Nhân tài văn hóa trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Thứ 4, 22/09/2021 09:09 (GMT+7)

Văn hóa có lịch sử hình thành và phát triển cùng với lịch sử hoạt động của con người và loài người. Sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế yêu cầu cần có nhiều nhân tài văn hóa, những người thực tài, thực đức. Để quy tụ và phát triển đội ngũ này, trong thời gian tới, cần những giải pháp mang tính đột phá, chiến lược.

Nhân tài văn hóa trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Ảnh minh họa - Internet

Văn hóa và nhân tài văn hóa

C. Mác cho rằng, lịch sử chẳng qua là lịch sử hoạt động của những con người hiện thực trong đời sống thực tiễn, vừa khám phá, nhận thức thế giới vừa tự khám phá, tự nhận thức chính bản thân mình. Để tồn tại và phát triển, con người phải cải biến thế giới - đối tượng khách thể bên ngoài. Quá trình này cũng đồng thời là quá trình con người và loài người cải biến chính mình, làm bộc lộ nhân tính - sức mạnh bản chất của con người. Làm cho nhân tính ngày càng nhiều hơn, tức là hoàn cảnh có tính người hơn - đó là hoạt động sáng tạo văn hóa của chủ thể người và đến lượt nó, văn hóa sáng tạo trở lại đối với con người, phát triển năng lực và hoàn thiện đạo đức, nhân cách con người. Văn hóa được định hình bởi hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ, được nhận biết từ vai trò của chủ thể (con người); từ đặc tính của hoạt động, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động sản xuất ra vật phẩm, sản phẩm và giá trị (cả vật chất lẫn tinh thần), từ môi trường và những điều kiện tạo ra văn hóa...

Con người không chỉ sản xuất ra văn hóa, mà còn tiêu dùng, cảm thụ văn hóa. Không gian xã hội và thời gian lịch sử chính là môi trường và điều kiện để văn hóa truyền đi hiệu ứng của mình trong đời sống, qua các mối quan hệ và liên hệ. Lịch sử vận động, từ phạm vi đất nước, quốc gia - dân tộc đến khu vực và thế giới, với sự tác động của dân tộc và tôn giáo,... cho ta nhận biết không chỉ địa - kinh tế, địa - chính trị mà còn địa - văn hóa. Có một thực tế hiển nhiên như một quy luật tất yếu, đó là, phát triển văn hóa được thực hiện thông qua tiếp biến văn hóa. Tiếp xúc, biến đổi văn hóa tạo nên sự giao thoa giữa các nền văn hóa, vừa làm văn hóa dân tộc trở nên phong phú và sâu sắc hơn khi tiếp nhận những tinh hoa, giá trị văn hóa từ các dân tộc khác, vừa làm giàu có hơn tài sản văn hóa nhân loại khi góp vào đặc sắc văn hóa của dân tộc mình.

Văn hóa, trong ý nghĩa đích thực là không hẹp hòi mà bao dung, không vị kỷ mà vị tha, không giữ cho riêng mình mà biết trao tặng, dâng hiến, biết góp vào “gia tài” chung những gì tốt đẹp nhất của mình để trân trọng và xứng đáng nhận lại những gì tốt đẹp nhất của người. Đặc tính văn hóa là mở ra, chứ không đóng lại; hướng tới nhiều chân trời bằng đổi mới, năng động, sáng tạo, chứ không chỉ có một chân trời, ngưng đọng, bảo thủ với quán tính của sức ỳ. Văn hóa trong tính nhân bản của nó, là cơ sở để hòa vào tính nhân loại; do đó hội nhập quốc tế bao hàm cả hội nhập văn hóa, như một tất yếu tự nhiên. Văn hóa là sự thống nhất trong đa dạng và thống nhất bao gồm sự dung nạp của rất nhiều khác biệt, theo các chuẩn mực dân chủ - bình đẳng - khoan dung. Trong hội nhập văn hóa, mỗi giá trị đặc trưng cho truyền thống, bản sắc của từng dân tộc đều có ý nghĩa riêng trong tương quan với các giá trị, truyền thống, bản sắc của các dân tộc khác. Hợp tác và chia sẻ, chứ không biệt lập, áp đặt, chia cắt, không phân chia đẳng cấp cao - thấp, cần đến lý tính và đạo đức. Đơn điệu, đơn nhất sẽ giết hại sức sống của văn hóa, làm mất đi sự đa dạng văn hóa, thậm chí có nguy cơ dẫn đến cái chết của văn hóa. Hợp tác và chia sẻ - tự nó đã bao hàm sự liên kết, đồng thuận và cộng đồng trách nhiệm giữa các quốc gia - dân tộc trên thế giới để tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, cùng nỗ lực phấn đấu vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc, vì sự thịnh vượng và an toàn trong phát triển, vì triển vọng cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn cho con người - đó là tinh thần cơ bản của thông điệp hội nhập văn hóa. Đó cũng chính là tinh thần khoan dung văn hóa trong hội nhập và phát triển hiện nay.

