06/09/2026 lúc 12:13 (GMT+7)
Breaking News

Gỡ điểm nghẽn quản lý, tạo dư địa mới cho phát triển khu công nghiệp và khoáng sản

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP ngày 4/9/2026 về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản không đơn thuần là điều chỉnh đầu mối quản lý. Đằng sau quyết định này là yêu cầu lớn hơn: bảo đảm bộ máy sau sắp xếp vận hành thông suốt, không để khoảng trống quản lý, đồng thời biến cải cách tổ chức thành động lực cải thiện môi trường đầu tư và khai thác hiệu quả nguồn lực quốc gia.

Trong quá trình tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước, việc một chức năng được chuyển từ bộ này sang bộ khác có thể tạo ra những khoảng trống nhất định nếu hệ thống pháp luật, hồ sơ, dữ liệu, quy trình và trách nhiệm chưa được kết nối đồng bộ. Với các lĩnh vực như khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản, vấn đề càng nhạy cảm bởi đây đều là những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đất đai, đầu tư, tài nguyên, môi trường, công nghiệp và nguồn thu ngân sách.

Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP vì vậy có ý nghĩa như một bước “khớp nối” thể chế trong quá trình tổ chức lại chức năng quản lý nhà nước, hướng tới mục tiêu quan trọng hơn là không để sự thay đổi về tổ chức làm gián đoạn hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Từ thay đổi đầu mối đến yêu cầu không để “đứt gãy” quản lý

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là việc chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản giữa các bộ: Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng. Với khu công nghiệp, một số nhiệm vụ quản lý nhà nước trước đây thuộc Bộ Tài chính được giao cho Bộ Công Thương thực hiện; đối với địa chất và khoáng sản, nhiều nhiệm vụ thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng được chuyển sang Bộ Công Thương.

Đây là thay đổi có tính chất tổ chức nhưng tác động trực tiếp đến thực tiễn quản lý. Bởi mỗi chức năng quản lý nhà nước không chỉ được thực hiện thông qua một cơ quan hay một văn bản, mà còn gắn với cả chuỗi quy trình: tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, cấp phép, kiểm tra, xử lý vi phạm, xác định nghĩa vụ tài chính, quản lý dữ liệu và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Nếu chỉ chuyển “tên cơ quan” mà không chuyển đồng bộ quy trình, dữ liệu, hồ sơ và trách nhiệm, nguy cơ phát sinh tình trạng doanh nghiệp phải đi lại, nộp lại hồ sơ hoặc chờ đợi do cơ quan cũ đã bàn giao nhưng cơ quan mới chưa đủ điều kiện tiếp nhận là hoàn toàn có thể xảy ra.

Chính vì vậy, điểm đáng ghi nhận trong Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP là Chính phủ không chỉ quy định về việc chuyển chức năng mà còn thiết lập các nguyên tắc xử lý chuyển tiếp. Những giấy phép, quyết định, văn bản chấp thuận, xác nhận và kết quả giải quyết đã được ban hành trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản tiếp tục có giá trị pháp lý cho đến khi hết thời hạn hoặc được điều chỉnh theo quy định. Đặc biệt, tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại thủ tục chỉ vì thay đổi cơ quan quản lý nhà nước.

Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng đối với cải cách hành chính: người dân và doanh nghiệp không phải gánh chi phí của quá trình tái cấu trúc bộ máy nhà nước.

Một nền hành chính hiện đại phải bảo đảm tính liên tục của quyền và nghĩa vụ pháp lý. Khi một cơ quan được tổ chức lại, trách nhiệm của Nhà nước đối với hồ sơ, giấy phép và các quyết định đã ban hành không thể “bắt đầu lại từ đầu”. Từ góc độ quản trị, đây chính là yêu cầu về tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường pháp lý.

Điểm này càng quan trọng trong lĩnh vực khoáng sản, nơi một dự án có thể kéo dài nhiều năm, liên quan đến đầu tư lớn, nghĩa vụ tài chính và hàng loạt thủ tục kỹ thuật. Nếu mỗi lần thay đổi cơ quan quản lý lại phát sinh yêu cầu xác nhận hoặc thẩm định lại, chi phí tuân thủ sẽ tăng lên, trong khi hiệu quả quản lý nhà nước chưa chắc được cải thiện.

Quản lý khoáng sản phải chuyển từ “quản lý thủ tục” sang quản trị nguồn lực

Khoáng sản là tài nguyên hữu hạn, không tái tạo và gắn với lợi ích lâu dài của quốc gia. Vì vậy, bài toán quản lý không chỉ nằm ở cấp phép khai thác mà còn bao gồm điều tra cơ bản địa chất, đánh giá trữ lượng, quy hoạch, cấp quyền khai thác, nghĩa vụ tài chính, kiểm soát sản lượng, bảo vệ môi trường và phục hồi sau khai thác.

Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định yêu cầu quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên khoáng sản gắn với phát triển công nghiệp khai khoáng theo hướng hiện đại.

Trong bối cảnh đó, việc quy tụ đầu mối quản lý một số chức năng về Bộ Công Thương có thể tạo điều kiện tăng tính liên kết giữa tài nguyên khoáng sản và phát triển công nghiệp. Nhưng để lợi thế này trở thành hiệu quả thực tế, điều quan trọng không phải là “đặt chức năng ở đâu”, mà là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan được thiết kế như thế nào.

Khoáng sản không thể được nhìn riêng như một lĩnh vực tài nguyên. Nó liên quan đến năng lượng, vật liệu xây dựng, luyện kim, hóa chất, công nghiệp chế biến, hạ tầng và an ninh nguyên liệu cho nền kinh tế.

Do đó, quản lý khoáng sản trong giai đoạn mới cần dịch chuyển từ tư duy “cấp phép để khai thác” sang tư duy “quản trị toàn bộ vòng đời tài nguyên”.

Một mỏ khoáng sản cần được nhìn nhận từ thời điểm điều tra, xác định tiềm năng, thăm dò, đánh giá trữ lượng, lựa chọn phương án khai thác, chế biến, tiêu thụ cho đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường. Mỗi khâu đều tạo ra dữ liệu và quyết định có ảnh hưởng đến khâu tiếp theo.

Nếu dữ liệu địa chất, dữ liệu cấp phép, dữ liệu sản lượng khai thác và dữ liệu nghĩa vụ tài chính không được tích hợp, cơ quan quản lý rất khó có được bức tranh đầy đủ về tài nguyên và hoạt động khai thác.

Nghị quyết mới vì vậy đặt ra một yêu cầu quản trị lớn hơn đối với cơ quan tiếp nhận chức năng: không chỉ tiếp nhận hồ sơ, mà phải tiếp nhận cả hệ thống dữ liệu, quy trình và trách nhiệm quản lý.

Đáng chú ý, đối với hồ sơ thủ tục hành chính đang được giải quyết, Nghị quyết quy định hồ sơ đã tiếp nhận hợp lệ được chuyển nguyên trạng sang Bộ Công Thương, Sở Công Thương để tiếp tục xử lý; tổ chức, cá nhân không phải nộp lại hồ sơ, không phải thực hiện lại những công việc đã hoàn thành và không phải nộp lại phí, lệ phí đã nộp. Thời hạn giải quyết cũng không được tính lại từ đầu.

Những quy định này cho thấy một tư duy quản lý đáng chú ý: tính liên tục của quy trình phải được đặt cao hơn ranh giới tổ chức.

Đây cũng là bài học có thể mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác trong quá trình sắp xếp bộ máy hiện nay. Cải cách tổ chức chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân và doanh nghiệp cảm nhận được một nền hành chính đơn giản hơn, nhanh hơn và rõ trách nhiệm hơn.

