sửa đổi pháp luật.
Nếu chờ pháp luật hoàn thiện đầy đủ rồi mới cho phép thử nghiệm, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - sandbox cần tiếp tục được hoàn thiện. Tuy nhiên, sandbox không nên trở thành cơ chế đặc quyền. Một cơ chế thử nghiệm tốt phải xác định rõ lĩnh vực, phạm vi, đối tượng, thời gian, tiêu chí đánh giá, giới hạn rủi ro và phương thức giám sát.
Điểm quan trọng nhất là phải coi thử nghiệm chính sách như một quá trình học hỏi thể chế. Thông qua thử nghiệm, Nhà nước có thể quan sát thị trường, đánh giá tác động, phát hiện rủi ro và từ đó hoàn thiện pháp luật. Đây là cách tiếp cận phù hợp với nền kinh tế đổi mới sáng tạo, nơi công nghệ thay đổi nhanh và nhiều mô hình kinh doanh chưa từng có tiền lệ. Thể chế vì thế phải có khả năng học nhanh, điều chỉnh nhanh nhưng vẫn bảo đảm ổn định và khả năng dự báo.
Khơi thông nguồn lực xã hội: từ “xin cơ chế” sang “tạo động lực”
Nguồn lực cho phát triển Việt Nam không thiếu. Vấn đề lớn hơn là làm thế nào để các nguồn lực đó được huy động và phân bổ hiệu quả. Nguồn lực nằm trong khu vực tư nhân, trong đất đai, trong tài sản công, trong tri thức của người Việt Nam ở trong và ngoài nước, trong các cơ sở nghiên cứu, trong dữ liệu và trong mạng lưới doanh nghiệp toàn cầu.
Nếu thể chế không đủ thông thoáng, các nguồn lực này có thể tồn tại nhưng không chuyển hóa thành năng lực sản xuất. Đây là lý do cải cách thể chế cần gắn trực tiếp với cải cách cơ chế huy động nguồn lực.
Đối với khu vực doanh nghiệp, cần tiếp tục giảm chi phí gia nhập và mở rộng thị trường, bảo đảm quyền tài sản, tăng khả năng tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ và dữ liệu. Đồng thời, cần xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng để doanh nghiệp có động lực đầu tư dài hạn.
Đối với khu vực khoa học - công nghệ, cần chuyển mạnh từ tư duy cấp kinh phí theo đầu vào sang đánh giá theo kết quả, sản phẩm và tác động. Đổi mới sáng tạo không thể phát triển nếu nhà khoa học và doanh nghiệp phải dành quá nhiều thời gian để hoàn thiện thủ tục thay vì nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa.
Đối với nguồn lực đất đai, yêu cầu quan trọng là minh bạch hóa quy hoạch, định giá và tiếp cận đất đai, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đối với tài sản công, cần hạn chế tình trạng nguồn lực bị “đóng băng” do thủ tục và trách nhiệm không rõ ràng. Nói cách khác, khơi thông nguồn lực không đơn giản là huy động thêm nguồn lực, mà trước hết là làm cho nguồn lực đang có được vận động với hiệu suất cao hơn.
Thể chế tốt phải thúc đẩy năng suất
Một mô hình phát triển mới cuối cùng phải được phản ánh bằng năng suất. Nếu cải cách thể chế nhưng năng suất lao động không tăng, chi phí sản xuất không giảm, năng lực đổi mới sáng tạo không cải thiện và sức cạnh tranh của doanh nghiệp không nâng lên thì hiệu quả của cải cách vẫn chưa đạt yêu cầu.
Do đó, mọi cải cách cần được đặt trong mối liên hệ với năng suất. Một thủ tục được cắt giảm có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian. Một quy định minh bạch có thể giảm chi phí pháp lý. Một hệ thống dữ liệu liên thông có thể giảm chi phí giao dịch. Một cơ chế phân quyền hợp lý có thể rút ngắn thời gian ra quyết định. Một chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo có thể tạo ra sản phẩm mới.
Tất cả những yếu tố đó cuối cùng đều chuyển hóa thành năng suất và năng lực cạnh tranh. Đây cũng là lý do khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được xác định là trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn 2026-2030 đã nhấn mạnh mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thay vì chỉ dựa vào các động lực truyền thống.
Từ cải cách thủ tục đến cải cách phương thức quản trị
Một trong những thay đổi quan trọng nhất cần hướng tới là chuyển từ cải cách thủ tục hành chính sang cải cách phương thức quản trị quốc gia. Cải cách thủ tục thường tập trung vào câu hỏi: thủ tục nào cần bỏ, thủ tục nào cần rút ngắn, hồ sơ nào cần giảm?
Cải cách phương thức quản trị đặt câu hỏi rộng hơn: tại sao Nhà nước cần can thiệp vào hoạt động này? Có thể quản lý bằng tiêu chuẩn thay cho giấy phép không? Có thể sử dụng dữ liệu thay cho hồ sơ không? Có thể chuyển tiền kiểm sang hậu kiểm không? Có thể giao quyền quyết định cho cấp gần người dân và doanh nghiệp hơn không?
Đây là cấp độ cải cách sâu hơn. Một ví dụ điển hình là quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu và giám sát thay cho việc cấp phép quá mức. Bài toán không phải là Nhà nước buông quản lý, mà là quản lý bằng phương thức thông minh hơn.
Trong nền kinh tế số, Nhà nước có điều kiện để giám sát theo thời gian thực và dựa trên dữ liệu. Khi đó, việc yêu cầu doanh nghiệp nộp hàng loạt giấy tờ để chứng minh điều kiện kinh doanh có thể được thay thế một phần bằng cơ chế dữ liệu và hậu kiểm. Điều này vừa giảm chi phí cho doanh nghiệp, vừa giúp Nhà nước tập trung nguồn lực vào những khu vực có rủi ro cao.
