29/08/2026 lúc 11:39 (GMT+7)
Breaking News

Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Giá trị thời đại và sức sống trường tồn

Trong dòng chảy thiên niên kỷ của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những sự kiện không chỉ đóng vai trò là mốc son chói lọi khép lại một quá khứ lầm than, mà còn là bệ phóng vĩ đại mở ra một kỷ nguyên mới, làm thay đổi sâu sắc vận mệnh của một quốc gia và để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự kiện ngày Quốc khánh 2/9 chính là bước ngoặt thần kỳ như thế.

Nhìn lại chặng đường 81 năm qua (1945 - 2026), chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc vĩ đại của sự kiện này. Đây không đơn thuần là một cuộc giành lại chính quyền từ tay phát xít và thực dân, mà là một cuộc tái sinh vĩ đại của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm văn hiến. Sức sống trường tồn của Tuyên ngôn Độc lập và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám không hề phai nhạt theo năm tháng; trái lại, các sự kiện đó vẫn đang là nguồn mạch nuôi dưỡng tinh thần, là ngọn hải đăng soi đường cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thế kỷ XXI.

Khát vọng độc lập và những bứt phá của tiến trình lịch sử

Trước mùa thu năm 1945, Việt Nam là một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến. Người dân phải chịu hai tầng xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đẩy nền kinh tế vào kiệt quệ mà đỉnh điểm là thảm họa nạn đói năm 1945 cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu đồng bào. Sự áp bức tàn bạo đó không dập tắt được ngọn lửa yêu nước, nhưng các phong trào kháng Pháp trước đó - từ phong trào Cần Vương, k hởi nghĩa Yên Thế đến các xu hướng Đông Du, Duy Tân - đều lần lượt thất bại vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn và một giai cấp tiên phong lãnh đạo.

Giữa đêm tối tưởng chừng không lối thoát ấy, sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, dưới sự chèo lái của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử. Đảng đã nhìn thấu quy luật vận động của thời đại, khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn trong lòng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để chuẩn bị cho một cuộc tổng khởi nghĩa long trời lở đất.

Nhìn lại lịch sử để thấy, xuất phát điểm của nền kinh tế nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám và những năm đầu độc lập gần như là một con số không tròn trĩnh. Di sản mà chế độ cũ để lại là một nền kinh tế kiệt quệ: hơn 90% dân số mù chữ, thảm họa nạn đói cướp đi hơn 2 triệu sinh mạng, tài chính trống rỗng với vỏn vẹn 1,2 triệu đồng Đông Dương trong ngân khố quốc gia mà phần lớn lại là tiền rách. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới khai sinh đã phải đứng trước tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, đối mặt với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Cách mạng Tháng Tám chính là đỉnh cao của nghệ thuật tạo lực, lập thế và chớp thời cơ. Thời cơ cách mạng xuất hiện khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (tháng 8/1945), quân Nhật ở Đông Dương hoang mang cực độ, trong khi chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim tê liệt. Đó là thời cơ “ngàn năm có một”. Nhưng thời cơ sẽ chỉ là cơ hội trôi qua nếu không có sự chuẩn bị chu đáo suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, qua ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945).

Hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh và Lãnh tụ Hồ Chí Minh:“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, hơn 20 triệu người dân Việt Nam từ Bắc chí Nam khi đó, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, xu hướng chính trị, đã đồng loạt đứng lên. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, đã đập tan bộ máy cai trị của thực dân phong kiến chỉ trong vòng hai tuần lễ. Đó là một cuộc cách mạng ít đổ máu nhưng mang tính triệt để và toàn diện nhất trong lịch sử dân tộc.

Bản Tuyên ngôn Độc lập - Văn kiện pháp lý và nhân văn tầm vóc quốc tế

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn mở đầu không phải bằng việc kể tội kẻ thù, mà bằng việc trích dẫn những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một sự lựa chọn thiên tài mang tính chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo dùng chính những giá trị tư tưởng tư sản tiến bộ nhất, những chân lý không thể chối cãi của chính các nước phương Tây để khẳng định quyền chính đáng của dân tộc Việt Nam. Người đã đặt cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam vào dòng chảy văn minh của nhân loại, chứng minh rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam hoàn toàn phù hợp với đạo lý và luật pháp quốc tế.

Điểm cống hiến đặc biệt xuất sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập chính là bước nhảy vọt về mặt lý luận: Nâng tầm từ quyền con người thành quyền dân tộc. Người khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong bối cảnh hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc vẫn đang bao trùm thế giới, luận điểm của Hồ Chí Minh là một phát kiến mang tính cách mạng. Đối với các dân tộc thuộc địa, quyền con người chỉ là một thứ ảo ảnh nếu quốc gia không có độc lập, nếu dân tộc vẫn phải chịu cảnh nô lệ. Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của từng cá nhân phải được bảo đảm bằng quyền độc lập, tự chủ của toàn thể quốc gia - dân tộc. Đây chính là đóng góp to lớn của Việt Nam vào kho tàng lý luận và thực tiễn về quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Giá trị thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên do một Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Chiến thắng này đã giáng một đòn chí mạng vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân, làm sụp đổ một mắt xích quan trọng trong hệ thống đó ở Đông Nam Á.

