10/01/2026 lúc 16:49 (GMT+7)
Breaking News

Đổi mới chuẩn nghèo theo hướng đa chiều, số hóa: Yêu cầu tất yếu cho giảm nghèo bền vững giai đoạn mới

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam chuyển dịch nhanh dưới tác động của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và chuyển đổi số, giảm nghèo không còn là bài toán hỗ trợ đơn thuần mà đã trở thành vấn đề chiến lược của quản trị an sinh xã hội. Giai đoạn 2021-2025 đã chứng kiến những thành tựu ấn tượng trong việc giảm tỷ lệ nghèo đa chiều, song cũng bộc lộ những thách thức về tính bền vững và sự chênh lệch vùng miền. Hướng tới giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đang tập trung xây dựng chuẩn nghèo mới kết hợp quản lý số để hiện thực hóa mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chiều 26/12, tại Hà Nội, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo tổ chức Hội thảo công bố kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025, đồng thời thảo luận định hướng xây dựng chuẩn nghèo mới kết hợp quản lý số cho giai đoạn 2026–2030.

Quang cảnh Hội thảo

Những bước chuyển mình ấn tượng giai đoạn 2021 – 2025

Theo báo cáo, việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tiếp cận nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang tiếp cận toàn diện hơn, kết hợp giữa thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Cách tiếp cận này đã góp phần nâng cao độ chính xác trong xác định đối tượng thụ hưởng, tăng tính minh bạch trong phân bổ nguồn lực và hỗ trợ thiết kế chính sách giảm nghèo theo hướng bao trùm, bền vững hơn.

Phát biểu tại Hội thảo, bà Nguyễn Lệ Hoa, đại diện Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đến năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đa chiều trên cả nước giảm còn khoảng 4,06% dân số; nhiều địa phương đạt và vượt chỉ tiêu giảm nghèo do Thủ tướng Chính phủ giao. Đáng chú ý, tại các huyện nghèo và các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo, tốc độ giảm nghèo bình quân cao hơn mức chung, phản ánh hiệu quả của việc ưu tiên nguồn lực cho những địa bàn khó khăn nhất.

Cùng với đó, công tác chỉ đạo, điều hành và hoàn thiện thể chế có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống văn bản hướng dẫn Chương trình được ban hành tương đối đầy đủ, cơ chế phân cấp, phân quyền ngày càng rõ ràng, giúp địa phương chủ động lựa chọn mô hình hỗ trợ phù hợp. Việc kịp thời điều chỉnh các quy định về quản lý, tài chính đã góp phần tháo gỡ vướng mắc, cải thiện tiến độ giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, đồng thời tín dụng chính sách xã hội trở thành kênh hỗ trợ sinh kế quan trọng cho hộ nghèo và cận nghèo. Đến giữa năm 2025, dư nợ tín dụng chính sách đạt trên 389 nghìn tỷ đồng, với hơn 10 triệu lượt hộ vay, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và hạn chế nguy cơ tái nghèo. Cơ cấu phân bổ vốn cũng có sự chuyển dịch tích cực, từ tập trung vào hạ tầng sang tăng cường các hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và nâng cao năng lực tự chủ của người dân.

Những hạn chế mang tính cơ cấu cần sớm khắc phục

Bên cạnh các kết quả đạt được, Báo cáo cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế mang tính cơ cấu. Việc triển khai còn dàn trải ở một số địa phương; lồng ghép nguồn lực giữa các chương trình mục tiêu quốc gia chưa thực sự hiệu quả, vẫn còn tình trạng trùng lặp hoặc bỏ sót đối tượng. Năng lực tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; công tác theo dõi, giám sát và đánh giá chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính, chưa phản ánh đầy đủ tác động thực chất đến đời sống người dân.

Kết quả khảo sát hộ cho thấy, mặc dù mức sống và thu nhập của hộ nghèo, cận nghèo có cải thiện trong giai đoạn 2021-2025, song tình trạng nghèo đa chiều và nguy cơ tái nghèo vẫn còn phổ biến, với sự khác biệt rõ nét giữa các vùng và nhóm đối tượng. Các kết quả khảo sát chỉ ra rằng thiếu vốn và khó khăn trong tiếp cận tín dụng tiếp tục là nguyên nhân chính khiến hộ vẫn gặp khó khăn tại hầu hết các vùng, đặc biệt tại Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; trong khi đó, thiếu đất sản xuất lại là vấn đề đáng chú ý tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, gắn với quá trình đô thị hóa và thu hẹp quỹ đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, kết quả đánh giá thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản cho thấy, mặc dù tỷ lệ tiếp cận bảo hiểm y tế tương đối cao, chi phí khám chữa bệnh ngoài bảo hiểm và chi phí gián tiếp vẫn tạo áp lực lớn đối với ngân sách hộ, thể hiện qua tỷ lệ hộ phải vay mượn để chi trả y tế còn ở mức đáng kể, nhất là tại Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung.

Phân tích cơ cấu thu nhập và chi tiêu cũng cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các vùng, trong đó các vùng khó khăn như Trung du và miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ – Duyên hải miền Trung có tổng thu và tổng chi tiêu thấp hơn nhiều so với các vùng phát triển hơn, phản ánh hạn chế về cơ hội sinh kế và khả năng tích lũy của hộ nghèo. Đáng chú ý, kết quả khảo sát còn chỉ ra sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc, khi hộ dân tộc thiểu số gặp khó khăn nhiều hơn về đất sản xuất, lao động và rủi ro sức khỏe, trong khi hộ người Kinh chủ yếu đối mặt với hạn chế về vốn, kỹ năng và phương tiện sản xuất, cho thấy các chính sách giảm nghèo cần tính đến nhu cầu đặc thù của từng nhóm đối tượng.

Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cần điều chỉnh cách tiếp cận chính sách trong giai đoạn tới theo hướng giảm nghèo đa chiều thực chất, phân hóa theo vùng và nhóm dân cư, đồng thời tăng cường liên kết, tích hợp các can thiệp về sinh kế, tín dụng, dịch vụ xã hội cơ bản và quản lý rủi ro trong một khuôn khổ chương trình thống nhất.

Đổi mới chuẩn nghèo theo hướng đa chiều, số hóa: Yêu cầu tất yếu cho giảm nghèo bền vững giai đoạn mới

Hướng tới chuẩn nghèo linh hoạt và quản trị số

Từ các kết quả nghiên cứu và đánh giá thực tiễn, báo cáo kiến nghị xây dựng chuẩn nghèo đa chiều linh hoạt, có khả năng điều chỉnh theo vùng và theo biến động kinh tế – xã hội; thí điểm chuẩn nghèo mới kết hợp quản lý số tại một số địa phương trước khi triển khai trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường phối hợp liên ngành và coi dữ liệu nghèo là một dạng hạ tầng thiết yếu cho quản trị an sinh xã hội hiện đại.

Báo cáo cũng đề xuất định hướng thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2026–2030 theo chủ trương tích hợp ba Chương trình mục tiêu quốc gia (giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi), nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổng hợp. Kết quả khảo sát cho thấy, khả năng thoát nghèo bền vững phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố “tạo năng lực” như việc làm ổn định, tiếp cận tín dụng chính sách và tham gia các mô hình sinh kế gắn với thị trường, thay vì các hỗ trợ ngắn hạn.

Trên cơ sở đó, chính sách giảm nghèo giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ “hỗ trợ theo đối tượng” sang “hỗ trợ theo nhu cầu và mức độ thiếu hụt”, tích hợp chặt chẽ các can thiệp về sinh kế, tín dụng, đào tạo nghề, hạ tầng thiết yếu và dịch vụ xã hội cơ bản; đồng thời tăng cường phân cấp cho địa phương lựa chọn mô hình phù hợp, gắn phân bổ nguồn lực với kết quả giảm nghèo thực chất và khả năng chống chịu của hộ gia đình trước các cú sốc kinh tế, xã hội và môi trường.

Việc thiết kế và triển khai Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2026–2030 theo hướng tích hợp, đồng bộ và lấy người dân làm trung tâm sẽ là điều kiện quan trọng để duy trì thành quả giảm nghèo, nâng cao chất lượng sống của người nghèo và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Thu Lương