Xây dựng năng lực thực thi là khâu quyết định
Một hệ thống thể chế tốt nhưng thực thi yếu vẫn không tạo ra kết quả phát triển. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong quá trình triển khai các định hướng mới. Cải cách pháp luật phải đi cùng nâng cao chất lượng đội ngũ thực thi; phân quyền phải đi cùng năng lực quản trị; chuyển đổi số phải đi cùng năng lực dữ liệu; trao quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình.
Do đó, cải cách thể chế trong giai đoạn mới cần đồng thời là cuộc cải cách về con người và năng lực quản trị. Cán bộ không chỉ cần hiểu quy định mà phải có năng lực giải quyết vấn đề. Chính quyền địa phương không chỉ cần thực hiện đúng quy trình mà phải có khả năng thiết kế và tổ chức chính sách phù hợp với đặc thù phát triển của địa phương.
Đặc biệt, cần xây dựng văn hóa dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời có cơ chế bảo vệ người thực thi đúng pháp luật, đúng mục tiêu nhưng gặp rủi ro khách quan.
Nếu cán bộ luôn lựa chọn phương án an toàn nhất vì lo ngại trách nhiệm, thì dù pháp luật đã phân quyền, quyền lực trên thực tế vẫn có thể bị “co lại”.
Một chương trình hành động cho đột phá thể chế
Từ những yêu cầu trên, có thể xem xét một số định hướng trọng tâm:
Thứ nhất, đánh giá toàn bộ hệ thống pháp luật từ góc độ chi phí phát triển, không chỉ từ góc độ quản lý. Mỗi quy định cần được xem xét về tác động đối với doanh nghiệp, người dân, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền thực chất, nhưng phải đồng thời phân bổ nguồn lực, xác định trách nhiệm và thiết lập cơ chế giám sát.
Thứ ba, xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu, trong đó dữ liệu nhà nước phải được chuẩn hóa, liên thông và khai thác theo nguyên tắc đúng thẩm quyền, đúng mục đích và bảo đảm an toàn.
Thứ tư, mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình kinh doanh và công nghệ mới, tạo không gian để đổi mới nhưng không buông lỏng quản lý rủi ro.
Thứ năm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm ở những lĩnh vực có thể quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn và dữ liệu.
Thứ sáu, đo lường kết quả cải cách bằng các chỉ số phát triển cụ thể: thời gian xử lý thủ tục, chi phí tuân thủ, thời gian triển khai dự án, mức độ tiếp cận nguồn lực, năng suất lao động, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Thứ bảy, xây dựng năng lực thực thi chính sách, coi chất lượng đội ngũ và năng lực quản trị là một cấu phần của cải cách thể chế.
Kết luận
Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam trong giai đoạn mới không chỉ là thay đổi cách thức tăng trưởng mà sâu xa hơn là thay đổi cách thức Nhà nước, thị trường và xã hội cùng tạo ra phát triển.
Trong mô hình đó, Nhà nước không thể chỉ đóng vai trò quản lý và xử lý vi phạm; Nhà nước phải kiến tạo môi trường phát triển. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng chịu quản lý mà phải trở thành một chủ thể trung tâm của đổi mới sáng tạo và tạo việc làm. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành chủ thể tham gia và đồng sáng tạo giá trị.
Muốn vậy, thể chế phải đi trước một bước. Một hệ thống thể chế minh bạch, ổn định, dễ dự báo sẽ làm giảm rủi ro. Một hệ thống phân quyền hợp lý sẽ rút ngắn quá trình ra quyết định. Một nền quản trị dựa trên dữ liệu sẽ giảm chi phí. Một cơ chế thử nghiệm linh hoạt sẽ mở đường cho đổi mới. Một hệ thống pháp luật hướng tới hậu kiểm sẽ tạo thêm không gian cho doanh nghiệp. Và một bộ máy thực thi có năng lực sẽ biến những chủ trương đúng thành kết quả cụ thể.
Nhìn từ yêu cầu của Nghị quyết 19-NQ/TW, đột phá thể chế vì thế không nên được hiểu đơn thuần là sửa thêm nhiều luật hay ban hành thêm nhiều chính sách. Đột phá thực chất là thay đổi chất lượng của luật chơi, thay đổi phương thức quản trị và thay đổi khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội quan trọng để chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào mở rộng nguồn lực sang mô hình dựa ngày càng mạnh vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị.
Trong tiến trình đó, thể chế phải trở thành một lợi thế cạnh tranh quốc gia. Bởi khi thể chế thông thoáng, nguồn lực được giải phóng; khi nguồn lực được giải phóng, sáng tạo được kích hoạt; khi sáng tạo được kích hoạt, năng suất tăng lên; và khi năng suất tăng lên, mô hình phát triển mới mới có thể tạo ra nền tảng vững chắc cho mục tiêu xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng, tự cường và hội nhập sâu rộng trong những thập niên tới.
ThS Hà Sơn Thủy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây là tài liệu nền tảng của bài viết, trong đó xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá, chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, dựa trên dữ liệu và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển.
- Bộ Chính trị (2026), Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
- Chính phủ (2026), Nghị quyết số 109/NQ-CP về cập nhật, bổ sung Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay và trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030. Văn bản nhấn mạnh xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
- Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Chiến lược xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu để xác lập mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 9/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030.
- Quốc hội (2026), Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, với các định hướng về khơi thông, đa dạng hóa các chuỗi cung ứng và kênh dẫn vốn; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển hạ tầng và liên kết vùng.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế.
- Thông tấn xã Việt Nam (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.