Sự kiện này mang giá trị cổ vũ to lớn, như một tiếng “súng lệnh” thức tỉnh các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh giành độc lập. Nó chứng minh một chân lý thời đại: Một dân tộc dù nhỏ bé, kinh tế lạc hậu, nếu biết đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính, biết tự lực cánh sinh và nắm bắt đúng thời cơ, hoàn toàn có thể tự giải phóng và đánh bại những đế quốc sừng sỏ nhất. Sức ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Tám đã lan tỏa mạnh mẽ, tạo làn sóng phi thực dân hóa mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh trong giai đoạn hậu Thế chiến thứ hai.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế mấy ngàn năm và đập tan ách thống trị thực dân hơn 80 năm, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là sự hiện thực hóa sinh động lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chính quyền cách mạng trong điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến.

Nhà nước mới không phải là sự sao chép rập khuôn mô hình của các nước phương Tây, cũng không hoàn toàn giống với mô hình Xô-viết lúc bấy giờ, mà là một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức chịu sự lãnh đạo của Đảng. Mô hình nhà nước này vừa mang bản chất giai cấp công nhân tiên phong, vừa mang tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, bảo đảm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân.

Sức sống trường tồn trong dòng chảy lịch sử dân tộc

Sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 được minh chứng bằng chính tiến trình lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua. Tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” từ mùa thu năm 1945 đã trở thành dòng máu nóng chạy trong huyết quản của các thế hệ người Việt Nam, tạo nên sức mạnh vô song để vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất.

Chính nguồn năng lượng tinh thần ấy đã soi đường cho dân tộc bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ròng rã 21 năm, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại các chiến lược chiến tranh hiện đại nhất của đế quốc Mỹ để làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, thực hiện trọn vẹn lời thề độc lập năm xưa. Không dừng lại ở đó, tinh thần ấy tiếp tục giúp Việt Nam đứng vững và chiến thắng trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Khi đất nước hòa bình, sự nghèo nàn và lạc hậu do hậu quả nặng nề của chiến tranh và sự bao vây, cấm vận, thì tư duy sáng tạo, dũng cảm của Cách mạng Tháng Tám lại một lần nữa được khơi dậy. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Bản chất của Đổi mới chính là sự vận dụng sáng tạo bài học “lấy dân làm gốc” của Cách mạng Tháng Tám trong điều kiện mới. Đảng đã giải phóng sức sản xuất, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Sức sống trường tồn và năng lực tự đổi mới của một dân tộc được chứng minh rõ nét nhất qua những con số biết nói của hành trình hơn 40 năm Đổi mới (1986 - 2026). Vào thời điểm năm 1986, nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng với lạm phát phi mã lên tới 774,7%, tỷ lệ hộ nghèo tuyệt đối chiếm trên 70% dân số.

Bằng tư duy hành động quyết liệt và đúng đắn, Việt Nam đã tạo nên một kỳ tích kinh tế được thế giới thừa nhận. Quy mô nền kinh tế (GDP) từ mức khiêm tốn khoảng 4 tỷ USD năm 1986 đã tăng trưởng ngoạn mục, vượt mốc 430 tỷ USD vào năm 2024 và duy trì đà bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn 2025 - 2026, vững vàng đứng trong top 5 nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Thu nhập bình quân đầu người từ mức dưới 100 USD thời kỳ đầu đổi mới đã tăng lên vượt mức 4.600 USD/người/năm, đưa Việt Nam bước hẳn vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong suốt gần 4 thập kỷ luôn nằm trong nhóm đầu thế giới, đạt từ 6% đến 6,5% mỗi năm.

Thực tế đó khẳng định rằng, từ một quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh, thiếu ăn, bị cô lập, Việt Nam đã vươn lên thành một nền kinh tế năng động, một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ nghèo đói giảm sâu xuống mức ấn tượng, được Liên hợp quốc ghi nhận là một trong những điểm sáng về thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên mới

Trải qua hơn 80 năm, những bài học kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám vẫn mang tính thời sự sâu sắc, giữ vai trò phương pháp luận quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Trước hết là bài học về giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Cách mạng Tháng Tám, dù số lượng đảng viên chưa đến 5.000 người, nhưng Đảng đã định ra đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, xây dựng tổ chức chặt chẽ và giữ mối liên hệ máu thịt với quần chúng.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến động phức tạp của tình hình địa chính trị thế giới và những thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường, bài học về xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng trở nên cấp thiết. Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; kiên quyết đấu tranh đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quốc nạn tham nhũng, lãng phí. Có như vậy, Đảng mới giữ vững được niềm tin tuyệt đối trong lòng nhân dân, bảo đảm vai trò chèo lái con thuyền đất nước.

