Tóm tắt: Kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước là một yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền và vì lợi ích của nhân dân. Bài viết phân tích cơ sở lý luận của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đồng thời đánh giá thực trạng các cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong quá trình thực hiện kiểm soát quyền lực. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước, bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường cơ chế giám sát và phản biện xã hội, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, cũng như phát huy vai trò của nhân dân và các tổ chức xã hội trong quá trình kiểm soát quyền lực.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; bộ máy nhà nước; nhà nước pháp quyền; giám sát quyền lực; trách nhiệm giải trình; phòng chống tham nhũng.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc kiểm soát quyền lực nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, tránh lạm quyền, tham nhũng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, quyền lực nhà nước ở Việt Nam là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tuy nhiên, trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực vẫn còn những hạn chế nhất định, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phòng chống các biểu hiện lạm quyền.
Do đó, nghiên cứu vấn đề cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước – thực trạng và giải pháp nâng cao - có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
1.Khái niệm quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị đặc biệt của Nhà nước, được sử dụng để quản lý xã hội và bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Quyền lực này thuộc về nhân dân và được nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện thông qua hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước phải được giới hạn và kiểm soát nhằm tránh sự lạm dụng quyền lực.
2. Khái niệm và đặc điểm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
a. Khái niệm:
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể các thiết chế, phương thức và quy trình nhằm giám sát, kiểm tra và hạn chế việc thực thi quyền lực của các cơ quan và cá nhân trong bộ máy nhà nước. Cơ chế này nhằm bảo đảm rằng việc thực thi quyền lực nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; phục vụ lợi ích của nhân dân; ngăn ngừa lạm quyền, tham nhũng và quan liêu.
b. Đặc điểm của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam: Bao gồm những nội dung sau:
1.Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hình thành không phải theo kiểu “tam quyền phân lập” mà trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế đó được xác lập và vận hành trong thể chế chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
2. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam là cơ chế ủy quyền, trao quyền từ nhân dân, tạo ra sự phân công cho các chủ thể khác nhau thực hiện quyền lực nhà nước trong phạm vi Hiến pháp quy định. Các cơ quan này phối hợp và kiểm soát lẫn nhau để bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng phạm vi. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam không nhằm mục đích kiềm chế, đối trọng hay loại trừ nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
3. Các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, có phạm vi rộng, bao gồm kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài bộ máy nhà nước. Kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể có thẩm quyền như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương. Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể kiểm soát là các tổ chức chính trị, xã hội. Trước hết là vai trò kiểm soát về mặt chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp đó là kiểm soát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân thông qua hoạt động giám sát xã hội, phản biện xã hội…
4. Phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước đa dạng gồm: Chế độ báo cáo của các cơ quan nhà nước; hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra; hoạt động xét xử của Tòa án; hoạt động kiểm sát; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; chất vấn; bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm; trưng cầu ý dân; phản biện xã hội, giám sát xã hội; của các phương tiện thông tin đại chúng và giám sát của nhân dân.
Những thách thức đối với việc kiểm soát quyền lực
Bên cạnh những đặc tính ưu việt của cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, thực tế lại đặt ra những thách thức đối với việc kiểm soát quyền lực:
1. Nguy cơ cài cắm “lợi ích nhóm”: Sự linh hoạt và trao quyền rộng rãi có thể tạo ra những “khoảng trống” pháp lý, nguy cơ tiêu cực nảy sinh, dễ bị các cá nhân, tổ chức lợi dụng, chi phối chính sách, làm méo mó các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Biểu hiện và nguy cơ cụ thể của việc lạm dụng quyền lực và “lợi ích nhóm” trong quá trình xây dựng pháp luật, đó là: “Cài cắm” chính sách (tham nhũng chính sách). Điều này đi ngược lại tinh thần kiến tạo là phục vụ người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
2. Rủi ro vì các quyết định chủ quan: Áp lực phải ra quyết định nhanh chóng để không bỏ lỡ các cơ hội phát triển có thể dẫn đến việc xem nhẹ hoặc bỏ qua các quy trình giám sát, thẩm định, phản biện, từ đó làm giảm chất lượng và tính khả thi của các chính sách, dự án. Sự thiếu minh bạch sẽ tạo điều kiện cho các quy định mang tính lợi ích nhóm dễ dàng được “hợp thức hóa”.
3. Nguy cơ lạm quyền, tham nhũng từ phân cấp, phân quyền: Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, thực hiện theo Kết luận số 127-KL/TƯ ngày 28/2/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về “Triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”. Tuy nhiên, việc trao quyền mạnh mẽ cho đơn vị hành chính cấp xã mới có thể khiến một số địa phương tự quyết định theo lợi ích địa phương, không nhất quán với chính sách chung; chính quyền địa phương có thể lạm quyền và thiếu kiểm soát… Đây cũng là vấn đề cần rà soát khắc phục.
Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam
Thời gian qua, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng đã thu được những kết quả rất quan trọng, bảo đảm cho công tác xây dựng pháp luật đi đúng hướng, thể chế hóa đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước, đấu tranh kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước vẫn còn những điểm hạn chế. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ… Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 89, 93).
1.Những kết quả đạt được
Trong thời gian qua, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực:
Thứ nhất, cơ sở pháp lý ngày càng được hoàn thiện: Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nhiều luật quan trọng đã được ban hành nhằm tăng cường kiểm soát quyền lực như: Luật phòng chống tham nhũng; Luật thanh tra; Luật tiếp công dân; Luật khiếu nại, tố cáo.
Thứ hai, tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã tăng cường hoạt động giám sát đối với hoạt động của Chính phủ và các cơ quan hành chính. Hệ thống thanh tra nhà nước, kiểm toán nhà nước cũng được củng cố, góp phần phát hiện và xử lý nhiều sai phạm.
Thứ ba, phát huy vai trò giám sát của nhân dân: Các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế kiểm soát quyền lực vẫn còn nhiều hạn chế; cụ thể là:
Thứ nhất, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa thật sự hoàn thiện: Một số quy định pháp luật về kiểm soát quyền lực còn thiếu đồng bộ và chưa cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện.
Thứ hai, sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ: Một số cơ quan nhà nước còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát quyền lực. Điều này làm giảm tính hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Thứ ba, hiệu quả giám sát của nhân dân còn hạn chế: Trong thực tế, vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ, do: Thiếu thông tin minh bạch; Cơ chế phản hồi chưa hiệu quả; Người dân còn e ngại khi tham gia giám sát.
Thứ tư, tình trạng tham nhũng, lạm quyền vẫn xảy ra: Đó là một số cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, gây ảnh hưởng đến uy tín của bộ máy nhà nước.
Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực
Để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước, cần thực hiện một số giải pháp sau:
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát quyền lực:
Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước; minh bạch trong hoạt động quản lý; cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Theo đó, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về các cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực (bao gồm Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí) theo hướng cụ thể hóa, đồng bộ, thống nhất, khắc phục những chồng chéo, mâu thuẫn, để nâng cao hiệu lực. Cần có các quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc ra quyết định. Đặc biệt, cần minh định ranh giới giữa quyền “kiến tạo” và hành vi “lạm quyền” khi hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật về giám sát và kiểm soát quyền lực hoặc các văn bản quy phạm chuyên ngành về kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong đó quy định rõ ràng, cụ thể về chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức và chế tài xử lý vi phạm; quy định rõ về quyền, trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân trong việc giám sát và kiểm soát quyền lực, từ trung ương đến địa phương.
Tăng cường tính độc lập của các cơ quan tư pháp. Cần có cơ chế để Tòa án và Viện kiểm sát hoạt động độc lập, không bị can thiệp từ các cơ quan hành pháp. Minh bạch hóa và công khai hóa, thể chế hóa nguyên tắc “mọi quyền lực đều phải được kiểm soát”, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Quy định rõ ràng, cụ thể hơn về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.
2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan giám sát:
Tăng cường vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Cơ quan thanh tra; Kiểm toán nhà nước; Hệ thống tư pháp. Đồng thời bảo đảm tính độc lập và khách quan của các cơ quan này.
Cần có cơ chế giám sát (của cơ quan cấp trên, của HĐND, của MTTQ, các đoàn thể và người dân) và đặc biệt là cơ chế hậu kiểm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, bất kể đó là ai. Hoàn thiện các quy định về tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá cán bộ dựa trên năng lực, hiệu quả công việc và phẩm chất đạo đức. Thực hiện nghiêm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.
Song song với biện pháp tự kiểm soát quyền lực từ nội bộ, việc tăng cường kiểm soát từ bên trên có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó cần được thể hiện thông qua việc cấp tỉnh tổ chức hậu kiểm, thanh tra thường xuyên đối với các hoạt động được phân cấp cho cấp xã; sử dụng công nghệ số trong quản lý, theo dõi và phản ánh từ người dân một cách hiệu quả.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng với hoạt động thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra của cơ quan chức năng nhằm kịp thời phát hiện sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản liên quan cho phù hợp cũng như xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.
3. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và xã hội: Cần tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua: Cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị; Phát huy vai trò của báo chí và truyền thông; Nâng cao hiệu quả phản biện xã hội.
4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính: Cần chú trọng thực hiện những nội dung: Giáo dục đạo đức công vụ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng và lạm quyền.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo bài bản, tuyển chọn công khai, đánh giá hiệu quả bằng kết quả cụ thể. Không chỉ về chuyên môn mà còn về khả năng ra quyết định trong điều kiện bất định, khả năng phân tích, đánh giá tác động và trên hết là bản lĩnh dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Các quy định pháp lý cần vạch ra những nguyên tắc cốt lõi, những giới hạn không thể vượt qua một cách rõ ràng. Sự linh hoạt, sáng tạo chỉ được phép trong khuôn khổ đó. Mọi quyết định nhanh, dù dựa trên tinh thần kiến tạo, đều phải được giải trình một cách công khai, minh bạch về lý do, mục tiêu, và cơ sở của quyết định. Mọi sai phạm phải được xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm. Cần có cơ chế truy cứu trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tiêu cực trong phạm vi quản lý của mình.
Cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sự vận hành hiệu quả của Nhà nước pháp quyền. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế này. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực là nhiệm vụ cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước và hệ thống chính trị.
Xây dựng cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả trong bối cảnh pháp luật “kiến tạo phát triển” không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Nó đòi hỏi sự quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự thay đổi toàn diện từ tư duy đến hành động; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của các chủ thể giám sát, và đặc biệt là tăng cường tính minh bạch, công khai trong hoạt động của các cơ quan công quyền. Chỉ khi giải quyết được các thách thức hiện tại, hay nói cách khác chỉ khi quyền lực được giám sát và kiểm soát chặt chẽ, mới có thể tận dụng được những cơ hội mà pháp luật “kiến tạo” mang lại, xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân, và vì dân, đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng cho toàn xã hội./.
ThS Nguyễn Văn Đạm
--------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
- Luật Tổ chức Quốc hội 2014
- Luật Tổ chức Chính phủ 2015
- Văn kiện Đại hội Đảng XIII (2021)
- Nguyễn Minh Đoan (2018), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia.
- Bản chất, đặc điểm của kiểm soát quyền lực nhà nước (Tạp chí Luật sư 5/2023)



