29/09/2026 lúc 10:22 (GMT+7)
Breaking News

Giảm thuế – Thêm dư địa cho sản xuất, kinh doanh và tích lũy nguồn lực

Trong tiến trình hoàn thiện chính sách thuế, mỗi điều chỉnh về nghĩa vụ tài chính đều đặt trong yêu cầu hài hòa giữa nguồn lực ngân sách và động lực phát triển. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm 30% thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2026 và 2027 tiếp cận vấn đề từ cả hai phía: xác định đúng phạm vi hỗ trợ và tạo điều kiện để nguồn lực được giữ lại tiếp tục vận động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

I. GIẢM THUẾ – TẠO THÊM DƯ ĐỊA CHO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH

Thuế trước hết là nguồn lực bảo đảm cho ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, trong điều hành kinh tế, thuế còn là một công cụ tài khóa có khả năng tác động đến quyết định sản xuất, kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng và tích lũy. Vì vậy, điều chỉnh nghĩa vụ thuế trong những thời điểm nhất định không chỉ được nhìn ở số thu ngân sách giảm đi, mà còn ở lượng nguồn lực được duy trì trong khu vực sản xuất, kinh doanh.

Nghị quyết số 43/2026/QH16 của Quốc hội, được thông qua ngày 24/8/2026 và có hiệu lực từ cùng ngày, áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027. Theo đó, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp; doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Chính phủ được giao quy định chi tiết việc thực hiện.

Chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng tạo thêm dư địa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tích lũy nguồn lực.

Dự thảo Nghị định do Bộ Tài chính xây dựng tiếp tục cụ thể hóa các nội dung này, từ phạm vi đối tượng, cách xác định doanh thu đến phương thức kê khai và xử lý khi kết quả kinh doanh thực tế thay đổi. Điểm đáng chú ý là mức giảm được xác định trên số thuế phải nộp, thay vì một khoản hỗ trợ có giá trị cố định. Qua đó, chính sách tạo thêm một khoảng không tài chính tương ứng với nghĩa vụ thuế thực tế của từng chủ thể.

Có thể hình dung, một doanh nghiệp thuộc diện áp dụng có số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 500 triệu đồng thì phần thuế được giảm là 150 triệu đồng. Khoản nguồn lực này có thể được doanh nghiệp sử dụng cho vốn lưu động, bổ sung hàng hóa, đầu tư thiết bị, cải tiến quy trình hoặc những nhu cầu khác phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, giảm thuế không đồng nghĩa với việc nguồn lực được giữ lại sẽ tự động chuyển thành đầu tư. Quyết định sử dụng khoản nguồn lực này còn phụ thuộc vào nhu cầu thị trường, khả năng quản trị, tình hình tài chính và định hướng phát triển của từng doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Vì vậy, tác động của chính sách cần được nhìn nhận trước hết ở việc mở rộng thêm khả năng chủ động phân bổ nguồn lực cho người nộp thuế.

Ở góc độ chính sách tài khóa, đây là sự cân đối giữa mục tiêu trước mắt và yêu cầu phát triển dài hơn. Nhà nước giảm một phần nguồn thu trong thời hạn xác định, trong khi khu vực sản xuất, kinh doanh có thêm điều kiện duy trì dòng tiền, củng cố hoạt động và lựa chọn phương án sử dụng nguồn lực phù hợp. Hiệu quả của chính sách vì thế không chỉ nằm ở tỷ lệ 30%, mà ở khả năng phần nguồn lực được giữ lại tiếp tục được đưa vào chu trình sản xuất, kinh doanh và tạo giá trị.

II. THIẾT KẾ CHÍNH SÁCH: RÕ ĐỐI TƯỢNG, MINH BẠCH TIÊU CHÍ

Nếu mức giảm 30% là yếu tố dễ nhận diện nhất, thì cách xác định đối tượng và điều kiện áp dụng mới tạo nên nền tảng để chính sách được thực hiện thống nhất.

Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, dự thảo áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm 2026 hoặc năm 2027 không quá 10 tỷ đồng. Số thuế thu nhập cá nhân được giảm được tính trên toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh theo phạm vi quy định, không phân biệt phương pháp tính thuế. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, nhóm được áp dụng gồm doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp, tổ chức thành lập theo Luật Hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác được thành lập theo pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

Việc lựa chọn doanh thu không quá 10 tỷ đồng làm tiêu chí nhận diện tạo ra một ranh giới tương đối rõ để xác định phạm vi của chính sách. Trong quản lý thuế, một tiêu chí có khả năng kiểm chứng và có thể áp dụng thống nhất có ý nghĩa quan trọng, bởi chính sách càng được triển khai trên diện rộng thì yêu cầu về tính minh bạch và khả năng thực hiện càng cao.

Tuy nhiên, doanh thu không đồng nhất với lợi nhuận. Hai doanh nghiệp cùng có doanh thu 8 tỷ đồng có thể có cơ cấu chi phí, lợi nhuận và nhu cầu vốn hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt này càng rõ giữa các ngành nghề có chu kỳ kinh doanh và đặc điểm chi phí khác nhau. Do đó, ngưỡng 10 tỷ đồng nên được hiểu là tiêu chí xác định phạm vi của một chính sách hỗ trợ có thời hạn, không phải thước đo toàn diện về quy mô hay hiệu quả của từng chủ thể kinh doanh.

Cách tính mức giảm trên số thuế phải nộp cũng tạo ra một mối liên hệ trực tiếp giữa nghĩa vụ tài chính và mức hỗ trợ. Với cùng tỷ lệ 30%, số tiền thuế được giảm ở mỗi trường hợp sẽ khác nhau tùy thuộc số thuế phải nộp. Đối với doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế theo quy định khác, mức giảm 30% được tính trên số thuế phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi. Cách xác định này giúp làm rõ thứ tự áp dụng giữa các chính sách và hạn chế cách hiểu khác nhau trong thực tế.

Dự thảo đồng thời lưu ý tới trường hợp doanh nghiệp được hình thành từ việc chia, tách sau khi Nghị quyết có hiệu lực. Nếu tổng doanh thu hằng năm của các doanh nghiệp sau chia, tách vượt 10 tỷ đồng thì không thuộc diện giảm thuế. Quy định này cho thấy tiêu chí doanh thu được đặt trong mối quan hệ với thực chất hoạt động của doanh nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào sự thay đổi về hình thức pháp lý.

Như vậy, cấu trúc chính sách được hình thành trên ba yếu tố cơ bản: đối tượng áp dụng, ngưỡng doanh thu và tỷ lệ giảm. Sự rõ ràng của ba yếu tố này có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thực hiện chính sách, đồng thời tạo cơ sở để người nộp thuế chủ động xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

III. TỪ GIẢM THUẾ ĐẾN THÊM DƯ ĐỊA CHO TÍCH LŨY VÀ TÁI ĐẦU TƯ

Giá trị kinh tế của một chính sách giảm thuế không chỉ nằm ở khoản nghĩa vụ được giảm trong kỳ tính thuế, mà còn ở cách nguồn lực ấy tiếp tục được sử dụng sau khi được giữ lại.

Đối với doanh nghiệp, dòng tiền là một bộ phận quan trọng của quá trình duy trì hoạt động. Doanh thu phải được phân bổ cho nguyên vật liệu, tiền lương, hàng tồn kho, chi phí vận hành, các khoản phải trả và nhu cầu đầu tư. Vì vậy, việc giữ lại thêm một phần nguồn lực sau nghĩa vụ thuế có thể tạo ra một khoảng chủ động nhất định trong quản trị tài chính.

Khoản nguồn lực được giữ lại có nhiều khả năng sử dụng. Một doanh nghiệp sản xuất có thể dành nguồn lực cho thay thế thiết bị, cải tiến dây chuyền hoặc nâng cấp công nghệ. Doanh nghiệp dịch vụ có thể đầu tư vào nhân lực, hệ thống quản trị và phát triển thị trường. Hộ kinh doanh có thể bổ sung vốn hàng hóa, cải thiện cơ sở vật chất hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Ở đây có thể thấy một chuỗi vận động tương đối rõ: nguồn lực được giữ lại – duy trì dòng tiền – tích lũy – tái đầu tư – nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh. Nếu quá trình này diễn ra hiệu quả, tác động của chính sách có thể vượt ra ngoài giá trị danh nghĩa của khoản thuế được giảm trong từng kỳ.