Thứ hai là bài học về khơi dậy sức mạnh của lòng dân và khối đại đoàn kết: Cách mạng Tháng Tám là minh chứng hùng hồn nhất cho luận điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Sức mạnh của cách mạng không nằm ở vũ khí tối tân mà nằm ở “lòng dân”. Khi ý Đảng hợp với lòng dân, triệu người như một sẽ tạo nên sức mạnh dời non lấp biển.

Ngày nay, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục phát huy tối đa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh giai cấp với sức mạnh dân tộc trên cơ sở liên minh công nhân - nông dân - trí thức. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lòng dân chính là thành trì vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc và là động lực lớn nhất để xây dựng đất nước.

Thứ ba là bài học về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của lịch sử. Độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội; và ngược lại, chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Kiên định mục tiêu này đồng nghĩa với việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế, không mơ hồ, dao động trước các trào lưu tư tưởng sai trái, không đánh đổi tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Thứ tư là bài học về nắm bắt thời cơ và chủ động hội nhập quốc tế: Nghệ thuật nhận thức và chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám cần được vận dụng linh hoạt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ. Thời cơ hiện nay chính là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển và sự bùng nổ của khoa học công nghệ, kinh tế số, tuần hoàn. Nếu không chủ động nắm bắt, không tự đổi mới tư duy và thể chế, đất nước sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo, nhận diện và chuyển hóa các thách thức, nguy cơ thành cơ hội để phát triển, thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Viết tiếp trang sử vàng – Khát vọng Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên mới

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu chiến lược tầm nhìn dài hạn mà các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc đã định hướng: Đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước), Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Đây có thể coi là một cuộc “Tổng khởi nghĩa” mới trên mặt trận kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa. Nếu như năm 1945, mục tiêu là giành độc lập, tự do, xóa bỏ ách nô lệ; thì mục tiêu của thế hệ hôm nay là chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Đây là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần dấn thân vô điều kiện của mỗi người dân Việt Nam yêu nước.

Để đạt được những mục tiêu vĩ đại đó, một trong những giải pháp then chốt là phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phải phát huy nhân tố con người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển.

Giá trị văn hóa và con người Việt Nam – được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử và được tôi luyện qua ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám – chính là nguồn sức mạnh nội sinh vô tận. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, tính cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó và khả năng thích ứng cao trước mọi hoàn cảnh biến động. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách hiệu quả chính là con đường ngắn nhất để đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên số.

Độc lập, tự do không phải là thứ có sẵn và bất biến, mà là thành quả phải được giữ gìn và bảo vệ bằng mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, khó lường, bài học về tinh thần cảnh giác cách mạng từ Mùa Thu lịch sử vẫn nguyên giá trị.

Không chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế, bản chất nhân văn của chế độ mới được thiết lập từ Cách mạng Tháng Tám luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam đã giảm từ trên 70% (năm 1986) xuống chỉ còn dưới 3% theo chuẩn mới hiện nay, giúp hàng chục triệu người thoát nghèo – một thành tựu được Liên hợp quốc đánh giá là hình mẫu toàn cầu.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, đạt mức 0,726, thuộc nhóm các quốc gia có HDI cao trên thế giới. Tuổi thọ trung bình của người dân nâng từ mức dưới 40 tuổi (năm 1945) lên mức 74,5 tuổi hiện nay. Những con số này chính là minh chứng hùng hồn nhất cho thấy thành quả cách mạng không thuộc về một nhóm lợi ích nào, mà được phân phối đồng đều, phục vụ cho chính hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của nhân dân.

Để đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Sức sống trường tồn của lời thề độc lập

81 năm đã trôi qua, Quảng trường Ba Đình ngày nay đã có nhiều thay đổi, những nhân chứng lịch sử của Mùa Thu năm ấy phần lớn đã đi xa, nhưng âm vang của bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 vẫn vang vọng thiêng liêng trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lời thề ấy đã trở thành dòng máu chảy trong huyết quản, thành ý chí sắt đá, thành bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 mang giá trị thời đại sâu sắc và sức sống trường tồn bởi nó chạm đến những giá trị thiêng liêng, phổ quát nhất của nhân loại: Độc lập cho Tổ quốc, Tự do cho dân tộc và Hạnh phúc cho Nhân dân.

Hành trình phía trước của đất nước còn nhiều thời cơ lớn nhưng cũng không ít thách thức, cam go. Song, với bệ đỡ lịch sử vững chắc, với ngọn đuốc soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng sức mạnh đồng lòng của hơn 100 triệu đồng bào trong và ngoài nước, dân tộc Việt Nam nhất định sẽ viết tiếp những trang sử vàng chói lọi, thực hiện thành công khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh đi trước.

PGS.TS Nguyễn Tất Viễn

Viện trưởng Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý