30/07/2026 lúc 09:26 (GMT+7)
Breaking News

Cải cách pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước

Tóm tắt: Đầu tư công và quản lý vốn nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế như thủ tục hành chính phức tạp, phân cấp chưa rõ ràng và hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước, đồng thời đề xuất các định hướng cải cách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường minh bạch và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công.

Từ khóa: Đầu tư công, vốn nhà nước, cải cách pháp luật, quản lý nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.

Ảnh minh họa - TL

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đầu tư công giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và điều tiết nền kinh tế. Cùng với đó, vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp là nguồn lực quan trọng nhằm bảo đảm vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước.

Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý và sử dụng vốn nhà nước vẫn còn nhiều bất cập như thất thoát vốn, đầu tư dàn trải, chậm giải ngân và hiệu quả đầu tư chưa tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra. Điều này đặt ra yêu cầu phải cải cách hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư công và quản lý vốn nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công.

Từ thực tế trên, bài viết xác định tầm quan trọng của đầu tư công và vốn nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế; những điểm nghẽn thể chế hiện tại gây lãng phí, chậm giải ngân; áp lực đổi mới để hội nhập sâu rộng. Làm rõ thực trạng pháp luật, chỉ ra vướng mắc và đề xuất giải pháp đồng bộ.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm đầu tư công

Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án nhằm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, cung cấp dịch vụ công và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nguồn vốn đầu tư công bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ, vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi, vốn từ quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

2. Khái niệm quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là quá trình Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp thông qua các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhằm đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả và bảo toàn, phát triển vốn. Hoạt động quản lý vốn nhà nước bao gồm: Đầu tư vốn vào doanh nghiệp; Giám sát hoạt động doanh nghiệp; Cơ cấu lại vốn nhà nước; Thoái vốn hoặc chuyển nhượng vốn khi cần thiết.

Theo quy định của pháp luật, việc cơ cấu lại vốn nhà nước có thể được thực hiện thông qua tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn hoặc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3. Đặc điểm cơ bản của đầu tư công:

Đầu tư công có những đặc trưng khác biệt hoàn toàn so với đầu tư tư nhân:

3.1. Chủ thể thực hiện là Nhà nước: Do các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý; Đại diện sở hữu toàn dân đối với nguồn vốn công.

3.2. Mục tiêu tối cao là lợi ích kinh tế - xã hội: Không nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính; Tập trung phát triển hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, ổn định vĩ mô; Cung cấp hàng hóa công cộng (đường xá, bệnh viện, trường học).

3.3. Quy mô vốn lớn và phạm vi ảnh hưởng rộng: Thường đòi hỏi lượng vốn khổng lồ từ ngân sách; Thời gian thu hồi vốn kéo dài, đôi khi không thu hồi trực tiếp; Tác động đến nhiều ngành, nhiều vùng miền và toàn bộ nền kinh tế.

3.4. Tính lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân: Tạo môi trường, nền tảng hạ tầng kỹ thuật cho doanh nghiệp phát triển; "Mồi" thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân và dòng vốn nước ngoài.

3.5. Quy trình quản lý chặt chẽ, bảo mật và thủ tục phức tạp: Chịu sự giám sát nghiêm ngặt của pháp luật và Quốc hội/Hội đồng nhân dân; Trải qua nhiều giai đoạn: Chủ trương, phê duyệt, đấu thầu, quyết toán.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC

Dưới đây là phân tích toàn diện về tầm quan trọng của công cuộc cải cách này.

1. Giải phóng nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Bao gồm các giải pháp sau:

- Đẩy nhanh tiến độ giải ngân: Khắc phục tình trạng "vốn chờ dự án", đơn giản hóa thủ tục hành chính để đưa dòng vốn vào nền kinh tế nhanh hơn.

- Kích thích đầu tư tư nhân: Tạo hiệu ứng "vốn mồi" từ đầu tư công, xây dựng hạ tầng đồng bộ để thu hút dòng vốn FDI và doanh nghiệp tư nhân.

- Hoàn thiện hạ tầng quốc gia: Tập trung nguồn lực cho các siêu dự án chiến lược như cao tốc, đường sắt tốc độ cao, và hạ tầng số.

