02/11/2026 lúc 15:51 (GMT+7)
Breaking News

Chuyển đổi số ở vùng cao: Từ truyền tải thông tin đến kết nối chính quyền với người dân

Chuyển đổi số ở cấp cơ sở không chỉ là quá trình đưa công nghệ vào hoạt động quản lý, điều hành mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tương tác giữa chính quyền với người dân. Đối với địa bàn miền núi, nơi điều kiện hạ tầng và năng lực tiếp cận công nghệ còn có sự chênh lệch, giá trị của chuyển đổi số cần được nhìn nhận từ khả năng thu hẹp khoảng cách thông tin, mở rộng sự tham gia của người dân và nâng cao chất lượng phục vụ của bộ máy hành chính.

I. CHUYỂN ĐỔI SỐ – YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC PHỤC VỤ NGƯỜI DÂN Ở VÙNG CAO

Chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản phương thức tổ chức, vận hành của bộ máy quản lý nhà nước, từ hoạt động chỉ đạo, điều hành đến cung cấp dịch vụ công và tương tác với xã hội. Nếu ứng dụng công nghệ thông tin chủ yếu hướng đến việc đưa các quy trình hiện có lên môi trường điện tử, thì chuyển đổi số đòi hỏi sự thay đổi toàn diện hơn, trong đó công nghệ phải gắn với đổi mới quy trình, phương thức quản trị và chất lượng phục vụ. Nói cách khác, trọng tâm không chỉ là số hóa hoạt động hành chính mà còn là khai thác công nghệ và dữ liệu để nâng cao năng lực quản lý, tăng tính minh bạch và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Định hướng này được thể hiện trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, với ba trụ cột chính là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Những định hướng đó đặt ra yêu cầu đưa chuyển đổi số đi vào thực chất, lấy hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp làm một trong những căn cứ đánh giá kết quả triển khai.

Chuyển đổi số góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, kết nối chính quyền với người dân vùng cao.

Ở cấp cơ sở, yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp bởi chính quyền cấp xã là nơi gần dân, thường xuyên tiếp nhận và giải quyết những vấn đề gắn với đời sống hằng ngày. Hiệu quả hoạt động không chỉ thể hiện ở tốc độ xử lý công việc nội bộ mà còn ở khả năng cung cấp thông tin chính xác, hỗ trợ người dân tiếp cận chính sách, thực hiện thủ tục hành chính và tiếp nhận những phản ánh phát sinh từ thực tiễn. Vì vậy, chuyển đổi số cần được xem xét từ chính mối quan hệ giữa cơ quan quản lý với cộng đồng, nơi chất lượng thông tin, khả năng tương tác và trách nhiệm giải quyết công việc có ý nghĩa quyết định.

Đối với khu vực miền núi, quá trình này có những đặc thù cần được nhìn nhận đầy đủ. Địa hình chia cắt, dân cư phân bố không đồng đều, điều kiện kinh tế - xã hội còn khác biệt, khả năng tiếp cận thiết bị và kỹ năng sử dụng công nghệ giữa các nhóm dân cư chưa đồng nhất. Khoảng cách số vì thế không chỉ bắt nguồn từ sự thiếu hụt hạ tầng viễn thông mà còn liên quan đến năng lực tiếp nhận thông tin, khả năng sử dụng dịch vụ và điều kiện thực tế của từng cộng đồng. Nếu chỉ chú trọng mở rộng nền tảng công nghệ mà chưa giải quyết được những khác biệt này, quá trình chuyển đổi số khó bảo đảm tính bao trùm.

Thực tiễn tại xã Cốc San, tỉnh Lào Cai cho thấy khá rõ những vấn đề đặt ra. Sau khi sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của các xã Đồng Tuyển, Tòng Sành và Cốc San thành đơn vị hành chính mới, địa phương có khoảng 11.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 62%, dân cư phân bố tại 15 thôn. Quy mô địa bàn và đặc điểm dân cư đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức truyền tải thông tin, đồng thời duy trì khả năng hỗ trợ trực tiếp đối với những nhóm người dân chưa có điều kiện sử dụng thành thạo nền tảng số.

Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu trường hợp, phân tích chính sách và tổng hợp tư liệu thực tiễn, có thể tiếp cận Cốc San như một trường hợp gợi mở về ứng dụng công nghệ trong quản trị cơ sở ở địa bàn miền núi. Từ trường hợp này, vấn đề cần quan tâm không chỉ là địa phương đã triển khai những nền tảng nào, mà quan trọng hơn là công nghệ đang góp phần thay đổi cách chính quyền cung cấp thông tin, tiếp nhận ý kiến và phục vụ người dân ra sao.

II. TỪ TUYÊN TRUYỀN MỘT CHIỀU ĐẾN THIẾT LẬP CƠ CHẾ TƯƠNG TÁC SỐ

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong quá trình chuyển đổi số ở cấp cơ sở là sự chuyển dịch từ phương thức truyền thông chủ yếu theo chiều dọc sang mô hình thông tin đa kênh, có khả năng tương tác hai chiều. Trước đây, loa truyền thanh, hội nghị thôn và hoạt động tuyên truyền trực tiếp giữ vai trò chủ đạo trong phổ biến chủ trương, chính sách. Những phương thức này vẫn có giá trị, đặc biệt ở địa bàn miền núi, nhưng khả năng cập nhật thông tin liên tục, mở rộng phạm vi tiếp cận và tiếp nhận phản hồi còn có những giới hạn nhất định.

Việc bổ sung các nền tảng như Fanpage, Zalo, Cổng Thông tin điện tử và các nhóm thông tin cộng đồng tạo thêm không gian để chính quyền chủ động cung cấp thông tin, đồng thời giúp người dân tiếp cận nội dung tuyên truyền linh hoạt hơn về thời gian và phương thức. Tại Cốc San, Fanpage Xã Cốc San - Tỉnh Lào Cai có trên 1.700 lượt thích và theo dõi, với hơn 3.200 bài viết; trang Cốc San Ngày Mới có trên 8.600 lượt thích và theo dõi, với khoảng 900 bài viết. Những con số này phản ánh sự mở rộng hiện diện của các kênh thông tin địa phương trên môi trường mạng, tạo điều kiện để thông tin về hoạt động quản lý, chính sách và các vấn đề dân sinh được truyền tải thường xuyên hơn.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa mức độ hiện diện của nền tảng và hiệu quả truyền thông thực chất. Số lượng bài đăng, lượt thích hay theo dõi mới phản ánh quy mô hoạt động của các kênh thông tin, chưa đủ để xác định có bao nhiêu người thực sự tiếp nhận, hiểu và vận dụng thông tin vào đời sống. Do đó, chất lượng truyền thông số cần được đánh giá trên cơ sở tính chính xác, kịp thời, dễ hiểu của nội dung, mức độ phù hợp với nhu cầu dân cư và khả năng hỗ trợ người dân giải quyết những vấn đề cụ thể.

Đáng chú ý hơn trong thực tiễn Cốc San là việc triển khai Zalo OA “Quét mã QR - Lắng nghe dân nói” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã thực hiện. Thông qua mã QR, người dân có thể truy cập kênh Zalo OA để gửi ý kiến, kiến nghị và phản ánh trên môi trường số. Nội dung sau khi tiếp nhận được phân loại, chuyển đến cán bộ, bộ phận chuyên môn hoặc cơ quan có trách nhiệm xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Xét từ góc độ quản trị, mô hình này mở rộng phương thức kết nối giữa người dân với các chủ thể có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý thông tin tại cơ sở. Nếu các kênh truyền thông thông thường chủ yếu phục vụ yêu cầu cung cấp thông tin từ cơ quan quản lý đến cộng đồng, thì kênh phản ánh trực tuyến tạo thêm chiều tương tác ngược lại, giúp người dân chủ động nêu vấn đề, cung cấp thông tin và bày tỏ những nhu cầu phát sinh trong đời sống.

Giá trị của mã QR không nằm ở tính mới của công nghệ, bởi đây là công cụ phổ biến, tương đối đơn giản và thuận tiện để triển khai. Ý nghĩa đáng chú ý là khả năng rút ngắn thao tác tiếp cận đầu mối thông tin, giảm bớt sự phụ thuộc vào những cuộc gặp trực tiếp hoặc thời điểm tổ chức hội nghị. Với địa bàn dân cư phân tán, đây có thể là phương thức hỗ trợ thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian trong quá trình trao đổi giữa người dân với cơ quan, tổ chức ở cơ sở.

Tuy nhiên, một kênh tiếp nhận trực tuyến chưa đồng nghĩa với việc hình thành đầy đủ cơ chế tương tác hiệu quả. Nếu ý kiến được gửi đi nhưng không có quy trình phân loại, chuyển xử lý, xác định trách nhiệm và phản hồi kết quả thì công cụ công nghệ khó tạo ra giá trị bền vững. Bởi vậy, hiệu quả của mô hình cần được xem xét trong toàn bộ chu trình xử lý thông tin, từ khâu tiếp nhận đến khi vấn đề được giải quyết hoặc có phản hồi rõ ràng cho người gửi.

Ở phương diện sâu hơn, việc tiếp nhận phản ánh của người dân còn có ý nghĩa đối với chất lượng quản trị công. Những thông tin phát sinh từ đời sống có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện kịp thời những vướng mắc trong thực hiện chính sách, thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công. Khi được tổng hợp, phân loại và sử dụng phù hợp, các phản ánh không chỉ phục vụ giải quyết từng trường hợp cụ thể mà còn có thể trở thành cơ sở tham khảo để điều chỉnh cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.

Như vậy, chuyển đổi số trong truyền thông cơ sở cần vượt qua tư duy lấy số lượng nền tảng làm thước đo. Điều quan trọng hơn là khả năng hình thành dòng thông tin hai chiều, trong đó chính quyền không chỉ chủ động cung cấp thông tin mà còn có trách nhiệm lắng nghe, tiếp nhận và phản hồi những vấn đề người dân quan tâm. Đây chính là bước chuyển từ truyền thông hành chính đơn thuần sang phương thức tương tác có khả năng hỗ trợ nâng cao chất lượng quản trị ở cơ sở.

III. CON NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VÙNG CAO

Nếu hạ tầng là điều kiện vật chất và nền tảng số là công cụ triển khai, thì con người quyết định khả năng chuyển đổi số đi vào đời sống. Đối với địa bàn miền núi, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ giữa các nhóm dân cư còn khác biệt, việc nâng cao kỹ năng số không chỉ là một nhiệm vụ hỗ trợ mà còn là điều kiện để bảo đảm người dân có cơ hội tham gia và thụ hưởng những tiện ích do chuyển đổi số mang lại.

Thực tế cho thấy, việc cài đặt một ứng dụng trên điện thoại thông minh không đồng nghĩa với việc người dân có thể sử dụng thành thạo. Những thao tác như tạo tài khoản, xác thực danh tính, nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu kết quả hay thanh toán điện tử có thể trở thành rào cản đối với người cao tuổi, người ít tiếp xúc với công nghệ hoặc người chưa có kỹ năng sử dụng thiết bị. Nếu thiếu sự hướng dẫn phù hợp, các nền tảng số dù được triển khai rộng rãi vẫn khó phát huy đầy đủ hiệu quả.

Tại Cốc San, các Tổ công nghệ số cộng đồng thực hiện phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà”, trực tiếp hướng dẫn người dân cài đặt và sử dụng VNeID, VssID, ngân hàng số, dịch vụ công trực tuyến; đồng thời hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính tại Bộ phận Một cửa khi cần thiết. Trong 6 tháng đầu năm 2026, địa phương đã tổ chức các hội nghị, tập huấn và hướng dẫn về chuyển đổi số cho gần 2.900 lượt người.

Cách làm này cho thấy vai trò của lực lượng hỗ trợ tại chỗ trong việc chuyển hóa các chương trình chuyển đổi số thành hoạt động cụ thể. Thay vì chỉ phổ biến kiến thức theo hình thức đại trà, việc hướng dẫn trực tiếp giúp người dân thực hành trên thiết bị của mình, nhận diện những thao tác còn vướng mắc và từng bước hình thành khả năng sử dụng các dịch vụ số. Đặc biệt, đối với những người chưa quen với công nghệ, sự hỗ trợ ban đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo tâm lý yên tâm và hình thành thói quen tiếp cận phương thức mới.

Tuy nhiên, phổ cập kỹ năng số không nên dừng lại ở số lượng người tham gia tập huấn hay số ứng dụng được cài đặt. Mục tiêu quan trọng hơn là giúp người dân có khả năng sử dụng công nghệ một cách độc lập, an toàn và phù hợp với nhu cầu. Nội dung hướng dẫn cần tập trung vào những tình huống thiết thực như tra cứu thông tin chính thống, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ thanh toán, bảo vệ tài khoản cá nhân và nhận diện các thủ đoạn lừa đảo trên không gian mạng. Việc tập huấn vì vậy cần được duy trì thường xuyên, gắn với thực hành và có hỗ trợ sau hướng dẫn, thay vì chỉ triển khai theo từng đợt.

Đồng thời, quá trình chuyển đổi số phải bảo đảm tính bao trùm, không tạo thêm rào cản đối với những nhóm dân cư chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ. Không phải mọi người dân đều có cùng điều kiện về thiết bị, đường truyền, trình độ và khả năng tiếp nhận thông tin. Vì vậy, việc duy trì loa truyền thanh, họp thôn, tuyên truyền trực tiếp và hỗ trợ tại Bộ phận Một cửa vẫn có ý nghĩa cần thiết. Các phương thức truyền thống và nền tảng số không nên được xem là hai lựa chọn thay thế nhau, mà cần được tổ chức bổ trợ để bảo đảm người dân có thể tiếp cận thông tin, chính sách và dịch vụ công theo điều kiện thực tế.

Tinh thần lấy người dân làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình chuyển đổi số cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Theo đó, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình này. Điều đó đòi hỏi chính quyền cơ sở phải quan tâm đồng thời đến khả năng cung cấp dịch vụ số và năng lực sử dụng dịch vụ của cộng đồng.

Từ thực tiễn trên có thể thấy, chuyển đổi số ở vùng cao cần được nhìn nhận trên cả hai phương diện: năng lực tổ chức, vận hành của chính quyền và năng lực tiếp cận, khai thác công nghệ của người dân. Khi cán bộ cơ sở có đủ kỹ năng để hướng dẫn, hỗ trợ và xử lý công việc trên môi trường số, đồng thời người dân từng bước làm chủ các ứng dụng, nền tảng thiết yếu, công nghệ mới có điều kiện trở thành một phần của đời sống thường nhật.

IV. TỪ THỰC TIỄN CỐC SAN NHÌN NHẬN YÊU CẦU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI SỐ CẤP CƠ SỞ

Thực tiễn tại Cốc San cho thấy chuyển đổi số ở vùng cao không phải là nhiệm vụ riêng lẻ mà đòi hỏi sự kết hợp giữa hạ tầng, năng lực con người và phương thức quản trị. Những kết quả bước đầu trong phát triển kênh thông tin, tiếp nhận phản ánh trực tuyến và phổ cập kỹ năng số là cơ sở để địa phương tiếp tục hoàn thiện cách thức phục vụ người dân. Tuy nhiên, để các mô hình này phát huy hiệu quả ổn định, cần tập trung vào ba yêu cầu có tính nền tảng.

Trước hết, tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số theo hướng bảo đảm chất lượng và khả năng tiếp cận thực tế. Theo thông tin được công bố, 15/15 thôn tại Cốc San đã được phủ sóng di động và Internet băng rộng; mạng 4G, cáp quang cơ bản đã vươn tới các khu dân cư. Tuy nhiên, một số khu vực vẫn có chất lượng kết nối chưa ổn định, sóng còn yếu. Điều này cho thấy cần phân biệt giữa độ phủ hạ tầng và chất lượng sử dụng. Việc có sóng hoặc có đường truyền chưa đủ để bảo đảm người dân thực hiện các giao dịch trực tuyến liên tục, thuận lợi. Do đó, đầu tư hạ tầng cần gắn với rà soát những khu vực còn hạn chế, nâng cao chất lượng kết nối và bảo đảm khả năng khai thác lâu dài.

Thứ hai, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ và người dân phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên. Đối với cán bộ cơ sở, yêu cầu không chỉ dừng ở việc sử dụng thành thạo phần mềm nghiệp vụ mà còn bao gồm khả năng hướng dẫn người dân, tiếp nhận thông tin, phối hợp xử lý công việc và bảo đảm an toàn dữ liệu. Đối với người dân, nội dung phổ cập cần được thiết kế theo từng nhóm đối tượng, ưu tiên những kỹ năng có thể ứng dụng ngay trong đời sống. Các Tổ công nghệ số cộng đồng cần tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ tại chỗ, đồng thời gắn hoạt động tập huấn với khả năng sử dụng thực tế của người dân.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo đảm an toàn trên môi trường số. Đối với những kênh phản ánh như Zalo OA và mã QR tại Cốc San, cần xác định rõ đầu mối tiếp nhận, trách nhiệm phân loại, chuyển xử lý, thời hạn giải quyết và phương thức phản hồi. Thông tin cần được theo dõi xuyên suốt để hạn chế tình trạng tiếp nhận nhưng không xử lý đến cùng. Cùng với đó, cần có biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân, kiểm soát quyền truy cập và nâng cao nhận thức của người dân về các hình thức giả mạo, chiếm đoạt tài khoản, lừa đảo trực tuyến. Đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin, bảo đảm người dân yên tâm tham gia vào môi trường số.

Bên cạnh các điều kiện trên, một vấn đề có ý nghĩa quyết định là đổi mới cách đánh giá kết quả chuyển đổi số ở cấp cơ sở. Số lượng tài khoản, lượt truy cập, bài đăng, người tham gia tập huấn hay phạm vi phủ sóng là những chỉ số cần thiết để theo dõi quá trình triển khai, nhưng chưa đủ phản ánh chất lượng phục vụ. Cần quan tâm thêm đến tỷ lệ người dân thực sự sử dụng dịch vụ trực tuyến, mức độ thuận tiện khi thực hiện thủ tục, thời gian xử lý phản ánh, tỷ lệ kiến nghị được giải quyết và mức độ hài lòng của người dân. Những tiêu chí này giúp chuyển trọng tâm đánh giá từ hoạt động triển khai sang kết quả và tác động đối với đời sống cộng đồng.

Cũng cần nhìn nhận rằng, Cốc San là một trường hợp thực tiễn có những điều kiện và đặc điểm riêng, không thể mặc nhiên coi là mô hình đại diện cho mọi địa bàn miền núi. Tuy vậy, những vấn đề đặt ra từ trường hợp này có ý nghĩa tham khảo đối với quá trình chuyển đổi số ở cấp cơ sở: công nghệ cần được lựa chọn phù hợp với điều kiện địa bàn; cơ chế tương tác phải gắn với trách nhiệm xử lý; kỹ năng số cần được phổ cập bằng phương thức gần dân; và hiệu quả cuối cùng phải được xem xét từ chất lượng phục vụ.

Chuyển đổi số ở vùng cao vì thế không nên được hiểu đơn thuần là quá trình đưa các nền tảng công nghệ đến với những địa bàn còn khó khăn. Bản chất sâu xa hơn là tạo dựng phương thức quản trị có khả năng kết nối tốt hơn, tiếp nhận thông tin kịp thời hơn và phục vụ người dân phù hợp hơn với điều kiện thực tế. Trường hợp Cốc San cho thấy, từ những công cụ tương đối đơn giản như Fanpage, Zalo OA và mã QR, chính quyền cơ sở có thể mở rộng không gian cung cấp thông tin và tiếp nhận tiếng nói của người dân. Song để những công cụ đó tạo ra hiệu quả bền vững, cần có sự đồng bộ giữa hạ tầng, năng lực con người và trách nhiệm xử lý thông tin.

Suy cho cùng, giá trị của chuyển đổi số không chỉ được đo bằng mức độ hiện đại của công nghệ được triển khai, mà còn bằng sự thay đổi trong quan hệ giữa chính quyền và người dân. Khi thông tin chính thống đến được với cộng đồng, phản ánh của người dân được tiếp nhận và xử lý có trách nhiệm, người dân đủ năng lực sử dụng các dịch vụ số trong đời sống, công nghệ mới thực sự trở thành phương tiện đổi mới quản trị cơ sở. Đây cũng là cơ sở để thu hẹp khoảng cách số, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ công và bảo đảm người dân vùng cao được tham gia, thụ hưởng thực chất những thành quả của quá trình chuyển đổi số quốc gia./.

ThS. Lê Quyết Thắng