Tóm tắt: Biển đang ngày càng trở thành không gian phát triển chiến lược, nơi hội tụ các nguồn lực kinh tế, khoa học – công nghệ, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, yêu cầu huy động, kết nối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển biển được đặt ra ở tầm chiến lược mới. Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 với chủ đề “Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh” diễn ra ngày 2/10/2026 là một diễn đàn có ý nghĩa trong việc kết nối cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, nhà đầu tư, giới nghiên cứu và các đối tác quốc tế. Bài viết phân tích vai trò của kết nối nguồn lực và tri thức đối với quá trình chuyển từ tư duy phát triển kinh tế biển sang tư duy xây dựng quốc gia biển mạnh; đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh, thúc đẩy khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế về biển.
Từ khóa: Biển Việt Nam; quốc gia biển mạnh; kinh tế biển; Nghị quyết 20-NQ/TW; hợp tác quốc tế; quản trị biển; khoa học – công nghệ.
Abstract: The sea is increasingly becoming a strategic development space where economic, scientific and technological, financial, human and international cooperation resources converge. In the context of Resolution No. 20-NQ/TW dated 28 July 2026 of the Party Central Committee on building and developing Viet Nam into a strong maritime nation, mobilizing, connecting and effectively utilizing resources for marine development has emerged as a strategic priority. The 2026 Vietnam Sea Forum, themed “Cooperation and International Integration in Building Viet Nam into a Strong Maritime Nation”, held on 2 October 2026, provides an important platform connecting government agencies, localities, businesses, investors, research institutions and international partners. This article examines the role of resource and knowledge connectivity in shifting from a conventional marine economic development approach toward a broader vision of building a strong maritime nation. It also proposes orientations to strengthen modern marine governance, develop a green marine economy, promote science and technology, improve human resources and expand international cooperation in marine affairs.
Keywords: Vietnamese sea; strong maritime nation; marine economy; Resolution No. 20-NQ/TW; international cooperation; marine governance; science and technology.
![]()
Kết nối nguồn lực và tri thức - Động lực mới xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Ảnh minh họa - AI
1. Đặt vấn đề: Từ phát triển kinh tế biển đến xây dựng quốc gia biển mạnh
Trong tiến trình phát triển của các quốc gia có biển, biển không đơn thuần là không gian khai thác tài nguyên hay tuyến giao thông kết nối các nền kinh tế. Trong thế kỷ XXI, biển ngày càng được nhìn nhận như một không gian chiến lược tổng hợp, liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an ninh năng lượng, thương mại quốc tế, khoa học – công nghệ, môi trường, biến đổi khí hậu, sinh kế cộng đồng và vị thế quốc gia.
Đối với Việt Nam, ý nghĩa đó càng rõ nét bởi đất nước có vị trí địa kinh tế và địa chính trị quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, với không gian biển gắn chặt với quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển tiếp tục được nâng lên; thể chế, chính sách, pháp luật về biển từng bước được hoàn thiện, công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và quản trị biển được tăng cường.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã mở ra một bước phát triển mới về tư duy chiến lược. Nghị quyết không chỉ đặt vấn đề phát triển kinh tế biển mà hướng tới một chỉnh thể rộng hơn: xây dựng nền quản trị biển hiện đại, khai thác và sử dụng bền vững không gian biển, phát triển khoa học – công nghệ, bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống cộng đồng ven biển và hải đảo, đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển.
Đây cũng chính là nền tảng để nhìn nhận Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 không chỉ như một sự kiện trao đổi thông tin, mà như một không gian kết nối chính sách, tri thức, nguồn lực và thực tiễn nhằm góp phần cụ thể hóa mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh.
2. Kết nối nguồn lực - điều kiện để biến tiềm năng biển thành năng lực phát triển
Một trong những vấn đề quan trọng nhất của phát triển biển hiện nay là Việt Nam có tiềm năng lớn nhưng để biến tiềm năng thành năng lực cạnh tranh quốc gia cần một hệ sinh thái nguồn lực đủ mạnh.
Nguồn lực cho phát triển biển trước hết là nguồn lực tài chính. Các lĩnh vực như cảng biển, logistics, vận tải biển, năng lượng ngoài khơi, công nghiệp đóng tàu, nuôi biển công nghệ cao, hạ tầng số, nghiên cứu đại dương và bảo vệ hệ sinh thái đều đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài và năng lực quản trị cao.
Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng là phải tạo được cơ chế huy động đa dạng nguồn vốn, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài và các nguồn tài chính quốc tế phục vụ phát triển xanh.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác định nhiệm vụ huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển; đồng thời thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Điều này cho thấy nguồn lực không nên được hiểu đơn thuần là vốn. Nguồn lực biển còn bao gồm công nghệ, dữ liệu, nhân lực, tri thức quản trị, kinh nghiệm quốc tế, năng lực pháp lý và mạng lưới hợp tác.
Một dự án kinh tế biển có thể có vốn nhưng nếu thiếu công nghệ phù hợp, thiếu nhân lực chất lượng cao hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật quốc tế thì khả năng triển khai hiệu quả vẫn bị hạn chế.
Do đó, yêu cầu đặt ra là hình thành cơ chế kết nối các loại nguồn lực. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và môi trường phát triển; doanh nghiệp là chủ thể đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh; các trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp tri thức; tổ chức tài chính cung cấp nguồn vốn; các đối tác quốc tế mang đến công nghệ, kinh nghiệm, thị trường và tiêu chuẩn; cộng đồng địa phương cung cấp nguồn nhân lực và tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển.
Khi những thành tố này được kết nối trong cùng một hệ sinh thái, nguồn lực biển mới có thể được chuyển hóa thành năng lực phát triển thực tế.
3. Tri thức biển trở thành một nguồn lực chiến lược
Nếu vốn là điều kiện quan trọng thì tri thức chính là yếu tố quyết định chất lượng của quá trình phát triển.
Trong lĩnh vực biển, tri thức có phạm vi rất rộng, từ hải dương học, khí tượng thủy văn, địa chất biển, sinh thái học đến luật biển quốc tế, kinh tế biển, logistics, quản trị cảng, công nghệ tàu biển, năng lượng ngoài khơi, dữ liệu đại dương và kinh tế xanh.
Đặc biệt, sự phát triển nhanh của khoa học – công nghệ đang làm thay đổi phương thức tiếp cận biển. Công nghệ viễn thám, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, phương tiện tự hành, hệ thống quan trắc thông minh và công nghệ số đang tạo ra khả năng thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu biển với quy mô trước đây chưa từng có.
Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý biển dựa nhiều vào kinh nghiệm và dữ liệu phân tán sang quản trị dựa trên khoa học, dữ liệu và khả năng dự báo.
Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định mục tiêu đến năm 2030 hình thành hệ thống quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số; đồng thời từng bước làm chủ các không gian phát triển mới trên biển.
Đây là một định hướng có ý nghĩa đặc biệt bởi trong nền kinh tế biển hiện đại, dữ liệu có thể được xem như một dạng hạ tầng chiến lược.
Dữ liệu về dòng chảy, thủy triều, địa chất, nguồn lợi thủy sản, chất lượng nước, đa dạng sinh học, hoạt động tàu thuyền, khí tượng và biến đổi khí hậu có thể phục vụ đồng thời nhiều lĩnh vực. Nếu được chuẩn hóa và chia sẻ phù hợp, dữ liệu biển sẽ hỗ trợ quy hoạch, đầu tư, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và bảo đảm an toàn hàng hải.
Vấn đề vì thế không chỉ là “có dữ liệu”, mà còn là khả năng tích hợp, cập nhật, chia sẻ và chuyển hóa dữ liệu thành thông tin phục vụ quyết định.
4. Luật pháp quốc tế - nền tảng cho quá trình vươn ra biển
Một quốc gia biển mạnh không thể chỉ được đo bằng số lượng cảng biển, đội tàu hay quy mô kinh tế biển. Một yếu tố quan trọng khác là năng lực tham gia và đóng góp vào hệ thống quản trị biển quốc tế.
Tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026, TS. Nguyễn Hùng Sơn, Giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh rằng quá trình các lực lượng của Việt Nam hướng ra biển xa, biển sâu và các vùng biển quốc tế đòi hỏi phải hiểu rõ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Luật Biển quốc tế. Theo ông, luật biển cần được nhìn nhận như một lĩnh vực tiếp tục phát triển cùng khoa học – công nghệ và hoạt động của con người trên biển.
Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế biển ngày càng có tính quốc tế cao, một doanh nghiệp vận tải biển, năng lượng ngoài khơi, logistics hay dịch vụ hàng hải có thể đồng thời chịu sự tác động của pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và các quy định của thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.
Vì vậy, năng lực pháp lý cần trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh biển. Việc đào tạo đội ngũ chuyên gia vừa hiểu luật trong nước, vừa có kiến thức về Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), pháp luật hàng hải, pháp luật môi trường, thương mại quốc tế và các cơ chế hợp tác khu vực sẽ góp phần nâng cao khả năng tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế biển quốc tế.
Quan trọng hơn, nghiên cứu pháp lý không chỉ nhằm giải quyết tranh chấp mà còn phải đi trước một bước, nhận diện những vấn đề pháp lý mới nảy sinh từ các ngành kinh tế biển mới, công nghệ mới và không gian hoạt động mới.
5. Phát triển kinh tế biển xanh: Từ khai thác tài nguyên sang tạo giá trị bền vững
Một quốc gia biển mạnh không thể xây dựng trên nền tảng khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và áp lực lên các hệ sinh thái biển ngày càng gia tăng, phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với bảo vệ môi trường.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới; đồng thời bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Định hướng này mở ra nhiều không gian phát triển. Năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, du lịch biển bền vững, dịch vụ hàng hải xanh, cảng biển thông minh, logistics phát thải thấp và các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ biển có thể trở thành những hướng phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, kinh tế xanh không nên được hiểu đơn giản là thay thế một công nghệ bằng một công nghệ ít phát thải hơn. Bản chất của kinh tế biển xanh là thay đổi mô hình tạo giá trị: sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm chất thải, bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao năng suất và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn từ tri thức và công nghệ.
Trong quá trình đó, khoa học biển phải đóng vai trò nền tảng. Mỗi quyết định đầu tư lớn vào biển cần được hỗ trợ bởi dữ liệu khoa học đầy đủ về sức chịu tải của hệ sinh thái, điều kiện tự nhiên, rủi ro khí hậu và tác động xã hội.
6. Doanh nghiệp cần trở thành chủ thể trung tâm của hệ sinh thái kinh tế biển
Một điểm đáng chú ý trong định hướng mới là vai trò của doanh nghiệp. Nghị quyết số 20-NQ/TW đề cao vai trò trung tâm của Nhân dân và doanh nghiệp trong xây dựng quốc gia biển mạnh.
Điều này có nghĩa quá trình phát triển biển không thể chỉ dựa vào các chương trình đầu tư công hay các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Doanh nghiệp phải trở thành một chủ thể trực tiếp tạo ra giá trị, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, để doanh nghiệp thực sự phát huy vai trò, môi trường thể chế cần có tính ổn định và khả năng dự báo cao. Các dự án biển thường có quy mô lớn, thời gian đầu tư dài và liên quan tới nhiều lĩnh vực quản lý. Nếu thủ tục giữa các ngành, các cấp thiếu đồng bộ, chi phí giao dịch sẽ tăng và làm giảm sức hấp dẫn đầu tư.
Do đó, một nhiệm vụ quan trọng là tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, nâng cao tính thống nhất của quy hoạch không gian biển và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thông tin, dữ liệu và các nguồn lực cần thiết.
Đồng thời, doanh nghiệp biển Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị rủi ro, năng lực công nghệ và năng lực pháp lý quốc tế. Hội nhập không chỉ là thu hút doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam mà còn là quá trình doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị biển khu vực và toàn cầu.
7. Đào tạo nguồn nhân lực: Chìa khóa của năng lực biển dài hạn
Một trong những thách thức lớn của quá trình xây dựng quốc gia biển mạnh là nguồn nhân lực.
Kinh tế biển thế hệ mới cần những kỹ sư có khả năng làm việc với công nghệ tự động hóa; chuyên gia dữ liệu hiểu về đại dương; luật gia am hiểu luật biển quốc tế; chuyên gia tài chính có khả năng đánh giá dự án năng lượng ngoài khơi; nhà quản trị logistics hiểu chuỗi cung ứng toàn cầu; nhà khoa học nghiên cứu hệ sinh thái biển và các chuyên gia quản trị biển tổng hợp.