Nỗ lực hiểu người, hiểu mình, biết người, biết mình là một nỗ lực văn hóa, cao hơn là một bản lĩnh văn hóa để không tự đánh mất mình trong hội nhập. Phải làm cho văn hóa trở thành diện mạo tinh thần của một dân tộc, là “tấm căn cước” của dân tộc khi đến với thế giới và đưa thế giới vào với dân tộc. Nội lực, nội sinh có mạnh thì mới thu được ngoại lực, ngoại sinh vào mình.

Muốn đóng góp vào “gia tài” chung thì phải giàu có, chứ không thể nghèo nàn - ở đây là các giá trị của văn hóa. Do đó, phải có rất nhiều nhân tài văn hóa, có sức sáng tạo lớn. Phải có nhiều nhân tài văn hóa thì mới tạo ra được tiềm lực trong hội nhập, tiềm năng để phát triển và thực lực để sáng tạo.

Từ hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ, có thể nhận biết cấu trúc cũng như triết lý, cả nghĩa rộng cũng như nghĩa hẹp của văn hóa. Đây cũng là cơ sở để hiểu nhân tài văn hóa với tính đa dạng về loại hình trong xây dựng đội ngũ nhân tài văn hóa ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh đổi mới và hội nhập quốc tế.

Trước hết, theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra trong lao động sản xuất và hoạt động xã hội vì mục đích tồn tại và phát triển của mình. Theo nghĩa hẹp, đó là văn hóa tinh thần, hoạt động tinh thần, đời sống tinh thần của một dân tộc, cộng đồng người nhất định. Sự phân định theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, vật chất hay tinh thần, chỉ có tính chất tương đối. Văn hóa tinh thần, tuy xếp theo nghĩa hẹp, nhưng trên thực tế cũng là rất rộng; vì nó bao quát cả phong tục, tập quán, lối sống, ý thức tư tưởng, tình cảm, tôn giáo và tín ngưỡng của cộng đồng người; cả sáng tạo các giá trị tinh thần, nhất là đạo đức; cả hoạt động sáng tác, biểu diễn, văn chương nghệ thuật...

Dù hẹp hay rộng, đã nói tới văn hóa với hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ thì ta đều thấy nội dung của văn hóa. Đó là khoa học (ứng với phạm trù Chân), đạo đức (ứng với phạm trù Thiện) và nghệ thuật (ứng với phạm trù Mỹ).

Nghệ thuật với tính định hướng thẩm mỹ của nó có tác dụng vô cùng to lớn trong sự phát triển con người và hoàn thiện nhân cách. Sáng tạo nghệ thuật, nhất là ở những tài năng lớn, đạt tới kiểu mẫu của sự biểu cảm tinh tế của trí tuệ và tâm hồn con người. Âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thơ ca, tiểu thuyết; nhất là những tác phẩm và tác giả lớn có sức sống vượt thời gian bao giờ cũng có sức cảm hóa, thôi thúc con người hướng tới lý tưởng đạo đức, lẽ sống cao đẹp. Tính thiện và sự hướng thiện, khát vọng trở nên tốt đẹp là sức mạnh thức tỉnh con người của đạo đức. Chính đạo đức là điểm tựa và lực đẩy trong sự hình thành cảm hứng nghệ thuật - thẩm mỹ của các văn nghệ sĩ, nhất là ở những tài năng và nhân cách lớn. Nghệ thuật là sự cộng hưởng của lý trí khoa học với đạo đức để xây dựng, tái tạo, tái hiện cái đẹp, cái cao thượng qua việc sáng tạo hình tượng thẩm mỹ, nuôi dưỡng và thúc đẩy tâm hồn con người. Sức sống, sức lan tỏa của cái đẹp, cái thẩm mỹ không chỉ thể hiện trong nghệ thuật, mà còn thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội. Hiểu sâu sắc điều đó, nhà mỹ học nổi tiếng người Nga Téc-nư-xép-xki đã khẳng định “cái đẹp chính là cuộc sống”. Điều đó chứng tỏ rằng, “Mỹ” chẳng những là lý tưởng sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, mà còn là xu hướng vươn tới sự hoàn thiện cuộc sống, con người và nhân cách làm người.