2. Nâng cao hiệu quả sử dụng và tối ưu hóa dòng vốn công: Thông qua một số biện pháp cụ thể:

- Cắt giảm đầu tư dàn trải: Tập trung vốn vào các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa vùng miền cao, tránh lãng phí nguồn lực phân tán.

- Tăng quyền tự chủ: Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương đi kèm với cơ chế trách nhiệm rõ ràng, giúp tối ưu hóa tiến độ thi công.

- Nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp: Giúp các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước tối ưu hóa chi phí sản xuất và ứng dụng công nghệ hiện đại.

3. Phòng chống tham nhũng và bảo vệ tài sản quốc gia:

- Minh bạch hóa dòng vốn: Số hóa quy trình quản lý thông qua hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, giảm thiểu tối đa cơ chế “xin – cho”.

- Bịt lỗ hổng pháp lý: Triệt tiêu các vùng xám pháp lý dễ bị lợi dụng để thao túng giá thầu hoặc chuyển dịch vốn nhà nước ra sân sau.

- Xác định rõ trách nhiệm cá nhân: Quy định rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu khi dự án chậm tiến độ, thua lỗ hoặc gây thất thoát.

4. Kiến tạo hành lang pháp lý linh hoạt và hội nhập quốc tế: Bằng việc tiệm cận các chuẩn mốc quản trị hiện đại (như OECD), tạo niềm tin vững chắc cho các tổ chức tài chính quốc tế (WB, ADB, IMF); Hoàn thiện khung pháp lý cho hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm giảm tải áp lực cho trần nợ công; Giúp doanh nghiệp nhà nước chủ động, phản ứng nhanh trước các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC

Hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đầu tư công và quản lý vốn nhà nước gồm nhiều văn bản quan trọng như: Luật Đầu tư công; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp; Luật Đấu thầu; Luật Doanh nghiệp. Những văn bản này đã tạo khung pháp lý cơ bản cho việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước.

1. Những kết quả đạt được:

1.1. Thể chế hóa và hoàn thiện hành lang pháp lý: Hệ thống quy phạm pháp luật ngày càng đồng bộ, giảm thiểu sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư công với các luật chuyên ngành (Đất đai, Đấu thầu, Xây dựng, Bảo vệ môi trường). Các quy định về phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, giúp tăng tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương.

1.2. Nâng cao hiệu quả quản lý và phân bổ vốn đầu tư công: Việc thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm đã đi vào nền nếp, loại bỏ tình trạng phê duyệt dự án vô tội vạ khi chưa cân đối được nguồn vốn. Vốn đầu tư công được ưu tiên cho các dự án trọng điểm quốc gia, dự án liên vùng, hạ tầng giao thông chiến lược (như hệ thống đường cao tốc, sân bay, cảng biển), tạo động lực lan tỏa cho kinh tế tư nhân. Quy trình lập, thẩm định, phê duyệt và giải ngân dự án được giám sát chặt chẽ hơn thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công.

1.3. Tối ưu hóa quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Bước đầu phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của các Bộ với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của cơ quan chuyên trách (như Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp - CMSC). Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cơ bản bảo toàn được vốn, đóng góp lớn vào ngân sách và giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt (năng lượng, viễn thông, hạ tầng chiến lược). Đẩy mạnh công khai thông tin tài chính, kiểm toán, đấu thầu, giảm thiểu rủi ro tham nhũng, lãng phí.

2. Những hạn chế và nguyên nhân:

2.1. Hạn chế:

Mặc dù đã có nhiều cải cách, hệ thống pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước vẫn còn một số hạn chế, như:

- Thủ tục hành chính còn phức tạp: Quy trình phê duyệt dự án đầu tư công thường kéo dài, gây chậm trễ trong việc triển khai và giải ngân vốn.

- Phân cấp quản lý chưa rõ ràng: Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý và thiếu trách nhiệm giải trình.

- Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao: Một số dự án đầu tư công có hiệu quả thấp, đầu tư dàn trải và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả sau đầu tư.

- Cơ chế giám sát còn hạn chế: Công tác giám sát và kiểm tra việc sử dụng vốn nhà nước chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến nguy cơ thất thoát và lãng phí nguồn lực công.

- Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ở một số Bộ, ngành, địa phương có giai đoạn còn chậm so với kế hoạch, gây lãng phí nguồn lực cơ hội.

- Chất lượng khảo sát, thiết kế dự án chưa cao, dẫn đến tình trạng dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư hoặc kéo dài thời gian thi công.

- Tiến độ cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn chậm so với mục tiêu đề ra; việc xử lý các dự án yếu kém, thua lỗ kéo dài còn gặp nhiều vướng mắc.

2.2. Nguyên nhân:

a. Về pháp luật: Một số quy định liên quan đến đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính, quản lý tài sản công vẫn còn chồng chéo, chưa theo kịp thực tiễn.

b. Về thực thi: Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ dẫn đến việc đùn đẩy, kéo dài thời gian xử lý thủ tục.

3. Vai trò của pháp luật trong điều chỉnh đầu tư công và vốn nhà nước bao gồm: Kiến tạo môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng; Ngăn chặn thất thoát, lãng phí, tham nhũng và nhóm lợi ích; Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia tối hạn.

Bên cạnh đó, yêu cầu khách quan phải cải cách pháp luật là: Sự thay đổi của bối cảnh kinh tế toàn cầu và xu hướng chuyển đổi số, kinh tế xanh; Yêu cầu chuyển đổi từ tư duy "quản lý, kiểm soát" sang "kiến tạo, phát triển"; Sự chồng chéo, xung đột giữa các đạo luật hiện hành (Đất đai, Đấu thầu, Xây dựng, Đầu tư công).

CÁC YÊU CẦU CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và chống lãng phí, việc cải cách pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước trong giai đoạn hiện nay là một đòi hỏi cấp bách.

1. Yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp: Đột phá, khơi thông thay vì Quản lý, thắt chặt: Đầu tư công phải là động lực dẫn dắt đầu tư tư nhân, thay vì tạo ra rào cản hành chính. Theo đó, giảm thủ tục phê duyệt hành chính ban đầu. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và quy trách nhiệm sau khi thực hiện; Giao quyền quyết định, điều chỉnh dự án cho địa phương và đơn vị thực thi. Người quyết định phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả; Loại bỏ các bước trung gian, các "giấy phép con" trong quy trình thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư.

2. Yêu cầu cải cách pháp luật về Đầu tư công: Trọng tâm là giải quyết bài toán “có tiền nhưng không tiêu được” (chậm giải ngân) và nâng cao hiệu quả dòng vốn. Đơn giản hóa quy trình bồi thường, giải phóng mặt bằng thông qua việc cho phép tách dự án giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập riêng biệt; Triển khai đền bù trước khi phê duyệt thiết kế kỹ thuật để rút ngắn tiến độ. Cho phép tự động điều chuyển vốn giữa các dự án chậm tiến độ sang dự án giải ngân tốt; Giảm bớt các thủ tục phê duyệt điều chỉnh vốn kéo dài qua nhiều cấp bộ, ngành. Đa dạng hóa phương thức đầu tư (PPP) thông qua sửa đổi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; Làm rõ cơ chế chia sẻ rủi ro (doanh thu, tỷ giá) giữa Nhà nước và tư nhân; Mở rộng danh mục lĩnh vực thu hút vốn PPP (y tế, giáo dục, hạ tầng số).

3. Yêu cầu cải cách pháp luật về Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Mục tiêu là giúp doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chủ động, linh hoạt như doanh nghiệp tư nhân nhưng vẫn bảo toàn được vốn.

Cơ quan quản lý nhà nước chỉ ban hành chính sách, không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh; Tăng cường vai trò giám sát của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Siêu ủy ban) theo hướng quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại.

Thay đổi tiêu chí đánh giá hiệu quả vốn (Đổi mới Luật 69/2014/QH13): Chuyển từ đánh giá hiệu quả trên “từng dự án cụ thể” sang đánh giá trên “tổng thể danh mục đầu tư” của toàn doanh nghiệp; Chấp nhận nguyên tắc thị trường: Có dự án lời, có dự án lỗ, miễn tổng nguồn vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển.

Thực hiện trao quyền tự chủ đầu tư cho DNNN: Cho phép các tập đoàn, tổng công ty tự quyết định các dự án đầu tư nhóm B, nhóm C bằng vốn tự có mà không cần chờ cơ quan chủ quản phê duyệt. Luật hóa quy trình thoái vốn, cổ phần hóa theo cơ chế thị trường, minh bạch để tránh thất thoát nhưng không gây nghẽn dòng vốn.

4. Yêu cầu đồng bộ, nhất quán hệ thống pháp luật: Một trong những nút thắt lớn nhất hiện nay là sự chồng chéo giữa các đạo luật khác nhau. Khắc phục ngay các điểm xung đột giữa Luật Đầu tư công, Luật Quản lý vốn nhà nước với Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Luật Bảo vệ môi trường. Ban hành các luật sửa đổi mang tính tích hợp để xử lý nhanh các vướng mắc pháp lý phát sinh, tránh việc sửa đổi nhỏ lẻ, kéo dài.

ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH PHÁP LUẬT

Để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công và vốn nhà nước, cần thực hiện các giải pháp cải cách sau:

1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Tiếp tục sửa đổi và bổ sung các luật liên quan nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật.

2. Đẩy mạnh phân cấp quản lý: Tăng cường phân cấp cho địa phương trong việc quyết định và quản lý dự án đầu tư công, đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng.

3. Nâng cao tính minh bạch: Cần công khai thông tin về dự án đầu tư công, bao gồm: Tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện, hiệu quả kinh tế – xã hội.

4. Tăng cường giám sát và kiểm tra: Đẩy mạnh vai trò của các cơ quan kiểm toán, thanh tra và cơ quan dân cử trong việc giám sát việc sử dụng vốn nhà nước.

5. Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước: Thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tăng quyền tự chủ kinh doanh và áp dụng cơ chế quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC

1. Hoàn thiện thể chế và thống nhất hệ thống luật: Sửa đổi quy định chồng chéo giữa Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và Luật Doanh nghiệp; Cắt giảm tối đa các khâu trung gian trong phê duyệt chủ trương đầu tư; Phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ quản và đơn vị thực thi vốn.

Đơn giản hóa hơn nữa thủ tục đầu tư công; sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hướng tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp đi đôi với giám sát chặt chẽ sản phẩm đầu ra.

2. Đổi mới quy trình lập kế hoạch và phân bổ vốn: Phân bổ vốn tập trung vào các dự án trọng điểm, chấm dứt tình trạng dàn trải; Sử dụng dữ liệu lớn để dự báo nhu cầu vốn và tiến độ giải ngân chuẩn xác; Thiết kế cơ chế pháp lý thu hút vốn tư nhân thông qua hợp tác công tư (PPP).

3. Nâng cao năng lực quản trị và trách nhiệm giải trình: Quy định rõ chế tài xử lý người đứng đầu nếu để xảy ra chậm trễ; Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý dự án đầu tư công; Thuê các tổ chức tư vấn độc lập thẩm định hiệu quả dự án lớn. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn; có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai thông tin: Vận hành hệ thống thông tin quốc gia để cập nhật tiến độ dự án theo thời gian thực; Công bố rộng rãi thông tin đấu thầu, tổng mức đầu tư để người dân giám sát; Tăng cường tần suất thanh tra, kiểm toán toàn diện các dự án sử dụng vốn nhà nước.

5. Đổi mới quy trình giải phóng mặt bằng: Nghiên cứu cơ chế tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư công.

6. Chuyển đổi số toàn diện: Ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (Big Data) trong theo dõi, kiểm tra, giám sát từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu quyết toán dự án.

Kết luận

Cải cách pháp luật về đầu tư công và quản lý vốn nhà nước là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, thúc đẩy phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định tài chính quốc gia. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần gắn với tăng cường minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và áp dụng các nguyên tắc quản trị hiện đại. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cải cách pháp luật trong lĩnh vực này sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững./.

TS Nguyễn Văn Đô

--------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

  1. Luật Đầu tư công năm 2024 (Số 58/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
  2. Văn bản hợp nhất 96/VBHN-VPQH 2025 về Luật Đầu tư công do Văn phòng Quốc hội ban hành, tích hợp các sửa đổi từ Luật sửa đổi bổ sung một số luật (như Luật số 90/2025/QH15).
  3. Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025 (Số 68/2025/QH15), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/08/2025 (thay thế Luật số 69/2014/QH13).
  4. Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (có hiệu lực từ 01/01/2026)
  5. Nghị định số 85/2025/NĐ-CP và Nghị định số 275/2025/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công.
  6. Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030.
  7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Các báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư công định kỳ các năm 2024, 2025 và nửa đầu năm 2026.