Do đó, đào tạo nhân lực biển không thể chỉ giới hạn trong các trường chuyên ngành truyền thống.
Kinh nghiệm được chia sẻ tại các diễn đàn về phát triển kinh tế biển cho thấy nhu cầu kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu ngày càng lớn. Trong lĩnh vực hàng hải, việc cập nhật chương trình đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, ứng dụng mô phỏng và hệ thống đào tạo số được xem là những hướng quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn.
Ở tầm quốc gia, cần hình thành mạng lưới đào tạo nhân lực biển liên ngành, tăng cường hợp tác quốc tế và tạo điều kiện để các chuyên gia trẻ tham gia vào các dự án nghiên cứu, diễn đàn và cơ chế hợp tác quốc tế.
Đặc biệt, thế hệ chuyên gia trẻ cần được trang bị không chỉ kiến thức chuyên môn mà cả tư duy hội nhập. Đây là điều kiện để Việt Nam không chỉ tiếp nhận tri thức quốc tế mà từng bước đóng góp tri thức Việt Nam vào các chương trình nghiên cứu và quản trị đại dương toàn cầu.
8. Hợp tác quốc tế: Mở rộng không gian phát triển biển
Chủ đề của Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 – “Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh” – phản ánh một yêu cầu có tính chiến lược.
Biển có tính xuyên biên giới. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm biển, nguồn lợi thủy sản, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học đều đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều quốc gia.
Do đó, hợp tác quốc tế không chỉ là một công cụ huy động vốn mà còn là phương thức để Việt Nam tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu, kinh nghiệm quản trị và thị trường.
Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được đẩy mạnh, hướng tới nâng cao vai trò và vị thế Việt Nam trong các cơ chế hợp tác biển và đại dương toàn cầu.
Để thực hiện mục tiêu này, cần chuyển mạnh từ hợp tác mang tính sự vụ sang hợp tác dài hạn dựa trên các chương trình và lợi ích cụ thể.
Các dự án nghiên cứu chung về đại dương, trung tâm dữ liệu biển, đào tạo nhân lực, công nghệ quan trắc, bảo tồn hệ sinh thái, năng lượng tái tạo ngoài khơi hay logistics xanh đều có thể trở thành những lĩnh vực hợp tác thiết thực.
Thông qua hợp tác, Việt Nam vừa tiếp nhận nguồn lực, vừa nâng cao khả năng đóng góp vào các sáng kiến khu vực và toàn cầu.
9. Từ Diễn đàn đến cơ chế kết nối thường xuyên
Một diễn đàn chỉ thực sự phát huy giá trị khi những trao đổi tại diễn đàn được chuyển hóa thành chính sách, dự án và chương trình hành động.
Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, tạo cơ sở để cụ thể hóa các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Từ đó, có thể nghiên cứu xây dựng các cơ chế kết nối thường xuyên giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đối tác quốc tế.
Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin dùng chung về các lĩnh vực kinh tế biển, quy hoạch, đầu tư, khoa học – công nghệ và môi trường.
Thứ hai, hình thành các chương trình nghiên cứu đặt hàng từ thực tiễn. Doanh nghiệp và địa phương có thể đưa ra bài toán cụ thể; viện nghiên cứu và trường đại học cung cấp giải pháp; cơ quan quản lý hỗ trợ hoàn thiện thể chế và nhân rộng mô hình.
Thứ ba, cần thúc đẩy các quỹ và cơ chế tài chính hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực biển, nhất là những công nghệ có khả năng tạo ra tác động dài hạn.
Thứ tư, duy trì các diễn đàn chuyên sâu theo từng nhóm vấn đề như năng lượng biển, logistics xanh, cảng biển thông minh, nuôi biển công nghệ cao, dữ liệu đại dương, luật biển quốc tế và bảo tồn hệ sinh thái.
Nếu được tổ chức thường xuyên, các diễn đàn như vậy có thể trở thành “hạ tầng mềm” của quá trình phát triển biển, nơi tri thức được cập nhật, chính sách được phản biện và cơ hội hợp tác được hình thành.
10. Một số kiến nghị
Để thúc đẩy quá trình xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, có thể tập trung vào một số định hướng sau:
Một là, tiếp tục đổi mới tư duy quản trị biển. Từ quản lý theo từng ngành, từng lĩnh vực cần chuyển mạnh sang quản trị tổng hợp, dựa trên không gian biển và hệ sinh thái, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Hai là, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu biển quốc gia. Dữ liệu cần được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối giữa các cơ quan; từng bước phát triển nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách, dự báo rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp.