Mỹ chung đúc cả Chân và Thiện, Mỹ - tức là cái đẹp - không chỉ điển hình cho sáng tạo nghệ thuật, mà còn mang thiên chức, sứ mệnh cao cả là thẩm mỹ hóa đời sống, sáng tạo cuộc sống, sáng tạo thế giới theo quy luật của cái đẹp như C. Mác đã từng khẳng định.

Chân và Mỹ - khoa học và nghệ thuật cùng tác động tới Thiện, tới đạo đức, làm cho đạo đức con người được nâng tới tầm của cái đẹp. Chân và Mỹ thuộc về nhân tính, phản chiếu năng lực người có vai trò to lớn, không thể thiếu để định hình đạo đức con người, nâng đạo đức tới cái đẹp - con người là chủ thể đạo đức đồng thời là chủ thể thẩm mỹ.

Hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ trong chỉnh thể Khoa học - Đạo đức - Nghệ thuật của văn hóa cho thấy bản chất của văn hóa, nhất là văn hóa tinh thần, là sự hợp thành và tác động biện chứng giữa Nhân bảnNhân đạo và Nhân văn .

Xét trên phương diện giá trị, mọi giá trị đều quy về giá trị con người và con người là giá trị của mọi giá trị. Con người là giá trị cao nhất trong bảng giá trị văn hóa, từ dân tộc đến nhân loại. Đạt tới tự do và sự hoàn thiện nhân cách con người chính là chiến thắng lớn nhất của văn hóa. Sáng tạo văn hóa và đóng góp của các nhân tài văn hóa cần theo định hướng ấy.

Một cách dung dị và ngắn gọn nhất, có thể nói, nhân tài là người có tài và nhân tài văn hóa là những người có tài trong sáng tạo văn hóa, là những nhà văn hóa tài năng.

Quan niệm về tài năng đòi hỏi phải nhận ra dấu hiệu phát triển vượt trội, xuất sắc của tài năng so với năng lực và những khả năng thông thường, bình thường. Người có tài là người có trình độ phát triển cao về năng lực, nhất là khả năng sáng tạo, so với những người bình thường khác trong một hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động nào đó. Để có tài và trở thành người tài, họ phải trải qua lao động miệt mài, bền bỉ, đam mê và sáng tạo trong suốt cuộc đời. Năng khiếu là vốn quý, tham dự vào sự phát triển tài năng như một nhân tố quan trọng nhưng cái chính yếu vẫn là qua lao động và trải nghiệm sống. Tài năng phải đi cùng đức hạnh. Đạo đức bảo đảm cho tài năng phát triển đúng hướng, được dẫn dắt bởi lý tưởng, động cơ, mục đích cao quý: Vì con người và xã hội. Nhân tài không chỉ có năng lực trí tuệ dồi dào, sức sáng tạo lớn, mà còn phải là người có đạo đức, nhân cách lớn.

Nhân tài, nhất là nhân tài văn hóa, phải tỏ rõ thực tài, thực đức, phát huy được tài đức của mình, có uy tín và có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội. Họ phải thực sự là hiện thân của chân tài, hiền tài. Để xây dựng nhân tài văn hóa thì phải hiểu người tài từ cá tính, lối sống đến đặc điểm lao động sáng tạo của họ để ứng xử văn hóa với họ, để tin cậy và sử dụng họ vào những lĩnh vực có thể phát huy tối đa tài đức của họ. Phương pháp ứng xử, rộng hơn là phương pháp dùng người, chính sách sử dụng, đào tạo - bồi dưỡng và động lực thúc đẩy tài năng, phải là mối quan tâm thường xuyên của các nhà lãnh đạo, quản lý. Hiểu văn hóa để hiểu nhân tài văn hóa, hiểu nhân tài văn hóa để có chính sách và giải pháp đúng lại phải khéo (tác động rất tinh tế và bao dung) thì mới phát triển được những tài năng văn hóa và xây dựng được đội ngũ nhân tài văn hóa. Nhân tài văn hóa rất đa dạng trong cơ cấu loại hình, tương thích với cơ cấu văn hóa đã đề cập ở trên, cơ bản bao gồm:

- Những tài năng xuất sắc trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật, trong đó có đội ngũ các nhà khoa học, nhà lý luận, nhà nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật, nhà báo, nhà tổ chức hoạt động văn hóa, các văn nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn, các nghệ nhân..., họ không chỉ có tài, mà còn có những năng khiếu quý giá phải được phát hiện, bồi dưỡng, phát triển.

- Những nhà lãnh đạo, quản lý văn hóa, góp công sức vào xây dựng chiến lược và chính sách văn hóa, tác động đến tiến trình và kết quả hội nhập văn hóa của Việt Nam vào thế giới.

- Đội ngũ doanh nhân thời mở cửa, hội nhập đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh. Những doanh nhân tài năng đó đều có nhãn quan văn hóa và thấm nhuần các giá trị nhân văn trong xây dựng và thực hành triết lý kinh doanh.

Với cơ cấu loại hình đa dạng như vậy, xây dựng nhân tài văn hóa, hình thành đội ngũ nhân tài văn hóa ở nước ta nằm trong chiến lược phát huy nhân tài. Do đó, muốn xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng Dân tộc - Nhân văn - Dân chủ và Khoa học để hội nhập thành công, phát triển nhanh và bền vững, hiện đại hóa đất nước, phải có chiến lược xây dựng nhân tài văn hóa; có đầu tư lớn, kế hoạch với tầm nhìn xa trông rộng; chính sách khuyến khích, trọng dụng, thúc đẩy nhân tài, trọng đãi hiền tài thật phù hợp.

Định hướng và giải pháp xây dựng nhân tài văn hóa trong đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Các nhân tài văn hóa đều có điểm chung là lòng yêu nước, yêu văn hóa và tinh thần dân tộc, khát vọng về sự phát triển đất nước, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chấn hưng dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Họ là những người có học thức, đại biểu ưu tú của trí thức văn hóa dân tộc, ý thức sâu sắc về sự kế thừa giá trị văn hóa truyền thống để phát triển. Nhân tài văn hóa là tài sản, là vốn quý của quốc gia. Những người có năng lực và có tài năng trong cộng đồng gần 100 triệu dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như hiện nay, là một đại lượng không hề nhỏ với tiềm năng, triển vọng rất dồi dào, trong đó đang nảy mầm, đang xuất hiện nhiều tài năng trẻ. Song, thực sự là nhân tài văn hóa thì không nhiều. Để quy tụ và phát triển họ thành một đội ngũ, một lực lượng, chúng ta phải dày công xây dựng tìm đúng những giải pháp đột phá. Mục tiêu phát triển nhanh và bền vững có đạt được hay không, câu trả lời chính là tạo môi trường và điều kiện cho các nhân tài văn hóa phát huy được sở trường, năng khiếu, cống hiến được tài năng quý hiếm của họ cho sự nghiệp phát triển, hiện đại hóa đất nước.

Nói giản dị như Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải có đất cho người tài dụng võ. Tâm nguyện của Người từ những ngày đầu lập nước là dân tộc Việt Nam nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái. Người kêu gọi quốc dân đồng bào giúp đỡ Chính phủ phát hiện nhân tài, sử dụng và trọng dụng nhân tài. Là một nhà văn hóa lớn, Người đem đức độ, tài năng, nhất là tấm lòng thành để quy tụ mọi nhân tài. Người đồng cảm với trí thức, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoài bão, khát vọng của các nhân tài trí thức văn hóa trong việc giúp nước, giúp dân. Bởi thế, suốt đời, Người coi trọng dân chủ, chú trọng thực hành dân chủ và hết sức tôn trọng tự do, sáng tạo của nhân tài, bởi chúng như không khí, như dinh dưỡng nuôi dưỡng tài năng, vun trồng sáng tạo của những trí thức. Tư tưởng - Đạo đức - Phong cách Hồ Chí Minh gợi mở cho chúng ta định hướng xây dựng nhân tài văn hóa hiện nay ở mấy điểm cốt yếu sau:

Một là, xác định quan điểm về vai trò của nhân tài văn hóa trong phát triển, hiện đại hóa đất nước. Không có nhân tài văn hóa thì đất nước không thể phát triển; truyền thống văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc không được giữ gìn và phát huy.

