27/08/2026 lúc 18:08 (GMT+7)
Breaking News

Công nghiệp xanh – nền tảng nâng chất lượng tăng trưởng Phú Thọ

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng chuyển từ cuộc đua về quỹ đất, chi phí và ưu đãi sang cuộc đua về công nghệ, năng lượng, môi trường và chất lượng chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp xanh đang trở thành một lựa chọn chiến lược của Phú Thọ. Từ việc nâng chuẩn hạ tầng khu công nghiệp, sàng lọc dòng vốn đến thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, “xanh hóa” công nghiệp đang mở ra một hướng tiếp cận mới: không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, mà tạo dựng năng lực tăng trưởng có chất lượng, có sức chống chịu và giá trị gia tăng cao.

Ảnh minh họa - TL

Từ mở rộng quy mô sang nâng chất lượng tăng trưởng

Công nghiệp từ lâu đã giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế Phú Thọ. Năm 2025, khu vực công nghiệp tăng 15,4%, đóng góp 55,4% cơ cấu kinh tế; GRDP toàn tỉnh tăng 10,52%. Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP tiếp tục tăng 10,18%, trong khi thu hút vốn FDI đạt khoảng 1,32 tỷ USD. Những con số này cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của địa phương đối với dòng vốn sản xuất, chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng cao là một câu hỏi có ý nghĩa dài hạn: Phú Thọ sẽ tăng trưởng bằng cách nào trong một giai đoạn mà các tiêu chuẩn xanh đang ngày càng trở thành điều kiện của thị trường?

Câu trả lời không chỉ nằm ở việc tiếp tục mở rộng số lượng khu công nghiệp hay thu hút thêm dự án FDI, mà phải chuyển sang một mô hình phát triển mới, trong đó hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, đất đai, nước và khả năng kiểm soát phát thải trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh.

Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa “tăng trưởng công nghiệp” và “tăng trưởng công nghiệp xanh”.

Theo định hướng hiện nay, Phú Thọ đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 2026-2030 ở mức 17,4%, đồng thời giảm mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GRDP từ 1-1,5% mỗi năm.

Hai mục tiêu tưởng như có phần đối lập thực chất lại bổ trợ cho nhau. Tăng trưởng nhanh nhưng giảm cường độ sử dụng năng lượng có nghĩa là địa phương phải dựa nhiều hơn vào đổi mới công nghệ, tự động hóa, quản trị dữ liệu, năng lượng sạch, tối ưu quy trình sản xuất và sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Nói cách khác, động lực tăng trưởng phải được chuyển dần từ “sử dụng nhiều tài nguyên hơn” sang “tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị tài nguyên”. Đó cũng là nền tảng của tăng trưởng xanh.

Khu công nghiệp xanh không chỉ là câu chuyện môi trường

Trong cách tiếp cận truyền thống, khu công nghiệp thường được nhìn nhận trước hết như một không gian tập trung doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp ngân sách. Nhưng trong nền kinh tế xanh, khu công nghiệp phải được nhìn như một hệ sinh thái sản xuất.

Ở đó, doanh nghiệp không tồn tại biệt lập. Năng lượng, nước, chất thải, logistics, dữ liệu môi trường, hạ tầng số và các dịch vụ hỗ trợ có thể được tổ chức theo hướng liên kết, giảm chi phí và giảm phát thải.

Phú Thọ đang từng bước chuyển theo hướng này. Toàn tỉnh hiện có 30 khu công nghiệp, trong đó 17 khu công nghiệp đang hoạt động, thu hút khoảng 840 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Tổng cộng có 322 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn gần 64.500 tỷ đồng và 517 dự án FDI với tổng vốn hơn 10,25 tỷ USD.

Quy mô đó vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu rất lớn về quản trị môi trường. Một trong những vấn đề quan trọng là không thể “xanh hóa” công nghiệp chỉ bằng việc yêu cầu từng doanh nghiệp tự xử lý phần việc của mình. Hạ tầng khu công nghiệp phải đi trước một bước.

KCN Thụy Vân, với quy hoạch 335 ha, hiện thu hút 102 dự án và đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 95%, có hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 5.000 m³/ngày đêm. KCN Phú Hà có quy mô 350 ha và vẫn còn dư địa tiếp nhận các dự án mới.

Những hạ tầng như vậy cần được xem là “hạ tầng cạnh tranh”, chứ không đơn thuần là hạ tầng môi trường.

Một hệ thống xử lý nước thải tốt, quan trắc tự động, cung cấp năng lượng ổn định, quản lý chất thải hiệu quả hay mạng lưới logistics tối ưu sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng quốc tế và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp.

Theo hướng này, xanh không còn là phần chi phí cộng thêm, mà ngày càng trở thành một cấu phần của giá trị sản phẩm.

Dòng vốn FDI cần được “xanh hóa”

Một thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển công nghiệp của Phú Thọ là chuyển từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn đầu tư theo chất lượng.

Đây là chuyển biến có ý nghĩa chiến lược. Trong giai đoạn trước, một địa phương có thể cạnh tranh bằng đất sạch, giá thuê đất, lao động và ưu đãi. Nhưng khi các tập đoàn đa quốc gia ngày càng phải thực hiện ESG, kiểm kê phát thải và truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng, chính bản thân các nhà đầu tư cũng cần những địa điểm sản xuất đáp ứng các yêu cầu xanh.

Điều đó khiến “môi trường đầu tư” được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Một tỉnh có thủ tục nhanh nhưng hạ tầng môi trường yếu sẽ khó duy trì sức hấp dẫn lâu dài. Ngược lại, một địa phương có hạ tầng công nghiệp hiện đại, năng lượng sạch, xử lý chất thải tốt, dữ liệu môi trường minh bạch và chính sách nhất quán sẽ có khả năng thu hút những dự án có giá trị gia tăng cao hơn.

Phú Thọ đang đứng trước cơ hội đặc biệt trong quá trình này. Sau hợp nhất tỉnh, lợi thế về quỹ đất, lao động, giao thông và liên kết vùng được mở rộng, tạo thêm không gian để lựa chọn các dự án công nghệ cao, chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ.

Nhưng lợi thế về không gian chỉ trở thành lợi thế phát triển nếu đi kèm với khả năng “lọc” dự án. Chính sách thu hút đầu tư vì thế cần ưu tiên những dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, tiêu hao ít năng lượng, ít phát thải, có khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Đồng thời, cần hạn chế tư duy đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn. Việc kiên quyết từ chối các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao, như định hướng của tỉnh, không nên được nhìn như sự thu hẹp cơ hội đầu tư. Trái lại, đây là cách bảo vệ chất lượng không gian phát triển và nâng giá trị thương hiệu của địa phương trong dài hạn.

Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình chuyển đổi xanh

Nếu chính quyền tạo lập “sân chơi xanh”, doanh nghiệp mới là chủ thể quyết định tốc độ chuyển đổi. Thực tế tại Phú Thọ cho thấy một số doanh nghiệp quy mô lớn đã chủ động đổi mới dây chuyền, tối ưu nguyên liệu và mở rộng sản xuất gắn với yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả và môi trường.

Tại KCN Phú Hà, Công ty TNHH Điện tử BYD Việt Nam đạt doanh thu hơn 3,7 tỷ USD năm 2025 và tạo việc làm thường xuyên cho hơn 15.500 lao động; năm 2026 tiếp tục mở rộng quy mô, dự kiến nâng số lao động lên khoảng 20.000 người. Công ty TNHH Innovation Tương lai Việt Nam cũng đạt doanh thu hơn 6.500 tỷ đồng và đang mở rộng quy mô lao động.

Những trường hợp này cho thấy một thực tế: xanh hóa sản xuất không nhất thiết đồng nghĩa với giảm năng lực tăng trưởng. Ngược lại, nếu được triển khai đúng cách, tiết kiệm năng lượng, tối ưu nguyên liệu, giảm chất thải và nâng hiệu suất có thể đồng thời làm giảm chi phí và nâng sức cạnh tranh.

Vấn đề là doanh nghiệp cần một lộ trình chuyển đổi phù hợp. Đối với doanh nghiệp lớn, đó có thể là đầu tư hệ thống quản trị năng lượng, điện mặt trời mái nhà, thiết bị hiệu suất cao, số hóa dây chuyền và kiểm kê phát thải.

Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, ưu tiên có thể bắt đầu từ những giải pháp ít vốn hơn: tiết kiệm điện, giảm nguyên vật liệu, phân loại chất thải, tái sử dụng nước, cải tiến quy trình và từng bước số hóa quản trị.

Điều quan trọng là chuyển đổi xanh phải trở thành một phần của chiến lược kinh doanh, thay vì chỉ là nhiệm vụ đối phó với quy định môi trường.

KCN thế hệ mới: xanh, thông minh và tuần hoàn

Một điểm đáng chú ý trong định hướng phát triển của Phú Thọ là sự xuất hiện của mô hình khu công nghiệp xanh - thông minh - bền vững.

KCN Nam Bình Xuyên Green Park, quy mô khoảng 295,74 ha, tổng vốn đầu tư hơn 2.200 tỷ đồng, được định hướng tích hợp hạ tầng kỹ thuật hiện đại, công nghệ số, quản lý năng lượng và xử lý môi trường ngay từ đầu.

Đây có thể xem là bước chuyển quan trọng về tư duy quy hoạch. Nếu khu công nghiệp thế hệ cũ chủ yếu cung cấp mặt bằng sản xuất và hạ tầng cơ bản, khu công nghiệp thế hệ mới phải cung cấp cả một hệ sinh thái dịch vụ.

Doanh nghiệp không chỉ thuê đất mà có thể tiếp cận hạ tầng năng lượng, dữ liệu, xử lý nước, xử lý chất thải, logistics và các dịch vụ quản trị môi trường được tổ chức đồng bộ.

Xa hơn, mô hình này có thể tiến tới kinh tế tuần hoàn giữa các doanh nghiệp. Chất thải hoặc phụ phẩm của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác; nước sau xử lý có thể được tái sử dụng; nhiệt dư có thể được thu hồi; năng lượng tái tạo có thể được tích hợp vào hệ thống cung ứng.

Khi đó, khu công nghiệp không còn là nơi “tập trung các nhà máy”, mà trở thành một hệ thống sản xuất có khả năng tự tối ưu hóa dòng tài nguyên. Đây mới là chiều sâu của khái niệm công nghiệp xanh.

Xanh hóa công nghiệp phải đi cùng quản trị dữ liệu

Một trong những thách thức lớn nhất của quá trình chuyển đổi xanh là làm thế nào để đo lường được kết quả. Không thể chỉ nói một doanh nghiệp “thân thiện môi trường” nếu không có dữ liệu về tiêu thụ năng lượng, nước, nguyên liệu, chất thải và phát thải.

Do đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ngày càng gắn bó chặt chẽ. Các khu công nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường theo thời gian thực; doanh nghiệp cần có khả năng theo dõi mức tiêu hao năng lượng theo từng công đoạn; cơ quan quản lý cần có dữ liệu để đánh giá hiệu quả chính sách. Từ đó, quản trị môi trường sẽ chuyển từ phương thức “kiểm tra sau khi xảy ra vấn đề” sang “giám sát và cảnh báo sớm”.

Đây cũng là nền tảng để nâng cao Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI). Phú Thọ đã ban hành kế hoạch nâng cao PGI đến năm 2030, đặt mục tiêu vào Top 10 cả nước và hướng tới Top 7 sau năm 2030. Mục tiêu này chỉ có thể bền vững nếu các chỉ số xanh được chuyển hóa thành kết quả thực tế trong từng khu công nghiệp và từng doanh nghiệp.

Từ “thu hút vốn” đến “thu hút giá trị”

Điểm đáng chú ý nhất trong câu chuyện công nghiệp xanh của Phú Thọ không nằm ở việc địa phương có thêm bao nhiêu khu công nghiệp, mà ở việc mỗi hecta đất công nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu giá trị và bao nhiêu giá trị đó được tạo ra với mức tiêu hao tài nguyên thấp đến đâu.

Đó là thước đo mới của chất lượng tăng trưởng. Một dự án sử dụng nhiều đất, nhiều năng lượng, lao động giản đơn và tạo áp lực môi trường lớn có thể đem lại tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng chưa chắc tạo ra sức cạnh tranh lâu dài.

Ngược lại, một dự án công nghệ cao, có năng suất lớn, ít phát thải, sử dụng lao động chất lượng và tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều lần trên cùng một đơn vị diện tích.

Vì vậy, “thu hút vốn” cần được nâng lên thành “thu hút giá trị”. Đây cũng là cách Phú Thọ có thể tận dụng tốt hơn lợi thế mới về vị trí, giao thông, lao động, quỹ đất và liên kết vùng để định hình một cực sản xuất xanh có sức cạnh tranh trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Ba trụ cột cho chặng đường phía trước

Để biến định hướng thành kết quả, quá trình phát triển công nghiệp xanh của Phú Thọ cần tập trung vào ba trụ cột.

Thứ nhất, xanh hóa hạ tầng. Các khu công nghiệp đang hoạt động cần tiếp tục nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, chất thải, quan trắc và tiết kiệm năng lượng. Các khu công nghiệp mới phải tích hợp tiêu chí xanh ngay từ khâu quy hoạch, thay vì cải tạo sau khi đã đi vào vận hành.

Thứ hai, xanh hóa dòng vốn. Tiêu chí môi trường, công nghệ, mức tiêu hao năng lượng, khả năng tạo liên kết và đóng góp giá trị gia tăng cần trở thành những tiêu chí quan trọng trong lựa chọn dự án. Chính sách ưu đãi nên hướng mạnh hơn vào doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng sạch và phát triển sản xuất tuần hoàn.

Thứ ba, xanh hóa năng lực doanh nghiệp. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, tín dụng xanh, tư vấn ESG, kiểm kê phát thải và thị trường carbon; đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp lớn dẫn dắt hệ sinh thái nhà cung ứng chuyển đổi xanh.

Ba trụ cột này phải được vận hành đồng thời. Nếu chỉ có hạ tầng xanh nhưng doanh nghiệp không chuyển đổi, hiệu quả sẽ hạn chế. Nếu chỉ yêu cầu doanh nghiệp xanh mà thiếu hạ tầng, chi phí chuyển đổi sẽ tăng. Và nếu thu hút đầu tư xanh nhưng thiếu cơ chế đo lường, giám sát, thành quả rất khó duy trì.

Xanh hóa để tạo dư địa tăng trưởng mới

Chuyển đổi xanh không phải là quá trình làm chậm công nghiệp hóa. Ngược lại, nếu được tổ chức tốt, đây có thể là một phương thức để Phú Thọ bước vào giai đoạn công nghiệp hóa có chất lượng cao hơn.

Bối cảnh hiện nay đang tạo ra một cơ hội đặc biệt. Khi các thị trường lớn ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon, tiêu chuẩn môi trường và khả năng truy xuất chuỗi cung ứng, những địa phương có nền tảng sản xuất xanh sẽ có lợi thế trong thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Ở chiều ngược lại, những địa phương tiếp tục dựa vào mô hình sản xuất tiêu hao nhiều năng lượng và tài nguyên sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất dần lợi thế.

Phú Thọ đang lựa chọn một hướng đi phù hợp với xu thế đó: phát triển công nghiệp theo chiều sâu, ưu tiên công nghệ cao, nâng chuẩn khu công nghiệp, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, thúc đẩy năng lượng sạch và từng bước hình thành hệ sinh thái sản xuất tuần hoàn.

Thách thức phía trước chắc chắn không nhỏ. Chuyển đổi công nghệ cần vốn; hạ tầng xanh cần nguồn lực; doanh nghiệp nhỏ còn hạn chế về năng lực quản trị; các tiêu chuẩn quốc tế liên tục thay đổi. Nhưng chính những thách thức đó lại đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách quản trị phát triển.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là một nền công nghiệp “ít gây hại hơn”, mà là một nền công nghiệp tạo ra nhiều giá trị hơn, sử dụng ít tài nguyên hơn, phát thải thấp hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn với những biến động của thị trường toàn cầu.

Nếu kiên định với cách tiếp cận này, Phú Thọ có thể biến công nghiệp xanh từ một yêu cầu về môi trường thành một lợi thế cạnh tranh mới; từ một nhiệm vụ quản lý thành động lực đổi mới; và từ câu chuyện “xanh hóa sản xuất” thành chiến lược nâng tầm chất lượng tăng trưởng.

Đó cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy “thu hút thật nhiều dự án” sang “lựa chọn đúng dự án”, từ “thu hút vốn” sang “thu hút giá trị”, và từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực hữu hạn sang tăng trưởng dựa vào công nghệ, năng suất và đổi mới sáng tạo.

Trong chặng đường hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026-2030, công nghiệp xanh vì thế không chỉ là một lựa chọn của Phú Thọ. Đó có thể chính là hạ tầng chiến lược để tỉnh xây dựng một mô hình tăng trưởng mới – nhanh hơn về tốc độ, cao hơn về chất lượng và bền vững hơn về dài hạn.

__________________________

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Phú Thọ - Công nghiệp xanh để tăng trưởng bền vững;

2. Bộ Công thương - Phú Thọ hướng tới trung tâm công nghiệp xanh vùng Trung du Bắc Bộ;

3. Bộ Công thương - thông tin về chuyển đổi xanh ngành Công thương năm 2026.

Phạm Thủy