Tuy nhiên, không nên đồng nhất khả năng với kết quả. Một phần nguồn lực được giữ lại có thể được sử dụng để trả nợ, bổ sung vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu trước mắt. Quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào sức mua, chi phí đầu vào, khả năng tiếp cận vốn, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ và triển vọng thị trường. Vì vậy, giảm thuế nên được nhìn nhận như một yếu tố mở rộng khả năng lựa chọn của chủ thể kinh doanh, hơn là một cơ chế tự động tạo ra đầu tư.

Kinh nghiệm chính sách cũng cho thấy công cụ giảm thuế từng được sử dụng trong nhiều giai đoạn với những mục tiêu và điều kiện khác nhau. Năm 2012, Quốc hội từng quyết định giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với một số nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số đối tượng khác; năm 2021, chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp tiếp tục được áp dụng trong khuôn khổ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19. Các chính sách này có phạm vi và điều kiện không giống chính sách năm 2026–2027, nhưng cho thấy giảm thuế đã được sử dụng như một công cụ tài khóa trong những hoàn cảnh kinh tế cụ thể.

Điểm cần quan tâm vì vậy là hiệu ứng phân bổ nguồn lực sau giảm thuế. Khi một phần nghĩa vụ được giảm, nguồn lực được giữ lại có thể tiếp tục vận động trong nền kinh tế. Nếu được sử dụng cho đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất hoặc mở rộng hoạt động, nguồn lực này có khả năng góp phần củng cố năng lực sản xuất trong những kỳ tiếp theo.

Với khu vực kinh doanh có quy mô doanh thu không quá lớn, quá trình tích lũy càng có ý nghĩa. Khả năng hình thành nguồn vốn nội bộ để tái đầu tư là một trong những điều kiện giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh từng bước nâng cao năng lực. Chính sách thuế, trong trường hợp này, không thay thế các chính sách về tín dụng, thị trường hay công nghệ, nhưng có thể tạo thêm một phần nguồn lực để các chủ thể chủ động hơn trong quá trình vận hành.

Từ góc độ đó, hiệu quả của giảm thuế cần được nhìn trong mối liên hệ với môi trường kinh doanh nói chung. Một khoản thuế được giảm chỉ thực sự phát huy đầy đủ ý nghĩa kinh tế khi nguồn lực được giữ lại có điều kiện chuyển hóa thành vốn, công nghệ, năng suất và năng lực thị trường. Đây cũng là lý do khâu tổ chức thực hiện có vị trí quan trọng trong toàn bộ chính sách.

IV. ĐỂ CHÍNH SÁCH ĐI VÀO THỰC TIỄN: RÕ ĐIỀU KIỆN, CHỦ ĐỘNG KÊ KHAI

Một chính sách có phạm vi tương đối rộng cần đi cùng một cơ chế thực hiện đủ rõ để người nộp thuế có thể chủ động xác định quyền lợi, đồng thời cơ quan quản lý có cơ sở kiểm tra và điều chỉnh khi cần thiết.

Theo dự thảo, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dự kiến doanh thu trong năm 2026 hoặc 2027 không quá 10 tỷ đồng thì thực hiện kê khai giảm thuế theo quy định. Đối với doanh nghiệp, người nộp thuế dự kiến doanh thu không quá 10 tỷ đồng được tự xác định số thuế được giảm khi tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào nguyên tắc tự khai, tự xác định nghĩa vụ, phù hợp với phương thức quản lý thuế hiện hành.

Điểm đáng chú ý là quyền hưởng chính sách được gắn với kết quả kinh doanh thực tế. Nếu tổng doanh thu thực tế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vượt 10 tỷ đồng, điều kiện giảm thuế không còn được đáp ứng và số thuế đã giảm phải được xác định lại, kê khai điều chỉnh và nộp bổ sung theo quy định. Đối với doanh nghiệp, trường hợp doanh thu thực tế vượt mức quy định cũng phải xác định lại nghĩa vụ thuế.

Cơ chế này có ý nghĩa thực tiễn bởi doanh thu của một chủ thể kinh doanh không phải lúc nào cũng có thể xác định chính xác ngay từ đầu kỳ. Thị trường, tính mùa vụ, tiến độ hợp đồng và nhiều yếu tố khác có thể làm thay đổi kết quả cuối cùng. Việc cho phép dự kiến điều kiện áp dụng nhưng đồng thời yêu cầu xác định lại trên cơ sở doanh thu thực tế tạo ra sự linh hoạt cần thiết mà vẫn giữ nguyên nguyên tắc chính sách chỉ áp dụng khi đủ điều kiện.

