![]()
Nâng giá trị Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện tử toàn cầu.
I. ĐIỆN TỬ TĂNG TỐC, BÀI TOÁN GIÁ TRỊ MỚI NỔI LÊN
Tám tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 374 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 324,5 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đáng chú ý, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD chỉ sau tám tháng, đạt khoảng 100,5 tỷ USD, tăng 50,2% so với cùng kỳ. Đây là một trong những động lực nổi bật của tăng trưởng xuất khẩu năm 2026.
Những con số này cho thấy điện tử ngày càng giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam. Cùng với dòng đơn hàng và vốn đầu tư, sự phát triển của ngành còn kéo theo nhu cầu về logistics, dịch vụ công nghiệp, nhân lực kỹ thuật và các ngành cung ứng liên quan.
Tuy nhiên, quy mô kim ngạch xuất khẩu không tự động đồng nghĩa với quy mô giá trị được tạo ra và tích lũy trong nền kinh tế. Một sản phẩm điện tử có thể mang giá trị xuất khẩu rất lớn nhưng được hình thành qua nhiều công đoạn ở nhiều quốc gia, từ nghiên cứu và thiết kế, công nghệ, vật liệu, linh kiện, thiết bị cho tới sản xuất, kiểm định và phân phối. Trong cấu trúc ấy, mỗi nền kinh tế chỉ nắm giữ một phần giá trị tùy thuộc vào công đoạn mà doanh nghiệp của mình đảm nhận và năng lực mà mình sở hữu.
Do đó, khi điện tử tiếp tục tăng trưởng nhanh, câu hỏi đặt ra không chỉ là Việt Nam có thể sản xuất và xuất khẩu nhiều hơn bao nhiêu, mà còn là nền kinh tế có thể tạo thêm bao nhiêu giá trị, tích lũy được bao nhiêu năng lực và giữ lại bao nhiêu thành quả từ quá trình đó.
Đây là lúc yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng xuất khẩu trở nên rõ nét hơn. Tăng kim ngạch vẫn là mục tiêu quan trọng, bởi đó là điều kiện để mở rộng sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy các ngành dịch vụ, logistics, công nghiệp cung ứng. Nhưng ở trình độ phát triển cao hơn, thành công của ngành điện tử cần được nhìn thêm ở khả năng nâng tỷ trọng giá trị gia tăng được tạo ra trong nước và mở rộng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong những công đoạn có ý nghĩa lớn hơn đối với quá trình tích lũy công nghệ và năng lực cạnh tranh.
II. NHÌN VÀO CẤU TRÚC GIÁ TRỊ THAY VÌ CHỈ NHÌN QUY MÔ KIM NGẠCH
Trong một ngành có mức độ phân công quốc tế sâu như điện tử, nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu, máy móc và thiết bị là một phần tự nhiên của quá trình tổ chức sản xuất xuyên biên giới. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào quy mô nhập khẩu đầu vào để kết luận về hiệu quả của xuất khẩu.
Điều quan trọng hơn là những đầu vào đó được sử dụng như thế nào, doanh nghiệp trong nước tham gia đến đâu và sau quá trình sản xuất, những năng lực nào được hình thành, tích lũy và tiếp tục phát triển trong nền kinh tế.
Giá trị gia tăng nội địa là một chỉ dấu quan trọng khi đánh giá chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam, giá trị do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra và phần giá trị được lưu giữ, tái đầu tư trong nền kinh tế Việt Nam. Đây là những khái niệm có mối quan hệ với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam vẫn tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế Việt Nam. Sự hiện diện của doanh nghiệp FDI cũng có thể tạo việc làm, đóng góp ngân sách, phát triển nhà cung cấp và thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ. Nhưng điều đó không có nghĩa toàn bộ giá trị của sản phẩm xuất khẩu do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra hoặc thuộc về doanh nghiệp Việt Nam.
Vì vậy, mục tiêu dài hạn không phải là tách Việt Nam khỏi chuỗi sản xuất toàn cầu, cũng không phải thay thế bằng mọi giá tất cả các yếu tố đầu vào nhập khẩu. Điều quan trọng là từng bước nâng năng lực của doanh nghiệp trong nước để tham gia vào nhiều công đoạn hơn, tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng công nghệ, kỹ thuật và tri thức cao hơn, từ đó gia tăng phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tạo ra và tích lũy.
Bài toán này càng rõ khi đặt cạnh diễn biến nhập khẩu năm 2026. Tám tháng đầu năm, nhập khẩu hàng hóa đạt 396,4 tỷ USD, tăng 35,7%; riêng nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện nhập khẩu trong bảy tháng đã đạt 135,8 tỷ USD. Một phần lớn lượng nhập khẩu này là tư liệu sản xuất, phục vụ quá trình sản xuất và xuất khẩu. Điều đó cho thấy mức độ hội nhập sâu của ngành điện tử, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng năng lực cung ứng trong nước và khả năng chuyển hóa đầu vào thành giá trị cao hơn.
Như vậy, vấn đề không nằm ở việc “nhập khẩu nhiều hay ít” một cách đơn giản, mà là Việt Nam đang làm chủ được những công đoạn nào trong chuỗi, doanh nghiệp trong nước đang tạo ra bao nhiêu giá trị và năng lực nào được tích lũy sau mỗi chu kỳ sản xuất.
Đây chính là sự thay đổi trong cách nhìn về xuất khẩu: từ câu hỏi “xuất khẩu bao nhiêu?” sang câu hỏi “Việt Nam đang đứng ở đâu trong quá trình tạo ra giá trị của sản phẩm xuất khẩu?”.
III. NÂNG VỊ TRÍ DOANH NGHIỆP VIỆT: TỪ THAM GIA CHUỖI ĐẾN TẠO GIÁ TRỊ
Tham gia một chuỗi cung ứng toàn cầu là điều kiện cần, nhưng chưa phải đích đến cuối cùng. Điều đáng quan tâm hơn là doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia ở công đoạn nào, đảm nhận những yêu cầu kỹ thuật gì và có khả năng nâng cấp năng lực đến đâu.
Trong thực tế, ngay cả các công đoạn sản xuất, lắp ráp cũng có thể đòi hỏi trình độ cao về quản trị chất lượng, tự động hóa, tổ chức sản xuất và kiểm soát quy trình. Nhưng nếu doanh nghiệp chỉ thực hiện một phần công việc theo yêu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi mà chưa đồng thời tích lũy được năng lực về công nghệ, kỹ thuật, thiết kế, cải tiến sản phẩm và quản trị chuỗi cung ứng, thì dư địa nâng vị trí sẽ vẫn hạn chế.
Bởi vậy, nâng cấp vị trí trong chuỗi cần được nhìn như một quá trình tích lũy từng bước: từ sản xuất và lắp ráp đến cung ứng linh kiện; từ linh kiện tiêu chuẩn đến các sản phẩm kỹ thuật có yêu cầu cao hơn; từ làm theo yêu cầu đến có khả năng cải tiến quy trình; từ cải tiến công nghệ đến tham gia thiết kế, phát triển sản phẩm và giải quyết các bài toán kỹ thuật của chuỗi.
Quá trình này không nhất thiết đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phải thay thế doanh nghiệp nước ngoài. Một nền sản xuất hiện đại vẫn cần sự phân công giữa nhiều doanh nghiệp và nhiều quốc gia. Điều quan trọng là trong sự phân công đó, doanh nghiệp Việt Nam có thêm những mắt xích mà mình có thể làm chủ, có khả năng tạo giá trị và có thể tiếp tục nâng cấp theo thời gian.
Trong quá trình này, FDI có thể đóng vai trò cầu nối quan trọng. Khi doanh nghiệp đầu chuỗi đặt ra yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng, tiến độ, quản trị và công nghệ, doanh nghiệp cung ứng trong nước có cơ hội tiếp cận những chuẩn mực cao hơn của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, cơ hội chỉ có thể chuyển thành năng lực khi doanh nghiệp Việt Nam chủ động đầu tư, đổi mới và đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của chuỗi.
Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giữa Bộ Công Thương, UBND tỉnh Bắc Ninh và Samsung Việt Nam là một ví dụ về cơ chế này. Trong giai đoạn 2020–2025, chương trình đã triển khai tư vấn cải tiến doanh nghiệp, phát triển nhà máy thông minh và đào tạo nguồn nhân lực tại Bắc Ninh. Tháng 7/2026, các bên tiếp tục ký biên bản ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026–2030, trong đó tiếp tục triển khai các chương trình tư vấn cải tiến, nhà máy thông minh, khuôn mẫu thông minh và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo Samsung, tính đến tháng 7/2026, trên phạm vi cả nước đã có 379 doanh nghiệp Việt Nam được hỗ trợ tư vấn cải tiến, 406 chuyên gia được đào tạo, cùng 82 doanh nghiệp được hỗ trợ tư vấn phát triển nhà máy thông minh. Những hoạt động này tập trung vào cải tiến quy trình sản xuất, nâng năng suất, chất lượng, năng lực quản trị và khả năng đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng.