Ba là, ưu tiên khoa học – công nghệ biển. Cần tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá như quan trắc đại dương, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng ngoài khơi, công nghệ nuôi biển và công nghệ bảo tồn hệ sinh thái.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Tăng cường liên kết nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp – viện nghiên cứu; đổi mới chương trình đào tạo; mở rộng hợp tác quốc tế và phát triển đội ngũ chuyên gia có khả năng làm việc trong môi trường đa ngành, đa quốc gia.
Năm là, nâng cao năng lực pháp lý quốc tế. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần chủ động cập nhật luật biển quốc tế, tiêu chuẩn quốc tế và những vấn đề pháp lý mới phát sinh từ các ngành kinh tế biển mới.
Sáu là, tạo điều kiện để doanh nghiệp trở thành động lực phát triển. Hoàn thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí thủ tục và tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành kinh tế biển xanh.
Bảy là, tăng chiều sâu của hợp tác quốc tế. Việt Nam cần chủ động tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu về biển, đồng thời xây dựng các chương trình hợp tác cụ thể trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, công nghệ, tài chính xanh và bảo vệ môi trường biển.
Kết luận
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa khi Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới trong tư duy chiến lược về biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đặt mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, với tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời xác lập một hệ thống nhiệm vụ bao quát từ quản trị biển, kinh tế biển, khoa học – công nghệ, hạ tầng, môi trường đến nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế.
Trong quá trình đó, “nguồn lực” và “tri thức” cần được xem là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ. Nguồn lực tài chính nếu không được dẫn dắt bởi tri thức sẽ khó tạo ra giá trị bền vững; ngược lại, tri thức nếu không được kết nối với nguồn vốn, doanh nghiệp, thể chế và thị trường sẽ khó chuyển hóa thành năng lực phát triển.
Vì vậy, yêu cầu quan trọng trong giai đoạn tới là hình thành một hệ sinh thái phát triển biển có khả năng kết nối Nhà nước – doanh nghiệp – nhà khoa học – người dân – đối tác quốc tế. Trong hệ sinh thái ấy, Nhà nước kiến tạo thể chế; doanh nghiệp tạo ra giá trị; khoa học – công nghệ tạo động lực; nguồn nhân lực tạo sức sáng tạo; cộng đồng tham gia và hưởng lợi; còn hợp tác quốc tế mở rộng không gian phát triển.
Xây dựng quốc gia biển mạnh vì thế không chỉ là câu chuyện khai thác biển nhiều hơn, mà quan trọng hơn là hiểu biển sâu hơn, quản trị biển tốt hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn từ tri thức và công nghệ, đồng thời bảo vệ tốt hơn hệ sinh thái và lợi ích quốc gia trên biển.
Nếu Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 tạo được những kết nối thực chất giữa chính sách, tri thức và nguồn lực, những cuộc đối thoại tại diễn đàn sẽ không dừng lại ở việc trao đổi quan điểm mà có thể trở thành những “điểm khởi đầu” cho các chương trình hợp tác, dự án đầu tư, sáng kiến khoa học và giải pháp quản trị biển trong thực tiễn. Đây chính là con đường để tầm nhìn xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh từng bước được chuyển hóa thành năng lực phát triển cụ thể.
ThS Hà Sơn Thủy
____________________________________________
Tài liệu tham khảo
-
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
-
Chính phủ (2026), Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW.
-
Quốc hội Việt Nam (2026), Chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
-
Bộ Ngoại giao (2026), Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh, Hà Nội, ngày 2/10/2026.
-
Báo Tin tức và Dân tộc – TTXVN (2026), Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Kết nối nguồn lực và tri thức, ngày 2/10/2026.
-
Báo Thế giới và Việt Nam (2026), Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Điểm hẹn hợp tác quốc tế vì mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh.
-
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2018), Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
-
United Nations (1982), United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).
-
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024), các tài liệu về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
-
Các tài liệu, báo cáo và nghiên cứu chuyên ngành về kinh tế biển xanh, quản trị đại dương, khoa học – công nghệ biển và hợp tác quốc tế về biển.