Khu công nghiệp: Cần một đầu mối mạnh hơn và một cơ chế phối hợp rõ hơn

Đối với khu công nghiệp, yêu cầu quản lý cũng đang thay đổi nhanh chóng. Khu công nghiệp ngày nay không chỉ là nơi tập trung nhà máy. Đó là một hệ sinh thái sản xuất, logistics, năng lượng, hạ tầng, nhà ở công nhân, dịch vụ và đổi mới công nghệ. Chất lượng quản lý khu công nghiệp vì thế tác động trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư, đặc biệt là dòng vốn FDI có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Việc chuyển một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp từ Bộ Tài chính sang Bộ Công Thương có thể tạo điều kiện tăng sự gắn kết giữa chính sách khu công nghiệp với phát triển công nghiệp, chuỗi cung ứng và năng lực sản xuất trong nước. Nghị quyết đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thực hiện các nhiệm vụ được chuyển giao.

Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm cần tránh một cách hiểu đơn giản rằng “một đầu mối mới” đồng nghĩa với “quản lý tốt hơn”.

Thực tế, một dự án khu công nghiệp liên quan đồng thời đến quy hoạch, đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, giao thông, năng lượng và lao động. Không một cơ quan đơn lẻ nào có thể giải quyết toàn bộ chuỗi vấn đề.

Do đó, cải cách quản lý khu công nghiệp cần đi theo hai hướng song song.

Thứ nhất, rõ đầu mối chịu trách nhiệm. Doanh nghiệp phải biết cơ quan nào chịu trách nhiệm chính đối với từng nhóm thủ tục, thời hạn giải quyết ra sao và cơ chế phối hợp được thực hiện thế nào.

Thứ hai, liên thông trách nhiệm giữa các cơ quan. Việc một hồ sơ liên quan đến nhiều lĩnh vực không nên trở thành lý do để doanh nghiệp phải tự mình “đi qua” từng cơ quan. Nhà nước cần chuyển từ cơ chế phối hợp mang tính thủ công sang phối hợp trên nền tảng dữ liệu số.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đang hướng tới mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp công nghệ cao và các trung tâm sản xuất có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường vẫn vận hành theo những “đường ray” riêng biệt, tốc độ giải quyết dự án sẽ khó đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.

Ngược lại, nếu dữ liệu được dùng chung, hồ sơ được số hóa và trách nhiệm được định danh rõ, việc tổ chức lại đầu mối quản lý có thể trở thành cơ hội để thiết kế lại toàn bộ quy trình theo hướng tinh gọn hơn.

Không để cải cách tổ chức trở thành “chi phí chuyển giao”

Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2026 đến hết ngày 28/2/2027; trường hợp Nghị quyết số 206/2025/QH15 được gia hạn thì thời hạn thực hiện cũng được điều chỉnh tương ứng.

Khoảng thời gian này cần được nhìn nhận không chỉ như một giai đoạn “xử lý chuyển tiếp”, mà còn là khoảng thời gian để kiểm nghiệm mô hình quản lý mới.

Có thể xem đây là một phép thử đối với năng lực quản trị nhà nước sau sắp xếp bộ máy.

Phép thử thứ nhất là tính liên tục: hồ sơ có được chuyển giao đầy đủ không, người dân và doanh nghiệp có phải làm lại thủ tục không?

Phép thử thứ hai là tính rõ trách nhiệm: khi phát sinh vướng mắc, doanh nghiệp có biết tìm đến cơ quan nào không?

Phép thử thứ ba là tính hiệu quả: thời gian giải quyết thủ tục có giảm không, chi phí tuân thủ có giảm không?

Và phép thử quan trọng nhất là chất lượng quản lý nguồn lực: khoáng sản có được quản lý chặt chẽ hơn, khu công nghiệp có được phát triển hiệu quả hơn và các dự án đầu tư có được triển khai nhanh hơn hay không?

Nếu trả lời được bốn câu hỏi này, việc sắp xếp lại chức năng quản lý sẽ không chỉ là câu chuyện về cơ cấu tổ chức, mà trở thành một bước cải cách thực chất.

Ở chiều ngược lại, nếu sau chuyển giao vẫn tồn tại tình trạng hồ sơ chậm xử lý, dữ liệu phân tán, trách nhiệm chồng lấn hoặc doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ chỉ vì thay đổi cơ quan tiếp nhận, thì mục tiêu cải cách sẽ chưa đạt được.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết đã đặt ra nguyên tắc rất rõ: các kết quả kiểm tra, thẩm định, ý kiến của cơ quan, chuyên gia, biên bản hội đồng, kết quả xác định nghĩa vụ tài chính và các bước xử lý đã hoàn thành phải được kế thừa; không được yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ chỉ vì thay đổi tên bộ, cơ quan tiếp nhận, cơ quan thẩm định hoặc người có thẩm quyền.

Đây có thể trở thành một chuẩn mực quan trọng trong cải cách hành chính: thay đổi cơ quan không đồng nghĩa với thay đổi quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Về dài hạn, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một mô hình quản trị trong đó cơ cấu tổ chức có thể thay đổi nhưng dữ liệu, quy trình và trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp vẫn được duy trì liên tục. Đó mới là thước đo thực chất của một nền hành chính hiện đại.

Từ “gỡ vướng” đến kiến tạo năng lực quản trị

Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP ra đời trong một bối cảnh rộng hơn: Việt Nam đang đồng thời tổ chức lại bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và tạo lập môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, xử lý vướng mắc về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản không nên dừng lại ở việc “chữa cháy” cho những bất cập phát sinh từ quá trình chuyển giao.

Mục tiêu lớn hơn phải là hình thành năng lực quản trị mới.

Đối với khu công nghiệp, đó là năng lực quản lý theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái sản xuất.

Đối với khoáng sản, đó là năng lực quản trị tài nguyên dựa trên dữ liệu, xuyên suốt vòng đời khai thác.

Đối với bộ máy hành chính, đó là năng lực vận hành liên thông, trong đó người dân và doanh nghiệp không phải gánh chịu những chi phí phát sinh từ sự thay đổi bên trong Nhà nước.

Nếu làm được như vậy, việc chuyển giao chức năng quản lý giữa các bộ không chỉ giải quyết những “điểm nghẽn” trước mắt mà còn tạo tiền đề để chuyển từ quản lý theo đầu mối sang quản trị theo kết quả.

Đây chính là giá trị sâu xa nhất của cải cách tổ chức bộ máy: không phải Nhà nước có bao nhiêu cơ quan, mà là Nhà nước giải quyết công việc nhanh đến đâu, chịu trách nhiệm rõ đến đâu và tạo ra giá trị phát triển lớn đến đâu cho nền kinh tế.

Trong quản lý khu công nghiệp và tài nguyên khoáng sản, yêu cầu ấy càng rõ ràng. Một bên là không gian sản xuất và thu hút đầu tư; một bên là nguồn lực hữu hạn của quốc gia. Cả hai đều đòi hỏi một nền quản trị đủ mạnh để vừa tạo thuận lợi cho phát triển, vừa bảo đảm kỷ cương, hiệu quả và lợi ích lâu dài.

Vì vậy, Nghị quyết 66.25/2026/NQ-CP có thể được nhìn nhận như một bước xử lý chuyển tiếp, nhưng giá trị của nó sẽ được quyết định bởi giai đoạn sau đó: các cơ quan quản lý có biến sự thay đổi về tổ chức thành sự thay đổi về chất lượng phục vụ và hiệu quả quản trị hay không.

Đó cũng là bài toán lớn hơn của cải cách hành chính trong giai đoạn phát triển mới: tinh gọn bộ máy phải đi cùng thông suốt thể chế; phân công lại chức năng phải đi cùng rõ trách nhiệm; và chuyển giao nhiệm vụ phải đi cùng chuyển giao đầy đủ dữ liệu, nguồn lực và năng lực thực thi.

ThS Đoàn Công Tước

Viện Bảo tồn và Phát triển văn hóa làng xã Thanh Khê

_________________________________________

Tài liệu tham khảo

  1. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP ngày 04/9/2026 về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản.
  2. Chính phủ (2022), Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, được sửa đổi, bổ sung qua các văn bản liên quan.
  3. Quốc hội (2024), Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 147/2025/QH15.
  4. Chính phủ (2025), Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP.
  5. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 334/QĐ-TTg ngày 01/4/2023 phê duyệt Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 680/QĐ-TTg ngày 10/6/2023 phê duyệt Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản.