I. MỞ ĐẦU
Những biến động của kinh tế thế giới trong những năm gần đây đang làm thay đổi sâu sắc mô hình phát triển công nghiệp của nhiều quốc gia. Quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch, xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ sản xuất cùng sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân đang thúc đẩy các quốc gia điều chỉnh chính sách công nghiệp theo hướng gia tăng khả năng thích ứng, nâng cao giá trị gia tăng và hình thành các hệ sinh thái sản xuất có tính liên kết cao. Thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư hay gia tăng năng lực sản xuất đơn thuần, trọng tâm của chính sách công nghiệp ngày càng chuyển sang xây dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu, đồng thời khai thác hiệu quả các lợi thế của từng địa phương.
Xu hướng đó cũng đặt ra yêu cầu đổi mới đối với mô hình phát triển cụm công nghiệp ở Việt Nam. Nếu trước đây cụm công nghiệp chủ yếu được xem là giải pháp bố trí mặt bằng sản xuất, di dời các cơ sở sản xuất khỏi khu dân cư và phát triển công nghiệp địa phương, thì cùng với sự phát triển của nền kinh tế số và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cụm công nghiệp ngày càng được nhìn nhận như một cấu phần quan trọng của hạ tầng phát triển doanh nghiệp, nơi kết nối sản xuất, đổi mới sáng tạo, dịch vụ hỗ trợ và các chuỗi giá trị công nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, xanh và bền vững.
Định hướng này được đặt trên nền tảng các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định phát triển công nghiệp hiện đại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; cùng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã tiếp tục khẳng định yêu cầu hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò của doanh nghiệp và tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi như những động lực quan trọng của tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới.

Hạ tầng cụm công nghiệp hiện đại, chuyển đổi số trong sản xuất và hoàn thiện thể chế đang tạo động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư.
Thể chế hóa các định hướng đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Những sửa đổi không chỉ tập trung điều chỉnh các điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp hay đơn giản hóa thủ tục hành chính, mà còn mở rộng đối tượng được khuyến khích đầu tư, định hướng phát triển các mô hình cụm công nghiệp công nghệ cao, sinh thái và thông minh, đồng thời tạo dư địa thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp.
Ở góc độ chính sách công, điểm cốt lõi của Nghị định không nằm ở việc sửa đổi một số quy định mang tính kỹ thuật, mà phản ánh bước chuyển trong tư duy phát triển từ quản lý cụm công nghiệp theo đơn vị hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất công nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết sản xuất và từng bước hình thành các cụm công nghiệp có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
II. MỞ RỘNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CHO DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
1. Mở rộng đối tượng được khuyến khích đầu tư: Bước chuyển trong tư duy phát triển cụm công nghiệp
Một trong những nội dung có ý nghĩa nổi bật của Nghị định số 303/2026/NĐ-CP là việc sửa đổi quy định về đối tượng được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp theo hướng mở rộng phạm vi từ các cơ sở sản xuất truyền thống sang các doanh nghiệp hoạt động trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu như trước đây, cụm công nghiệp chủ yếu hướng tới thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề hoặc các cơ sở sản xuất cần di dời khỏi khu dân cư, thì Nghị định lần này đã bổ sung các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào nhóm đối tượng được Nhà nước ưu tiên, khuyến khích đầu tư.
Sự điều chỉnh này không đơn thuần là mở rộng danh mục đối tượng áp dụng chính sách mà phản ánh sự chuyển biến trong tư duy phát triển công nghiệp. Trong điều kiện mô hình tăng trưởng đang chuyển dần từ mở rộng quy mô sản xuất sang nâng cao năng suất, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế không còn được quyết định chủ yếu bởi nguồn lực đất đai hay lao động giá rẻ mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Điều đó đòi hỏi không gian phát triển công nghiệp cũng phải được tái cấu trúc theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dựa trên tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ phát triển.
Từ góc độ chính sách công, việc bổ sung các nhóm doanh nghiệp công nghệ vào đối tượng được khuyến khích đầu tư cho thấy cụm công nghiệp không còn được nhìn nhận chủ yếu là nơi tập trung các cơ sở sản xuất nhằm khai thác lợi thế về quỹ đất hay giảm chi phí đầu tư hạ tầng. Thay vào đó, cụm công nghiệp đang từng bước được định vị như một không gian phát triển doanh nghiệp, nơi kết hợp giữa hoạt động sản xuất với nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và hình thành các mối liên kết trong chuỗi giá trị công nghiệp. Đây là sự thay đổi phù hợp với định hướng phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được xác định trong các nghị quyết quan trọng của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đồng thời, quy định này cũng thể hiện sự thống nhất giữa chính sách phát triển cụm công nghiệp với chủ trương phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp sau khi đã hình thành và mở rộng sản xuất, chính sách đã chủ động tạo dựng môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp có điều kiện tiếp cận hạ tầng sản xuất, mở rộng quy mô hoạt động và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất trong nước cũng như chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này góp phần nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, đồng thời tạo động lực để các cụm công nghiệp chuyển dịch theo hướng hiện đại, chuyên môn hóa và có giá trị gia tăng cao hơn.
2. Cụm công nghiệp không chỉ là nơi bố trí sản xuất mà là hạ tầng của đổi mới sáng tạo
Việc mở rộng đối tượng đầu tư chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi cụm công nghiệp được phát triển theo đúng yêu cầu của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Đối với các doanh nghiệp công nghệ, giá trị của cụm công nghiệp không nằm đơn thuần ở khả năng tiếp cận quỹ đất sản xuất mà quan trọng hơn là môi trường thuận lợi để nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ. Trong nhiều trường hợp, đất đai chỉ là một yếu tố đầu vào, trong khi năng lực kết nối với hệ thống nghiên cứu, chuỗi cung ứng, dịch vụ kỹ thuật và các đối tác công nghệ mới là nhân tố quyết định khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Đặc điểm của doanh nghiệp công nghệ là chu kỳ đổi mới sản phẩm ngắn, tốc độ thay đổi công nghệ nhanh và yêu cầu cao về sự phối hợp giữa nghiên cứu, sản xuất và thị trường. Vì vậy, các doanh nghiệp này cần một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, bao gồm hạ tầng số, cơ sở thử nghiệm, dịch vụ kỹ thuật, logistics, tư vấn sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khi các điều kiện đó được hình thành trong cùng một không gian phát triển, chi phí giao dịch sẽ giảm, tốc độ đổi mới sáng tạo được rút ngắn và khả năng thương mại hóa sản phẩm sẽ được nâng cao đáng kể.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia có nền công nghiệp phát triển đều không coi cụm công nghiệp đơn thuần là khu vực tập trung nhà máy sản xuất. Tại Đức, mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ (Mittelstand) được xem là nền tảng của năng lực cạnh tranh công nghiệp nhờ sự gắn kết chặt chẽ với các viện nghiên cứu ứng dụng, trung tâm chuyển giao công nghệ và hệ thống đào tạo nghề chất lượng cao. Mô hình này tạo điều kiện để doanh nghiệp liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại Hàn Quốc, hệ thống Techno Park được phát triển như các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tích hợp hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, đào tạo nhân lực và kết nối đầu tư. Các Techno Park không chỉ cung cấp hạ tầng mà còn đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương, góp phần hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo vùng. Trong khi đó, Nhật Bản triển khai Chương trình Industrial Cluster với mục tiêu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và chính quyền địa phương nhằm thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Điểm chung của các mô hình này là đều chuyển trọng tâm từ phát triển không gian sản xuất sang xây dựng môi trường đổi mới sáng tạo. Đây cũng là xu hướng mà nhiều nền kinh tế đang theo đuổi nhằm thích ứng với sự phát triển của công nghiệp số, sản xuất thông minh và kinh tế tri thức. Đối với Việt Nam, việc bổ sung các doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào đối tượng được khuyến khích đầu tư sẽ chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả nếu quá trình phát triển cụm công nghiệp gắn với việc hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng hiện đại, đồng bộ và có khả năng kết nối cao.
3. Từ thu hút doanh nghiệp đến kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp địa phương
Từ những thay đổi về đối tượng được khuyến khích đầu tư có thể thấy mục tiêu của Nghị định số 303/2026/NĐ-CP không dừng lại ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong cụm công nghiệp, mà hướng tới nâng cao chất lượng phát triển của toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp địa phương. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa tư duy phát triển dựa trên mở rộng quy mô với tư duy phát triển dựa trên liên kết và đổi mới sáng tạo.
Thực tiễn cho thấy, một cụm công nghiệp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hội tụ được nhiều chủ thể có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất, cần có sự tham gia của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp logistics, các tổ chức cung cấp dịch vụ kỹ thuật, tài chính, tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ, cùng với các trường đại học, cơ sở đào tạo nghề và viện nghiên cứu. Chính sự liên kết này tạo ra khả năng lan tỏa công nghệ, chia sẻ tri thức, hình thành chuỗi cung ứng nội địa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với nhiều địa phương, hạn chế của các cụm công nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở tỷ lệ lấp đầy hay chất lượng hạ tầng mà còn ở mức độ liên kết còn tương đối thấp giữa các doanh nghiệp trong cùng cụm cũng như giữa doanh nghiệp với các chủ thể hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Điều này khiến nhiều cụm công nghiệp mới dừng ở vai trò tập trung cơ sở sản xuất, trong khi hiệu ứng cộng hưởng về công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng chưa được phát huy đầy đủ.
Việc mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vì vậy mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một chính sách thu hút đầu tư. Xa hơn, đây là bước đi nhằm từng bước hình thành các cụm công nghiệp có tính chuyên môn hóa cao, có khả năng kết nối với các trung tâm nghiên cứu, mạng lưới doanh nghiệp và chuỗi giá trị sản xuất theo hướng hiện đại. Khi đó, cụm công nghiệp không chỉ là nơi diễn ra hoạt động sản xuất mà còn trở thành hạt nhân thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững.
Có thể thấy, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã thể hiện rõ sự chuyển dịch từ tư duy quản lý không gian sản xuất sang tư duy kiến tạo môi trường phát triển doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để cụm công nghiệp từng bước trở thành hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp, công nghệ, dịch vụ và tri thức, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp địa phương và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
III. HOÀN THIỆN ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP CỤM CÔNG NGHIỆP: CHUYỂN TỪ PHÁT TRIỂN THEO SỐ LƯỢNG SANG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
1. Hoàn thiện điều kiện thành lập cụm công nghiệp: Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực phát triển
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định số 303/2026/NĐ-CP là sửa đổi các điều kiện thành lập và mở rộng cụm công nghiệp theo hướng coi hiệu quả khai thác hạ tầng và sử dụng đất là tiêu chí trung tâm của quá trình phát triển. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về kỹ thuật quản lý mà phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển công nghiệp, chuyển từ mục tiêu mở rộng số lượng cụm công nghiệp sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của hệ thống hạ tầng công nghiệp địa phương.
Trong nhiều năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, mạng lưới cụm công nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc thu hút doanh nghiệp, phát triển công nghiệp nông thôn, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy không ít cụm công nghiệp được thành lập khi điều kiện hạ tầng, khả năng thu hút đầu tư hoặc nhu cầu thị trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Điều này dẫn đến tình trạng tỷ lệ lấp đầy thấp, quỹ đất công nghiệp sử dụng chưa hiệu quả, nguồn lực đầu tư bị phân tán và làm gia tăng áp lực đối với ngân sách địa phương trong đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã sửa đổi điều kiện thành lập cụm công nghiệp theo hướng quy định rõ trường hợp địa bàn cấp xã đã có cụm công nghiệp thì chỉ xem xét thành lập mới khi tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không vượt quá 50 ha. Cách tiếp cận này thể hiện quan điểm sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và hạn chế tình trạng phát triển dàn trải, đồng thời khuyến khích các địa phương ưu tiên khai thác hiệu quả các cụm công nghiệp hiện có trước khi mở rộng quy mô.
Từ góc độ quản trị phát triển, việc gắn điều kiện thành lập với tỷ lệ lấp đầy và quỹ đất chưa khai thác góp phần nâng cao tính khoa học trong công tác quy hoạch công nghiệp. Thay vì mở rộng quỹ đất dựa chủ yếu vào kỳ vọng thu hút đầu tư, việc phát triển cụm công nghiệp được đặt trên cơ sở đánh giá nhu cầu thực tế của thị trường và khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Điều này phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp theo hướng tiết kiệm tài nguyên, sử dụng hiệu quả đất đai và nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời góp phần hạn chế đầu tư dàn trải và giảm nguy cơ hình thành các cụm công nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
2. Điều kiện mở rộng cụm công nghiệp gắn với hiệu quả khai thác và nhu cầu thị trường
Bên cạnh việc sửa đổi điều kiện thành lập, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP cũng điều chỉnh các tiêu chí mở rộng cụm công nghiệp theo hướng chặt chẽ và gắn với hiệu quả sử dụng hạ tầng hiện hữu. Theo đó, việc mở rộng chỉ được xem xét khi cụm công nghiệp đạt tỷ lệ lấp đầy tối thiểu theo quy định hoặc khi nhu cầu thuê đất công nghiệp thực tế vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có.
Mặc dù đây là quy định mang tính kỹ thuật, song xét về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ tư duy phát triển theo cung sang phát triển theo cầu. Nếu trước đây việc mở rộng nhiều khi được thực hiện trên cơ sở dự báo hoặc mong muốn tạo thêm quỹ đất để thu hút đầu tư, thì nay quy mô phát triển được gắn trực tiếp với mức độ khai thác thực tế và nhu cầu của thị trường. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu nguy cơ mở rộng vượt quá khả năng hấp thụ của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm sự cân đối giữa phát triển hạ tầng với hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đối với các địa phương, quy định mới tạo động lực nâng cao chất lượng quản lý và vận hành các cụm công nghiệp đang hoạt động. Thay vì ưu tiên mở rộng diện tích, chính quyền địa phương cần chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng hạ tầng, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tăng tỷ lệ lấp đầy. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất công nghiệp trong điều kiện quỹ đất ngày càng trở thành nguồn lực có giá trị và cần được phân bổ hợp lý.
Ở góc độ phát triển kinh tế, việc gắn mở rộng cụm công nghiệp với tín hiệu của thị trường còn góp phần nâng cao tính ổn định của hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư sẽ có cơ sở rõ ràng hơn để đánh giá triển vọng phát triển của từng cụm công nghiệp, trong khi địa phương có điều kiện phân bổ nguồn lực đầu tư theo mức độ ưu tiên, tránh tình trạng đầu tư trước nhưng khai thác chậm hoặc kéo dài thời gian hoàn vốn đối với các công trình hạ tầng.
3. Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật: Điều kiện nền tảng cho phát triển cụm công nghiệp hiện đại
Một điểm đáng chú ý khác của Nghị định là quy định việc mở rộng cụm công nghiệp phải gắn với yêu cầu hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu, bao gồm hệ thống giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Quy định này cho thấy tư duy phát triển không chỉ chú trọng mở rộng quy mô mà đặt chất lượng hạ tầng lên vị trí trung tâm của quá trình phát triển cụm công nghiệp.
Trong thực tế, nhiều cụm công nghiệp được hình thành trước đây gặp khó khăn do hạ tầng kỹ thuật đầu tư thiếu đồng bộ, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung và các công trình bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thu hút doanh nghiệp mà còn làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường, phát sinh chi phí xử lý về sau và giảm hiệu quả khai thác quỹ đất công nghiệp.
Việc bổ sung yêu cầu hoàn thiện hạ tầng thiết yếu vì vậy có ý nghĩa như một cơ chế bảo đảm chất lượng phát triển ngay từ giai đoạn đầu tư. Khi hệ thống giao thông, cấp nước và xử lý nước thải được đầu tư đồng bộ, doanh nghiệp có thể nhanh chóng đưa dự án vào hoạt động, giảm chi phí đầu tư riêng lẻ và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng thời, đây cũng là điều kiện quan trọng để các cụm công nghiệp từng bước chuyển đổi theo mô hình cụm công nghiệp sinh thái, nơi các hoạt động sản xuất được tổ chức theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tăng cường tuần hoàn chất thải.
Xu hướng này phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp xanh mà nhiều quốc gia đang theo đuổi. Theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế về phát triển công nghiệp bền vững, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, quản lý môi trường hiệu quả và sử dụng tiết kiệm tài nguyên là những tiêu chí quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các khu, cụm công nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi xanh.
4. Nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và huy động nguồn lực xã hội
Nhìn tổng thể, những sửa đổi về điều kiện thành lập và mở rộng cụm công nghiệp không chỉ tác động đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mà còn tạo ra sự thay đổi trong phương thức quản trị phát triển của chính quyền địa phương. Khi việc thành lập và mở rộng cụm công nghiệp được gắn với các tiêu chí về hiệu quả sử dụng đất, chất lượng hạ tầng và nhu cầu thị trường, quá trình ra quyết định sẽ dựa nhiều hơn trên các căn cứ kinh tế và hiệu quả đầu tư thay vì chỉ dựa trên mục tiêu mở rộng quy mô.
Đồng thời, các quy định mới cũng góp phần tạo điều kiện để huy động mạnh mẽ hơn nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển hạ tầng cụm công nghiệp. Đối với nhiều cụm công nghiệp do Nhà nước đầu tư trước đây nhưng chưa được hoàn thiện đồng bộ, việc khuyến khích doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế tham gia đầu tư, quản lý và mở rộng sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả khai thác hạ tầng.
Xa hơn, cách tiếp cận này còn góp phần hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư, sử dụng đất công nghiệp thiếu hiệu quả và phát triển theo phong trào từng xuất hiện ở một số địa phương trong giai đoạn trước. Khi các quyết định đầu tư được đặt trên cơ sở nhu cầu thực tế, hiệu quả khai thác và chất lượng hạ tầng, cụm công nghiệp sẽ từng bước trở thành không gian sản xuất có khả năng phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo động lực cho phát triển kinh tế địa phương trong dài hạn.
Có thể thấy, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP không chỉ điều chỉnh các điều kiện thành lập và mở rộng cụm công nghiệp theo hướng chặt chẽ hơn mà còn phản ánh bước chuyển trong tư duy quản lý từ phát triển theo số lượng sang phát triển theo chất lượng. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất công nghiệp, tối ưu hóa nguồn lực đầu tư, thúc đẩy phát triển các cụm công nghiệp hiện đại, xanh và có khả năng thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số và quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững.
IV. CẢI CÁCH THỂ CHẾ: TỪ TIỀN KIỂM SANG HẬU KIỂM
Một trong những nội dung có ý nghĩa cải cách sâu sắc của Nghị định số 303/2026/NĐ-CP không nằm ở việc cắt giảm một số thành phần hồ sơ hay rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, mà ở sự chuyển dịch tư duy quản lý từ cơ chế "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" trong quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Đây là xu hướng cải cách đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước thông qua tăng cường giám sát trong quá trình triển khai. Đối với Việt Nam, sự thay đổi này còn có ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về đổi mới tư duy lập pháp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo.
Điểm đáng chú ý là Nghị định không đơn thuần giảm bớt giấy tờ trong hồ sơ thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp, mà hướng đến thay đổi phương thức quản lý. Nếu trước đây, quá trình xem xét thường đặt trọng tâm vào việc thẩm định trước với nhiều loại hồ sơ, tài liệu nhằm hạn chế rủi ro ngay từ đầu, thì cách tiếp cận mới chuyển trọng tâm sang tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan quản lý trong suốt quá trình triển khai dự án. Điều này phản ánh bước chuyển từ tư duy quản lý dựa trên kiểm soát thủ tục sang quản trị dựa trên kết quả, trong đó hiệu quả thực hiện dự án, mức độ tuân thủ pháp luật và trách nhiệm giải trình trở thành những tiêu chí quan trọng hơn so với việc kiểm tra quá mức ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Sự chuyển đổi này phù hợp với xu hướng cải cách thể chế hiện đại, khi Nhà nước không còn đóng vai trò là chủ thể can thiệp sâu vào mọi khâu của hoạt động đầu tư, mà tập trung xây dựng khuôn khổ pháp lý minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, đồng thời tăng cường công cụ giám sát để bảo đảm việc thực hiện đúng các cam kết và quy định của pháp luật. Đây cũng là biểu hiện của mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển, trong đó cải cách thủ tục hành chính không chỉ nhằm đơn giản hóa quy trình mà hướng tới nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện các chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc nhanh chóng. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, thời gian tiếp cận mặt bằng sản xuất, hoàn tất thủ tục đầu tư và đưa dự án vào vận hành có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Những thủ tục kéo dài không chỉ làm gia tăng chi phí cơ hội mà còn khiến địa phương đánh mất lợi thế trong thu hút các dự án có chất lượng. Bởi vậy, việc loại bỏ những thành phần hồ sơ không còn cần thiết, rút ngắn quy trình xử lý và tăng tính chủ động cho cơ quan có thẩm quyền sẽ góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư của các địa phương.
Ở góc độ doanh nghiệp, cơ chế hậu kiểm giúp giảm chi phí tuân thủ và tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường thay vì dành quá nhiều thời gian cho các thủ tục hành chính. Đối với các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hay doanh nghiệp nhỏ và vừa – những đối tượng được Nghị định bổ sung vào nhóm khuyến khích đầu tư – yếu tố thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi chu kỳ đổi mới công nghệ diễn ra rất nhanh. Một môi trường thủ tục linh hoạt sẽ góp phần nâng cao khả năng nắm bắt cơ hội thị trường và rút ngắn thời gian thương mại hóa sản phẩm.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nền kinh tế phát triển đã từng bước chuyển mạnh sang phương thức quản lý dựa trên hậu kiểm nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước. OECD nhiều lần khuyến nghị các quốc gia giảm bớt các quy định tiền kiểm không thật sự cần thiết, thay vào đó xây dựng hệ thống quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, tăng cường thanh tra theo chuyên đề và ứng dụng công nghệ số trong giám sát. Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới cũng cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, kết hợp với cơ chế giám sát minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng, là một trong những yếu tố quan trọng giúp cải thiện chất lượng môi trường đầu tư, nâng cao năng suất và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Những kinh nghiệm này cho thấy cải cách thủ tục hành chính chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với đổi mới phương thức quản trị.
Tuy nhiên, hậu kiểm không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Trái lại, cơ chế này đòi hỏi năng lực quản trị nhà nước phải được nâng lên một bước. Nếu tiền kiểm đặt trọng tâm vào việc kiểm soát hồ sơ, thì hậu kiểm yêu cầu xây dựng hệ thống theo dõi toàn bộ vòng đời của dự án, từ quá trình đầu tư hạ tầng, sử dụng đất, bảo vệ môi trường đến việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính và tuân thủ quy hoạch. Vì vậy, muốn cơ chế hậu kiểm vận hành hiệu quả cần có nền tảng dữ liệu quản lý hiện đại, quy trình thanh tra khoa học và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng.
Trong điều kiện chuyển đổi số đang được đẩy mạnh, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về cụm công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi thông tin về quy hoạch, tiến độ đầu tư, tỷ lệ lấp đầy, hiện trạng sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý được cập nhật thường xuyên trên nền tảng số, cơ quan quản lý có thể giám sát theo thời gian thực, kịp thời phát hiện các dấu hiệu vi phạm và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần tăng tính công khai, minh bạch của thị trường, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và hạn chế tình trạng xin – cho trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, cơ chế hậu kiểm chỉ phát huy hiệu quả khi trách nhiệm giải trình được xác lập rõ ràng giữa các chủ thể. Chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ và việc thực hiện các cam kết; doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ các quy định về đầu tư, đất đai, môi trường và xây dựng; trong khi cơ quan quản lý phải thực hiện thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc khách quan, dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, tránh tình trạng kiểm tra chồng chéo hoặc gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là những điều kiện quan trọng để cân bằng giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho đầu tư và bảo đảm kỷ cương trong quản lý nhà nước.
Một nội dung có ý nghĩa lâu dài của Nghị định số 303/2026/NĐ-CP là sự gắn kết giữa cải cách thủ tục hành chính với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, địa phương được trao nhiều quyền chủ động hơn trong quản lý và phát triển cụm công nghiệp, từ việc xem xét nhu cầu phát triển, lựa chọn mô hình cụm công nghiệp phù hợp đến tổ chức thực hiện và giám sát quá trình đầu tư. Việc phân cấp này góp phần rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao tính linh hoạt trong điều hành và giúp chính sách bám sát hơn với điều kiện phát triển của từng địa phương.
Tuy nhiên, quyền hạn lớn hơn cũng đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị. Chính quyền địa phương không chỉ thực hiện chức năng phê duyệt hay quản lý hành chính mà cần đóng vai trò kiến tạo môi trường đầu tư, điều phối nguồn lực và bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu sử dụng đất hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực phân tích chính sách, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình trước doanh nghiệp và người dân.
Có thể thấy, cải cách theo hướng hậu kiểm trong Nghị định số 303/2026/NĐ-CP không chỉ là giải pháp kỹ thuật nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính mà phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị phát triển. Từ việc quản lý chủ yếu bằng thủ tục, Nhà nước từng bước chuyển sang quản lý bằng dữ liệu, bằng kết quả thực hiện và bằng trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Nếu được triển khai đồng bộ cùng với chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phương và hoàn thiện cơ chế giám sát minh bạch, cách tiếp cận này sẽ góp phần hình thành môi trường đầu tư thuận lợi hơn, thúc đẩy phát triển cụm công nghiệp theo hướng hiệu quả, hiện đại và bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế trong giai đoạn mới.
V. ĐỂ CỤM CÔNG NGHIỆP THỰC SỰ TRỞ THÀNH HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý và phát triển cụm công nghiệp thông qua Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã tạo ra khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho quá trình phát triển công nghiệp địa phương. Tuy nhiên, cũng như nhiều chính sách phát triển khác, hiệu quả của Nghị định không chỉ được quyết định bởi nội dung quy định mà còn phụ thuộc vào chất lượng tổ chức thực hiện và khả năng chuyển hóa các cơ chế chính sách thành động lực phát triển trong thực tiễn. Để cụm công nghiệp thực sự trở thành hạ tầng của hệ sinh thái sản xuất và đổi mới sáng tạo, cần tập trung vào một số điều kiện mang tính nền tảng thay vì mở rộng quá nhiều nhóm giải pháp.
Trước hết, quy hoạch và đầu tư hạ tầng cần được triển khai đồng bộ nhằm tạo lập môi trường đầu tư ổn định, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Trong thực tế, quyết định đầu tư của doanh nghiệp không chỉ dựa trên giá thuê đất hay các chính sách ưu đãi mà còn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng giao thông, hệ thống điện, cấp nước, xử lý nước thải, logistics và khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế, cảng biển, sân bay và mạng lưới giao thông liên vùng. Quy hoạch cụm công nghiệp vì vậy cần được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng của địa phương để bảo đảm tính đồng bộ, hạn chế tình trạng đầu tư manh mún hoặc thiếu kết nối. Khi doanh nghiệp có niềm tin về sự ổn định của quy hoạch và chất lượng hạ tầng, họ sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp.
Bên cạnh hạ tầng, chất lượng của hệ sinh thái cụm công nghiệp phụ thuộc ngày càng nhiều vào cơ cấu doanh nghiệp tham gia. Mục tiêu phát triển không nên chỉ dừng ở việc nâng tỷ lệ lấp đầy diện tích mà cần hướng tới thu hút các doanh nghiệp có năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng liên kết chuỗi cung ứng và tạo giá trị gia tăng cao. Việc Nghị định bổ sung doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào nhóm đối tượng được khuyến khích đầu tư là bước đi phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, để chủ trương này phát huy hiệu quả, địa phương cần chủ động xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, kết nối với các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp đầu chuỗi. Khi hình thành được mạng lưới hợp tác giữa sản xuất, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cụm công nghiệp sẽ không chỉ là nơi tập trung các nhà máy mà còn trở thành không gian lan tỏa tri thức, công nghệ và năng lực cạnh tranh cho toàn bộ khu vực kinh tế địa phương.
Một điều kiện quan trọng khác là đẩy mạnh quản trị số trong quản lý và vận hành cụm công nghiệp. Khi quy mô các cụm công nghiệp ngày càng mở rộng và yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp, việc quản lý theo phương thức truyền thống sẽ khó đáp ứng yêu cầu về tính minh bạch, tốc độ xử lý và hiệu quả giám sát. Vì vậy, cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về cụm công nghiệp, tích hợp thông tin về quy hoạch, quỹ đất, tiến độ đầu tư, tỷ lệ lấp đầy, hạ tầng kỹ thuật, môi trường và hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, việc phát triển các dịch vụ công trực tuyến, số hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ trong quản lý đất đai và giám sát môi trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước. Đây cũng là nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả cơ chế hậu kiểm mà Nghị định số 303/2026/NĐ-CP hướng tới, đồng thời phù hợp với định hướng xây dựng nền hành chính số và chính quyền số trong giai đoạn hiện nay.
VI. KẾT LUẬN
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP không chỉ sửa đổi một số quy định về thành lập, mở rộng và quản lý cụm công nghiệp mà còn phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển công nghiệp ở Việt Nam. Nếu trước đây cụm công nghiệp chủ yếu được nhìn nhận như không gian bố trí mặt bằng sản xuất, thì cách tiếp cận mới từng bước định vị cụm công nghiệp là hạ tầng phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị công nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở cấp địa phương. Sự thay đổi này phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Một điểm nổi bật của Nghị định là mở rộng đối tượng được khuyến khích đầu tư, trong đó doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khoa học và công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được xác định là lực lượng quan trọng tạo động lực phát triển. Đồng thời, việc hoàn thiện điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp gắn với hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và cải cách thủ tục hành chính theo hướng hậu kiểm đã góp phần nâng cao chất lượng phát triển, tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư.
Tuy nhiên, giá trị của chính sách sẽ chỉ được hiện thực hóa khi quá trình tổ chức thực hiện bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả. Năng lực điều hành của chính quyền địa phương, chất lượng đầu tư hạ tầng, mức độ ứng dụng quản trị số và hiệu quả cải cách thể chế sẽ là những yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa các quy định của Nghị định thành kết quả phát triển cụ thể. Khi những điều kiện này được đáp ứng, cụm công nghiệp sẽ không chỉ góp phần mở rộng năng lực sản xuất mà còn trở thành hạ tầng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong chuỗi giá trị và tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới./.
Ths. Đinh Trọng Hiếu