Nhân tài văn hóa là tài sản quý hiếm của quốc gia, là tinh hoa của vốn con người - nguồn vốn quan trọng, quyết định nhất trong vốn xã hội để phát triển.

Nhân tài văn hóa được phát huy bảo đảm cho hội nhập quốc tế, hội nhập văn hóa của Việt Nam thành công; giữ gìn, bảo vệ và phát huy được bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam trong hội nhập.

Đề cao giá trị, sức sống và bản lĩnh dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam thì phải đề cao vai trò nhân tài văn hóa, quý trọng các tài năng sáng tạo văn hóa và tạo mọi điều kiện để nhân tài văn hóa cống hiến tài năng sáng tạo của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là, phải đặc biệt chú trọng phát hiện, bồi dưỡng và phát triển các năng khiếu, mầm mống tài năng trong khoa học, văn học, nghệ thuật. Không chỉ quan tâm, coi trọng, mà còn phải có những tác động cụ thể bằng chính sách, bằng cơ chế tạo động lực cho năng khiếu, tài năng bộc lộ và phát triển.

Ba là, chú trọng xây dựng đội ngũ nhân tài văn hóa với cơ cấu loại hình hợp lý - hợp lý về các lĩnh vực, hợp lý về các thế hệ, chú trọng tính kế thừa thế hệ, đặc biệt quan tâm tới tài năng trẻ, khuyến khích các nhân tài văn hóa Việt Nam đang ở nước ngoài đóng góp vào sự phát triển trong nước và kết nối hợp tác với thế giới, hợp lý vùng, miền, giới tính, dân tộc...

Bốn là, đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng để trở thành nhân tài cần được coi là đào tạo chuyên biệt, đào tạo đặc biệt. Đó là đào tạo mang tầm quốc gia và quốc tế để nhân tài Việt Nam ngang tầm quốc tế, thế giới. Do đó, không dàn trải, càng không thể đại trà, thiên về số lượng mà phải đặt chất lượng lên hàng đầu để có tài năng lớn, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật là lĩnh vực đòi hỏi phải có năng khiếu thật sự.

Phải có đầu tư lớn, đầu tư quốc gia trong chương trình hành động quốc gia, coi đó là đầu tư cho tương lai, cho phát triển theo chiều sâu.

Năm là, bảo đảm môi trường dân chủ, tự do, kích thích sự sáng tạo của các tài năng. Tạo dư luận xã hội tích cực, tôn vinh hiền tài, quý trọng nhân tài. Xây dựng văn hóa ứng xử với người tài trên tinh thần tôn trọng, tin cậy, khoan dung. Học tập tấm gương của Hồ Chí Minh trong giao tiếp, ứng xử, đối xử đầy lòng vị tha, khoan dung đối với nhân tài trí thức, văn hóa, khoa học, giáo dục, cũng như xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng với nhân tài văn hóa.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh tới khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới. Nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện khát vọng phát triển là đến giữa thế kỷ này, vào năm 2045, khi chính thể cộng hòa dân chủ do Bác Hồ sáng lập tròn 100 năm lịch sử, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định những đột phá chiến lược để phát triển nhanh và bền vững, nhất là đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, phải tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội... Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(1).

Để xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh sự cần thiết phải: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(2).

Những định hướng quan trọng này trong Văn kiện Đại hội XIII là cơ sở xác định những giải pháp cụ thể và thiết thực xây dựng nhân tài văn hóa ở nước ta hiện nay.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức xã hội, trước hết là nhận thức trong Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị về vai trò, tầm quan trọng sâu xa của văn hóa trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế để phát triển và hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược cần đổi mới tư duy để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, có tầm nhìn chiến lược về phát triển văn hóa để tạo ra những thay đổi tích cực, đặc biệt là từ nhận thức chung đến đổi mới chính sách, cơ chế, đầu tư nguồn lực... Chỉ khi nào nhãn quan văn hóa thấm nhuần trong tư duy đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp chiến lược ở Trung ương đến địa phương và có sự phối hợp chặt chẽ trong hành động giữa các cấp, các ngành mới tạo ra xung lực để đổi mới chính sách, cơ chế, rộng hơn là đổi mới thể chế phát triển như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh.

Để tư tưởng “quốc sách hàng đầu” đi vào thực tiễn, trở thành hiện thực thì không thể không quan tâm tới nhân tài văn hóa, không chỉ biểu hiện ở thái độ, tình cảm quý trọng, tin cậy mà còn phải có kế hoạch, chương trình, bước đi và mục tiêu trong chiến lược nhân tài quốc gia kèm theo các điều kiện thực hiện, trong đó có đầu tư nguồn lực tương xứng với yêu cầu của xây dựng và phát triển đội ngũ nhân tài, không để xảy ra hẫng hụt trong chuyển tiếp các thế hệ. Đây là trách nhiệm chung của toàn xã hội nhằm phát huy truyền thống quý trọng hiền tài của ông cha ta, song trước hết là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước.

Phát triển đội ngũ nhân tài văn hóa ở nước ta, cần chú trọng phát triển lĩnh vực văn học - nghệ thuật với những đầu tư toàn diện, đúng tầm, tương xứng với vai trò của văn hóa trong phát triển, đủ sức tạo ra “vườn ươm” các nhân tài văn hóa, làm nảy nở và phát triển các tài năng văn nghệ sĩ, từ đó sáng tạo ra các tác phẩm văn học nghệ thuật có tầm vóc dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh, đem lại hiệu ứng rộng lớn trong đời sống tinh thần xã hội và có tác dụng quảng bá những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế.

Thứ hai, trong xây dựng và thực hiện chiến lược nhân tài quốc gia cần đặc biệt chú trọng việc phát hiện năng khiếu, sở trường - những mầm mống ban đầu tạo dựng tài năng các nhân tài, đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công phu về học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ cùng với giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách, giáo dục tư tưởng chính trị để bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức dân tộc và trách nhiệm xã hội. Khơi dậy và phát huy niềm tự hào dân tộc, khát vọng, ý chí mãnh liệt về xây dựng, phát triển đất nước - con người - dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khát vọng và tâm nguyện.

Các nhân tài văn hóa trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, sáng tác, biểu diễn văn học nghệ thuật cần được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để họ thực sự trở thành những tài năng đích thực. Họ cần có am hiểu sâu sắc trong lĩnh vực chuyên môn trên cơ sở được trang bị một phông văn hóa rộng rãi, có tư chất sáng tạo, có phong cách và bản lĩnh riêng thực sự là những chủ thể đóng góp vào sự phát triển phong phú, đa dạng của văn hóa Việt Nam. Đối với các nhân tài văn hóa thuộc các dân tộc thiểu số cần có sự quan tâm đặc biệt, phát hiện và bồi dưỡng sớm các tài năng trẻ, có chính sách chăm sóc các nghệ nhân văn hóa truyền thống để họ trao truyền cho các thế hệ kế tiếp.

Giải pháp này không chỉ các mục đích đào tạo, bồi dưỡng các nhân tài văn hóa có tính thế hệ và kế thừa các thế hệ mà còn là bảo tồn, gìn giữ, phát huy di sản truyền thống, kết hợp truyền thống với hiện đại.

Thứ ba, vận dụng các chính sách đặc thù và cơ chế hợp lý trong sử dụng, đãi ngộ nhân tài văn hóa để tạo động lực phát triển nhân tài, nuôi dưỡng, kích thích và phát huy các tài năng sáng tạo văn hóa.

Đầu tư nguồn nhân lực cho phát triển văn hóa, trong đó có đầu tư để xây dựng và phát triển đội ngũ nhân tài văn hóa là đầu tư gián tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội, cho nuôi dưỡng tiềm lực quốc gia, là đầu tư phát triển đất nước trong hiện tại cũng như tương lai. Đây là đầu tư theo chiều sâu, thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhất là chủ động chuẩn bị thực lực quốc gia - dân tộc trong hội nhập quốc tế, đủ sức để thắng thế trong cạnh tranh, vượt qua các thách thức gay gắt trên con đường phát triển trong xu thế toàn cầu hóa, trong bối cảnh hội nhập.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa và tạo dựng dư luận xã hội tích cực để phát triển văn hóa, từ văn hóa gia đình, văn hóa cơ quan, công sở, văn hóa sản xuất - kinh doanh đến văn hóa lãnh đạo, quản lý,... nhằm thực hiện các giá trị văn hóa, các chuẩn mực của con người và lối sống Việt Nam thời hiện đại, từ môi trường ấy sẽ nảy nở những nhân tài văn hóa.

Để xây dựng môi trường văn hóa trong đời sống xã hội cần đề cao các giá trị đạo đức và tinh thần, giáo dục lý tưởng cách mạng gắn liền với giáo dục ý thức trách nhiệm công dân, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc, thường xuyên nuôi dưỡng khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân tộc cường thịnh và trường tồn. Coi trọng các giá trị công bằng và bình đẳng, dân chủ và tự do sáng tạo. Thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội như Đảng ta nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIII.

Xây dựng văn hóa trong Đảng, đưa các giá trị văn hóa vào trong Đảng, trong Nhà nước và hệ thống chính trị, chú trọng nêu gương, nhất là nêu gương về đạo đức trong cán bộ, đảng viên, công chức trong quan hệ công tác và ứng xử với người dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì đạo đức và văn hóa trong Đảng sẽ có tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc tới đạo đức và văn hóa trong xã hội. Do đó, nội dung xây dựng Đảng phải toàn diện, từ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ đến xây dựng Đảng về đạo đức và văn hóa. Môi trường văn hóa trong Đảng sẽ thúc đẩy môi trường văn hóa trong đời sống xã hội. Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh quyết tâm chính trị của Đảng là làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, củng cố bền chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Phải lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo về hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý, về năng lực phẩm chất của cán bộ, đảng viên, công chức - những đầy tớ, công bộc của dân.

Tạo lập môi trường văn hóa trong đời sống xã hội để nuôi dưỡng và phát triển các nhân tài văn hóa thì trước hết phải quan tâm xây dựng môi trường văn hóa trong Đảng, định hình vững chắc các giá trị đạo đức, nhân cách và văn hóa trong đảng viên, nhất là đảng viên làm lãnh đạo và trong từng tổ chức đảng. Những giá trị quan trọng không thể thiếu là: niềm tin vào lý tưởng, sự đoàn kết, nhất trí, năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, coi trọng danh dự, lương tâm, không tham danh vọng, quyền lực, trung thực, khiêm tốn, trọng dân, trọng pháp... Định hướng dư luận xã hội tích cực trong việc khẳng định, cổ vũ, đề cao các giá trị đạo đức, văn hóa, phê phán cái ác, cái xấu và những tiêu cực xã hội, nhất là lãng phí, tham nhũng, quý trọng, tôn vinh những nhân tài, hiền tài, có đóng góp và cống hiến cho đất nước. Đảng viên và các tổ chức đảng, công chức nhà nước và hệ thống công quyền, các đoàn viên, hội viên trong các tổ chức, đoàn thể của hệ thống chính trị phải làm nòng cốt và tiên phong trong mọi nỗ lực “ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội”(3). Tạo dựng môi trường văn hóa và dư luận xã hội tích cực là giải pháp rất quan trọng có tính đột phá để xây dựng nhân tài văn hóa.

Thứ năm, đổi mới các quy định và cách thức xét chọn, công nhận và trao tặng các danh hiệu vinh dự nhà nước đối với cá nhân và tập thể (danh hiệu anh hùng, các giải thưởng nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, các chức danh giáo sư, phó giáo sư, các danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, các nghệ nhân, các doanh nhân tài năng...) sao cho thật khách quan, công bằng, công tâm, minh bạch, thực chất. Những tôn vinh cao quý này phải dành cho những cá nhân và tập thể thật xứng đáng, nhận được sự đồng thuận cao trong đánh giá của dư luận xã hội, của nhân dân.

Nhân tài văn hóa là vốn quý của xã hội. Sự tôn vinh xã hội đối với các nhân tài văn hóa phải chọn đúng những tinh hoa, những người thực đức, thực tài mới có tác dụng thúc đẩy những tài năng trẻ vươn tới những đỉnh cao và thúc đẩy lao động sáng tạo vì sự phát triển của đất nước, sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc./.

GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO

Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

----------------

(1), (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 115 - 116, 143
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 143

Ý kiến của bạn