Ý nghĩa của những chương trình như vậy không chỉ nằm ở kết quả của từng doanh nghiệp, mà còn ở khả năng hình thành một cơ chế liên kết trong đó yêu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi trở thành động lực để nhà cung cấp trong nước nâng cấp năng lực. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn, cơ hội tham gia chuỗi được mở rộng; khi tham gia sâu hơn, doanh nghiệp lại có thêm điều kiện tích lũy công nghệ, quản trị và kinh nghiệm thị trường.
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tham gia chuỗi chưa phải thước đo duy nhất. Điều quan trọng hơn là sau quá trình hợp tác, doanh nghiệp có tăng được năng lực thiết kế, kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, tự động hóa và đổi mới sản phẩm hay không. Chính năng lực tích lũy được mới quyết định doanh nghiệp có thể tiến lên những công đoạn có giá trị cao hơn.
IV. LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ: NỀN TẢNG ĐỂ TẠO VÀ GIỮ GIÁ TRỊ
Nếu vị trí trong chuỗi quyết định doanh nghiệp tham gia vào công đoạn nào thì năng lực công nghệ quyết định doanh nghiệp có thể đi xa đến đâu.
Đây là lý do yêu cầu nâng năng lực công nghệ ngày càng trở thành trọng tâm trong phát triển ngành điện tử, bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ. Thông báo số 481/TB-VPCP ngày 14/9/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam và một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử, bán dẫn đã xác định yêu cầu ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền trong các lĩnh vực bán dẫn, vi mạch, vật liệu điện tử và tự động hóa.
Làm chủ công nghệ không nhất thiết được hiểu là phải tự phát triển toàn bộ công nghệ từ đầu. Với một nền kinh tế đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, quá trình phù hợp hơn là từng bước tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến và tiến tới làm chủ những công nghệ có ý nghĩa đối với năng lực cạnh tranh.
Ở cấp độ đầu tiên, doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận và vận hành công nghệ. Ở cấp độ tiếp theo, doanh nghiệp có thể hiểu quy trình, điều chỉnh, cải tiến, kiểm soát chất lượng và nâng năng suất. Ở cấp độ cao hơn, doanh nghiệp có khả năng tham gia giải quyết bài toán kỹ thuật, thiết kế, phát triển sản phẩm và đổi mới công nghệ. Mỗi bước đi không chỉ tạo ra hiệu quả sản xuất trước mắt mà còn hình thành thêm một lớp năng lực cho tương lai.
Song hành với công nghệ là công nghiệp hỗ trợ. Ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035. Chương trình xác định công nghiệp hỗ trợ là nền tảng để xây dựng nền công nghiệp quốc gia theo hướng bền vững, tự chủ và hiện đại, đồng thời yêu cầu phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.
Đáng chú ý, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử đạt 25–30%, đồng thời tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực quản trị, nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Điều quan trọng ở đây là nội địa hóa không nên được hiểu đơn giản là thay thế càng nhiều đầu vào nhập khẩu càng tốt. Trong chuỗi sản xuất toàn cầu, nhập khẩu những linh kiện, vật liệu hay thiết bị mà Việt Nam chưa có lợi thế vẫn có thể là lựa chọn hợp lý. Vấn đề là phải xác định những mắt xích mà doanh nghiệp trong nước có khả năng phát triển, từ đó hình thành năng lực cung ứng có chất lượng và có thị trường.
Một sản phẩm linh kiện chỉ thực sự trở thành một mắt xích có ý nghĩa khi doanh nghiệp có thể đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, duy trì chất lượng ổn định, bảo đảm chi phí cạnh tranh và có khả năng mở rộng sản xuất. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp dẫn dắt và thị trường đầu ra, thay vì triển khai dàn trải.
Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chủ thể. Nhà nước tạo cơ chế, định hướng và chính sách hỗ trợ; doanh nghiệp Việt Nam chủ động đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng chuẩn quản trị; doanh nghiệp FDI mở rộng hệ sinh thái nhà cung cấp; còn các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực, tri thức và giải pháp công nghệ.
Khi những chủ thể này được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất, yêu cầu của thị trường có thể trở thành động lực đổi mới; công nghệ được chuyển hóa thành năng lực doanh nghiệp; còn năng lực doanh nghiệp được chuyển hóa thành sản phẩm, linh kiện và dịch vụ có giá trị cao hơn.
Đó là con đường để nâng giá trị tạo ra trong nước không phải bằng cách tách khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, mà bằng cách tham gia sâu hơn, chủ động hơn và có năng lực cao hơn trong chính chuỗi cung ứng đó.
V. Nâng giá trị nội địa cũng là nâng sức chống chịu
Biến động thương mại quốc tế cho thấy xuất khẩu ngày càng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thương mại, thuế quan, logistics, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và những thay đổi trong tổ chức chuỗi cung ứng. Thông báo 481/TB-VPCP cũng ghi nhận những biến động về cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại và thuế quan, cùng giá năng lượng và chi phí logistics đang tác động trực tiếp đến tăng trưởng và thương mại toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp điện tử không chỉ cần khả năng nhận đơn hàng và giao hàng mà còn phải có năng lực thích ứng khi điều kiện thị trường thay đổi. Đa dạng hóa thị trường, chủ động hơn về nguồn cung, tăng khả năng dự báo và nắm chắc các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và phòng vệ thương mại ngày càng trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Nhưng sâu xa hơn, sức chống chịu của xuất khẩu vẫn bắt đầu từ năng lực nội tại.
Một nền sản xuất có mạng lưới nhà cung cấp trong nước đủ mạnh, có doanh nghiệp sở hữu năng lực công nghệ, có nhân lực kỹ thuật và có khả năng kiểm soát nhiều hơn các khâu quan trọng sẽ có thêm phương án ứng phó khi chuỗi cung ứng bên ngoài biến động.
Bởi vậy, nâng giá trị nội địa và tăng sức chống chịu không phải hai mục tiêu tách rời. Khi doanh nghiệp Việt Nam có năng lực công nghệ và cung ứng tốt hơn, họ không chỉ tạo thêm giá trị mà còn có khả năng đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của thị trường, đa dạng hóa khách hàng và thích ứng linh hoạt hơn với những thay đổi của chuỗi.
Từ góc độ đó, xuất khẩu và nâng nội lực không phải hai hướng đi đối lập. Đơn hàng và thị trường tạo ra nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư; còn công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và năng lực cung ứng được nâng lên lại giúp doanh nghiệp có khả năng đáp ứng những đơn hàng có yêu cầu cao hơn.
VI. TỪ TĂNG KIM NGẠCH ĐẾN NÂNG VỊ TRÍ TRONG CHUỖI
Điện tử đang cho thấy một trong những tốc độ tăng trưởng nổi bật nhất trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam năm 2026. Chỉ sau tám tháng, kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đã đạt khoảng 100,5 tỷ USD, tăng 50,2% so với cùng kỳ. Quy mô này phản ánh rõ sức hút của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu.
Nhưng khi quy mô xuất khẩu đã lớn, yêu cầu về chất lượng tăng trưởng càng trở nên quan trọng.
Giai đoạn tiếp theo không thể chỉ được đo bằng việc Việt Nam xuất khẩu thêm bao nhiêu tỷ USD. Cần nhìn sâu hơn vào số doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi, những công đoạn mà doanh nghiệp trong nước đảm nhận, năng lực công nghệ được tích lũy, số sản phẩm và linh kiện có thể phát triển, cũng như phần giá trị được tạo ra và lưu giữ trong nền kinh tế.
Đó là sự chuyển dịch từ tăng lượng sang nâng chất; từ mở rộng sự hiện diện sang nâng vị trí; từ sử dụng công nghệ sang hấp thụ, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ.
Việt Nam không nhất thiết phải tự sản xuất mọi linh kiện hay thay thế toàn bộ doanh nghiệp nước ngoài. Điều quan trọng hơn là trong mỗi chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam có thêm những mắt xích mà mình có thể làm chủ, có khả năng tạo giá trị và có thể tiếp tục nâng cấp theo thời gian.
Khi đó, mỗi sản phẩm điện tử xuất khẩu không chỉ mang về một khoản kim ngạch, mà còn tạo ra cơ hội tích lũy công nghệ, phát triển doanh nghiệp, đào tạo nhân lực và mở rộng năng lực sản xuất trong nước.
Đích đến của ngành điện tử vì thế không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà là tạo ra nhiều giá trị hơn từ những gì Việt Nam xuất khẩu. Đó cũng là cách để Việt Nam từ một điểm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu từng bước trở thành một mắt xích có năng lực công nghệ, có doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh và có khả năng giữ lại nhiều hơn thành quả của quá trình phát triển.
ThS. Phạm Thị Ngọc Khánh