Đối với doanh nghiệp, dự thảo cũng xử lý một số trường hợp đặc thù như doanh nghiệp có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh; doanh nghiệp có kỳ tính thuế ngắn do thành lập mới hoặc thực hiện chuyển đổi, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản. Doanh thu của đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh được tính vào doanh thu trong kỳ tính thuế theo quy định; với một số kỳ tính thuế ngắn, doanh thu và số thuế được giảm được xác định trên cơ sở 12 tháng theo quy định của dự thảo.

Việc dự thảo quy định tương đối cụ thể các tình huống này có ý nghĩa ở chỗ hạn chế khoảng trống trong thực hiện. Chính sách thuế càng có nhiều đối tượng áp dụng thì càng cần một cách xác định thống nhất, bởi sự khác biệt trong cách hiểu có thể ảnh hưởng trực tiếp tới nghĩa vụ của người nộp thuế và hiệu quả quản lý.

Ở bình diện rộng hơn, cơ chế thực hiện cho thấy yêu cầu của quản lý thuế hiện đại không nằm ở việc tạo thêm thủ tục, mà ở khả năng kết nối giữa tính chủ động của người nộp thuế và năng lực kiểm tra, đối chiếu của cơ quan quản lý. Người nộp thuế được tạo điều kiện tự xác định quyền lợi nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ; cơ quan quản lý có cơ sở xử lý khi kết quả thực tế khác với dự kiến.

Đây cũng là điểm nối giữa chính sách hỗ trợ và kỷ luật tài khóa. Giảm thuế tạo thêm dư địa cho sản xuất, kinh doanh, nhưng việc hưởng chính sách vẫn phải đặt trong khuôn khổ các tiêu chí được xác định rõ. Khi quyền lợi và trách nhiệm được thiết kế song hành, chính sách có thêm điều kiện để được thực hiện thống nhất, hạn chế phát sinh cách hiểu khác nhau và giảm chi phí tuân thủ không cần thiết.

Giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong các kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 là một giải pháp tài khóa có phạm vi và thời hạn xác định. Ý nghĩa của chính sách không chỉ nằm ở phần nghĩa vụ tài chính được giảm, mà còn ở khả năng tạo thêm dư địa để nguồn lực tiếp tục được duy trì và phân bổ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Việc lựa chọn doanh thu không quá 10 tỷ đồng, áp dụng tỷ lệ giảm 30% trên số thuế phải nộp và thiết lập cơ chế xác định lại theo kết quả thực tế tạo nên một cấu trúc tương đối rõ giữa quyền lợi, điều kiện và trách nhiệm của người nộp thuế. Dự thảo Nghị định vì vậy không chỉ cụ thể hóa mức giảm, mà còn đặt ra cơ chế để chính sách có thể vận hành thống nhất trong những tình huống kinh doanh khác nhau.

Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng của giảm thuế không thể chỉ được đo bằng số thuế được giảm. Điều quan trọng hơn là phần nguồn lực được giữ lại có được chuyển hóa thành vốn, công nghệ, năng suất, việc làm và năng lực sản xuất mới hay không. Điều đó phụ thuộc không chỉ vào chính sách thuế mà còn vào sức mua của thị trường, khả năng tiếp cận vốn, chất lượng nhân lực, năng lực quản trị và sự đồng bộ của môi trường kinh doanh.

Theo nghĩa đó, chính sách giảm thuế trong năm 2026 và 2027 có thể được nhìn nhận như một bước tạo thêm không gian tài chính cho khu vực sản xuất, kinh doanh trong một giai đoạn nhất định. Khi được thực hiện minh bạch, đúng đối tượng và gắn với trách nhiệm kê khai, nguồn lực được giữ lại sẽ có thêm điều kiện tiếp tục vận động trong nền kinh tế. Từ hỗ trợ trong ngắn hạn đến tích lũy và phát triển trong dài hạn, giá trị của chính sách vì thế nằm ở khả năng tạo ra một khoảng dư địa đủ để các chủ thể kinh doanh chủ động củng cố năng lực, thích ứng với thị trường và tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển chung./.

ThS. Phạm Thanh Phong