Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục nghề nghiệp ở nước ta hiện nay

Thứ 2, 03/08/2020 20:08 (GMT+7)

VNHN - Nguồn nhân lực chất lượng cao trong GDNN là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức chuyên môn; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao trong GDNN phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về đạo đức, tình cảm trong sáng.

Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

I. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

1. Công tác quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực chất lượng cao

Để định hướng phát triển nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực GDNN, ngày 6/6/2014, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 37-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao;

Liên quan đến đào tạo chất lượng cao, tính đến ngày 31/12/2018, đã có 58 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, trong đó có 3 luật, 06 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 45 thông tư và 03 thông tư liên tịch được ban hành có đề cập đến đào tạo chất lượng cao.

Ngày 30/11/2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BLĐTBXH Quy định tiêu chí xác định chương trình chất lượng cao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ sở GDNN tổ chức thực hiện đào tạo các chương trình chất lượng cao.

Thực hiện chủ trương đầu tư tập trung, trọng điểm, để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức lựa chọn, phê duyệt ngành, nghề trọng điểm và trường được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025.

Đối với các trường công lập (phê duyệt tại Quyết định số 1836/QĐ-LĐTBXH ngày 27/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Lựa chọn 134 ngành, nghề trọng điểm ở các cấp độ, gồm: 62 ngành, nghề cấp độ Quốc tế; 93 ngành, nghề cấp độ Khu vực ASEAN và 134 ngành, nghề cấp độ quốc gia tại 411 trường (250 trường Cao đẳng, 161 trường trung cấp), phân bố tại các Vùng: 65 trường Vùng Trung du miền núi phía Bắc; 130 trường Vùng Đồng bằng sông Hồng; 97 trường Vùng Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung; 16 trường Vùng Tây nguyên; 50 trường Vùng Đông Nam bộ và 53 trường Vùng Đồng bằng sông Cửu long.

Đối với các trường tư thục, trường có vốn đầu tư nước ngoài và trường thuộc doanh nghiệp nhà nước (phê duyệt tại Quyết định số 1839/QĐ-LĐTBXH ngày 28/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Lựa chọn 64 ngành, nghề trọng điểm ở các cấp độ, gồm: 18 ngành, nghề cấp độ Quốc tế; 28 ngành, nghề cấp độ Khu vực ASEAN và 64 ngành, nghề cấp độ quốc gia tại 50 trường (38 trường cao đẳng, 12 trường trung cấp), phân bố tại các Vùng: 04 trường Vùng Trung du miền núi phía Bắc; 24 trường Vùng Đồng bằng sông Hồng; 07 trường Vùng Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung; 14 trường Vùng Đông Nam bộ và 01 trường Vùng Đồng bằng sông Cửu long. 

Các ngành, nghề trọng điểm được lựa chọn là các ngành, nghề có nhu cầu nhân lực lớn phù hợp với yêu cầu phát triển nhân lực có tay nghề cao của ngành, địa phương, phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Các trường được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm là những trường có thế mạnh trong đào tạo, phù hợp với danh mục ngành, nghề trọng điểm đã được phê duyệt của Quyết định và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.

Từ năm 2014, theo Đề án 371, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã và đang triển khai thực hiện chuyển giao chương trình từ nước ngoài (Úc và Đức) và thí điểm đào tạo theo các bộ chương trình chuyển giao từ Úc và Đức cho khoảng 2.000 sinh viên, để khi tốt nghiệp ra trường sinh viên sẽ được cấp 02 bằng (bằng cao đẳng của Việt Nam và bằng của Úc hoặc của Đức).

Bên cạnh việc chuyển giao chương trình và đào tạo thí điểm theo chương trình chuyển giao từ Úc, Đức, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn phối hợp với chuyên gia, các tổ chức quốc tế thí điểm xây dựng chương trình đào tạo tiếp cận năng lực theo tiêu chuẩn của Pháp, Bỉ, Hàn Quốc; thí điểm đào tạo theo mô hình “đào tạo nghề kép” của Đức, Thụy Sỹ v.v...

Các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở GDNN cũng chủ động xây dựng các kế hoạch đào tạo nhân lực chất lượng cao thông qua các chương trình hợp tác, liên kết với nước ngoài; xây dựng các chương trình đào tạo tiếp cận với các chuẩn khu vực và quốc tế.

2. Công tác tuyển sinh và đổi mới chương trình, nội dung đào tạo chất lượng cao

Kết quả tuyển sinh vào GDNN của cả nước trong 5 năm (từ 2014 - 2018) được 8.781.901 người. Tính trung bình mỗi năm, cả nước tuyển sinh được trên 2 triêu người. Trong 2 năm (2017 - 2018) đã tuyển được hơn 2,2 triệu người/năm, trong đó: tuyển sinh CĐ, TC hơn 540 ngàn người/năm (chiếm 25% tổng tuyển sinh cả nước); tuyển sinh trình độ sơ cấp (SC) và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác hơn 1,6 triệu người/trên năm (chiếm 75% tổng tuyển sinh cả nước).

Trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2018, kết quả tuyển sinh tại 45 trường được lựa chọn ưu tiên đầu tư để thành trường chất lượng cao là: 640.082 người, trong đó trình độ cao đẳng và trung cấp là: 203.692 người; sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng là: 436.390 người .

Thực hiện Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 28/02/2013, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phê duyệt Kế hoạch và Quy định để tổ chức đào tạo thí điểm trình độ cao đẳng cho 12 nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, việc tổ chức đào tạo thí điểm 12 nghề trọng điểm quốc tế theo 12 bộ chương trình chuyển giao từ Úc tại 25 trường đang tổ chức đào tạo cho hơn 730 sinh viên với 41 lớp. Đến tháng 12/2019 sẽ kết thúc khóa đào tạo thí điểm này. Bộ đã chỉ đạo Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cùng các trường sẽ tiến hành tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm để tiến tới tổ chức đào tạo nhân rộng trong toàn hệ thống.

Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang tổ chức đào tạo thí điểm trình độ cao đẳng cho 22 nghề trọng điểm cấp độ quốc tế theo 22 bộ chương trình chuyển giao từ Đức bắt đầu vào cuối năm 2019. Có 45 trường tham gia thí điểm, với tổng số sinh viên là: 1.056 sinh viên.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục nghề nghiệp ở nước ta hiện nay

Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo

Ngay từ đầu năm 2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành 02 thông tư hướng dẫn về xây dựng chương trình, giáo trình và quy định về chuẩn đầu ra để làm căn cứ cho các trường xây dựng, ban hành chương trình, giáo trình đào tạo[1]. Đến nay, đã có 420 chuẩn đầu ra trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng được ban hành, đáp ứng cơ bản cho các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực, quốc tế và các ngành nghề phổ biến, làm cơ sở cho các cơ sở GDNN chỉnh sửa chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực người học và yêu cầu của thị trường lao động.

Do vậy, các chương trình đào tạo hiện nay đã được phát triển dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chuẩn đầu ra, được thực hiện theo phương pháp DACUM. Cấu trúc chương trình đào tạo được xây dựng theo mô đun, tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và thái độ nghề nghiệp..., đảm bảo sự liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo.

Nhiều cơ sở GDNN đã chủ động đổi mới phương pháp dạy và học, giảm thời gian lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy; gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo.

Thực hiện Đề án “Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế” giai đoạn 2012 - 2015 (Đề án 371), từ năm 2014 đến nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã thực hiện chuyển giao 34 bộ chương trình cấp độ quốc tế từ Úc và Đức (12 nghề từ Úc, 22 nghề từ Đức).

Các bộ chương trình theo từng nghề được chuyển giao đồng bộ, trọn gói và bao gồm:

- Về chương trình đào tạo gồm:

(1) Tiêu chuẩn kỹ năng nghề/tiêu chuẩn năng lực (được chỉnh sửa 10% để phù hợp với thị trường lao động của Việt Nam).

(2) Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng (được kiểm định quốc tế).

(3) Giáo trình/ tài liệu giảng dạy.

(4) Bộ tài liệu đánh giá kết quả học tập.

(5) Danh mục trang thiết bị cần thiết để giảng dạy.

- Về công nghệ đào tạo:

Giáo viên giảng dạy trong các chương trình chuyển giao được đào tạo tại nước chuyển giao, được cấp chứng chỉ đủ điều kiện tham gia giảng dạy các chương trình của nước chuyển giao. Trong quá trình đào tạo, giáo viên, chuyên gia của nước chuyển giao liên tục giám sát, hướng dẫn, uốn nắn giáo viên Việt Nam để tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá theo đúng tiêu chuẩn của nước chuyển giao.

Người học khi tốt nghiệp sẽ được cấp 02 bằng (bằng cao đẳng của Việt Nam và bằng cao đẳng của Úc hoặc Đức). Ngoài việc có kỹ năng nghề nghiệp được quốc tế công nhận, người học sau tốt nghiệp còn có năng lực tiếng Anh thấp nhất đạt trình độ B1 đến B2 theo Khung năng lực ngoại ngữ châu Âu để tham gia thị trường lao động trong nước, khu vực ASEAN và quốc tế hoặc có thể học liên thông lên trình độ cao hơn tại Úc, Đức hoặc các quốc gia tiên tiến khác.

Bên cạnh việc chuyển giao chương trình và đào tạo thí điểm theo chương trình chuyển giao từ Úc, Đức theo Quyết định 371/QĐ-TTg, trong khuôn khổ của các dự án ODA, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn phối hợp với chuyên gia, các tổ chức quốc tế thí điểm xây dựng chương trình đào tạo tiếp cận năng lực theo tiêu chuẩn của Pháp, Bỉ, Hàn Quốc; thí điểm đào tạo theo mô hình “đào tạo nghề kép” của Đức, Thụy Sỹ v.v...

Trong những năm gần đây, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xác định gắn kết GDNN với doanh nghiệp, thị trường lao động việc làm là một trong 3 đột phá của GDNN. Do vậy, doanh nghiệp, người sử dụng lao động không chỉ tham gia đánh giá chất lượng đào tạo, mà nhiều hoạt động gắn kết giữa GDNN với doanh nghiệp đã được thực hiện.

3. Xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nhân lực chất lượng cao

Trong 5 năm (2014 - 2018) đã đào tạo về kỹ năng quản lý ở nước ngoài cho 50 cán bộ quản lý GDNN; đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước về kỹ năng, nghiệp vụ quản trị cơ sở GDNN cho 3.700 lượt cán bộ quản lý cơ sở GDNN; 2.008 lượt cán bộ quản lý nhà nước về GDNN cấp tỉnh, cấp huyện).

Theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016 - 2020, có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý GDNN cho 12.000 cán bộ quản lý GDNN ở trong nước và đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho 300 cán bộ quản lý GDNN để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý GDNN chuyên nghiệp, hiệu quả.

Triển khai Quyết định nêu trên, hàng năm đã tiến hành thống kê, rà soát số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ quản lý cơ sở GDNN. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp và cán bộ quản lý cơ sở GDNN.

Về phát triển đội ngũ nhà giáo:

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 143 giáo viên ở Úc để dạy thí điểm 12 chương trình được chuyển giao từ Úc; đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho 280 nhà giáo của 25 trường được lựa chọn đào tạo thí điểm 12 nghề nhận chuyển giao từ Úc.

- Đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho 280 nhà giáo dạy các nghề được đầu tư trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia năm 2017 - 2018: 40 nhà giáo học trình độ B1 lên B2 khung năng lực ngoại ngữ chung châu Âu - CEFR, 240 nhà giáo từ trình độ A2 lên B1 CEFR.

- Triển khai kế hoạch bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho 280 nhà giáo dạy các nghề được đầu tư trọng điểm năm 2018-2019 từ trình độ A2 lên B1 CEFR (thực hiện 45% kế hoạch).

Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã cử 264 nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn, công nghệ đào tạo của CHLB Đức để đảm bảo đủ điều kiện giảng dạy thí điểm 22 nghề đã chuyển giao của Đức tại Việt Nam.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo GDNN giai đoạn từ năm 2015 đến nay đã mang lại hiệu quả cao cho toàn hệ thống GDNN. Số lượng các nhà giáo GDNN được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, sư phạm GDNN, ngoại ngữ, tin học,…ngày càng tăng góp phần nâng cao chất lượng GDNN.

4. Đánh giá chung

Nhận thức của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền, người dân và xã hội về GDNN nói chung về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã có chuyển biến.

Công tác quy hoạch mạng lưới trường chất lượng cao, nghề trọng điểm đã thực hiện; kịp thời, làm cơ sở cho việc chuẩn bị, tổ chức đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

Đã xây dựng chuẩn đầu ra, xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật; phát triển, thực hiện chương trình đào tạo tiếp cận các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

Năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN đã được nâng cao.

Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo trong các cơ sở GDNN nói chung, trong các trường được quy hoạch thành trường chất lượng cao được đầu tư, cải thiện và từng bước hiện đại; nhiều cơ sở GDNN đã có những nghề đạt tiêu chí kiểm định của Úc, Đức và Tổ chức ABET (Mỹ).

Nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo được đổi mới, thường xuyên cập nhật theo yêu cầu của thị trường lao động.

Chất lượng và hiệu quả GDNN có bước chuyển biến tích cực; kỹ năng nghề nghiệp của người tốt nghiệp các cơ sở GDNN đã được nâng lên nhất là ở các chương trình chất lượng cao.

Bắt đầu hình thành mô hình đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua các chương trình đào tạo chuyển giao.

Việc tăng cường gắn kết với doanh nghiệp trong tổ chức đào tạo, giải quyết việc làm cho HSSV sau tốt nghiệp bước đầu đi vào chiều sâu, hoạt động hiệu quả.

Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN được đẩy mạnh cả về qui mô, hiệu quả, hình thức và đa dạng hóa về nội dung.

Một số khó khăn, hạn chế

Việc triển khai đào tạo chất lượng cao (phát triển nghề trọng điểm, trường nghề chất lượng cao và thí điểm đào tạo cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN theo chương trình chuyển giao từ nước ngoài...) còn chậm theo tiến độ.

Một số ngành nghề được lựa chọn là nghề trọng điểm của trường chất lượng cao nhưng rất khó tuyển sinh như: Khảo sát địa hình, Bảo vệ môi trường biển, Cơ điện lạnh thủy sản, Xây dựng cầu đường bộ…

Chất lượng, hiệu quả đào tạo của một số cơ sở GDNN mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Việc gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo còn hạn chế.

Công tác quản lý và kiểm soát chất lượng GDNN nói chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định.

Việc huy động các nguồn lực đầu tư cho GDNN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Việc triển khai tự chủ tại các cơ sở GDNN chưa đồng bộ và mạnh mẽ; cơ chế đặt hàng giao nhiệm vụ trong lĩnh vực GDNN còn chưa rõ.

Chưa có cơ chế, chính sách tôn vinh, khen thưởng đối với giáo viên và các nghệ nhân ở các làng nghề tích cực tham gia đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân lực chất lượng cao.

- Công tác nghiên cứu khoa học trong GDNN còn hạn chế.

Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế

Chưa có quy hoạch, dự báo nguồn nhân lực, bao gồm cả nhân lực chất lượng cao sát với thị trường lao động. Các điều kiện đảm bảo chất lượng GDNN vẫn còn bất cập; nguồn lực đầu tư cho GDNN nói chung, cho đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng còn thấp.

Các cơ chế, chính sách cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nhân lực chất lượng cao còn chưa hoàn thiện; chưa có hướng dẫn cụ thể cơ chế chính sách để phát triển trường nghề chất lượng cao.

Ngân sách nhà nước đầu tư cho GDNN những năm gần đây tuy có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo chất lượng cao; nguồn kinh phí chương trình mục tiêu hàng năm được phân bổ ít, không đáp ứng nhu cầu kinh phí theo kế hoạch hàng năm.

II. Nhiệm vụ, giải pháp

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý nhà nước của các cấp chính quyền; tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức đối với công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự quản lý của Nhà nước, sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và tổ chức chính trị - xã hội đối với GDNN. Các cấp ủy đảng, chính quyền thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc, định kỳ hàng năm tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm quá trình thực hiện Chị thị 37-CT/TW của Ban Bí thư về đào tạo nhân lực có chất lượng cao;

- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo trong thông tin và truyền thông, tạo sự chuyển biến về nhận thức, sự đồng thuận và huy động sự tham gia của toàn xã hội đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN nói chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng;

- Nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy, các đơn vị trong ngành nhất là các cấp ủy, thủ trưởng đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng của đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với việc phát triển nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển GDNN nói chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng; chỉ đạo các tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng, các đơn vị trực thuộc và các cơ sở GDNN xây dựng kế hoạch thực hiện thiết thực, hiệu quả.

2. Thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN nói chung, cơ sở GDNN chất lượng cao nói riêng bảo đảm tinh gọn, cơ cấu hợp lý, hoạt động hiệu quả

- Tiếp tục rà soát, sắp xếp để quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN nói chung, cơ sở GDNN đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng theo hướng đồng bộ, hiện đại, đảm bảo yêu cầu phát triển về quy mô, chất lượng; chú trọng việc huy động các nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới các cơ sở GDNN;

- Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN theo hướng mở, bảo đảm quy mô, cơ cấu, hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo (đa ngành, chuyên ngành), vùng miền, chuẩn hóa, hiện đại hóa, có phân tầng chất lượng;

- Sắp xếp, tổ chức lại cơ sở GDNN công lập nhằm giảm mạnh đầu mối, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả GDNN, khắc phục chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; bảo đảm đến năm 2020 giảm tối thiểu 10% (bình quân mỗi năm giảm tối thiểu 2,5%) cơ sở GDNN công lập so với năm 2015;

- Việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở GDNN công lập phải dựa trên cơ sở rà soát các tiêu chí, điều kiện sáp nhập, giải thể; các cơ sở GDNN mới được hình thành sau quá trình chia, tách, sáp nhập phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị định số 143/2016/NĐ-CP và Nghị định 140/2018/NĐ-CP; bảo đảm quyền lợi của giáo viên, cán bộ quản lý và người học sau quá trình sáp nhập, giải thể;

- Việc sắp xếp, tổ chức lại cơ sở GDNN công lập của bộ, ngành, địa phương phải phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề nghiệp của bộ, ngành và quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương;

- Xây dựng đề án phát triển và nâng cao chất lượng làm căn cứ đầu tư và giao kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các trường chuyên biệt, đặc thù;

- Tập trung nguồn lực đầu tư một số cơ sở GDNN chất lượng cao, ngành, nghề trọng điểm đã được quy hoạch theo các cấp độ (quốc tế, khu vực ASEAN, quốc gia);

-  Chỉ thành lập mới cơ sở GDNN công lập ở những nơi thực sự cần thiết, đồng thời cam kết tự chủ và bảo đảm có đủ điều kiện quy định về đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực GDNN; khuyến khích thành lập mới cơ sở GDNN ngoài công lập và có vốn đầu tư nước ngoài, ưu tiên doanh nghiệp thành lập cơ sở GDNN.

3. Tiếp tục chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hệ thống GDNN theo chuẩn khu vực và quốc tế; tổ chức, quản lý đào tạo tiên tiến

- Ban hành tiêu chuẩn nghề kỹ năng nghề quốc gia, chuẩn đầu ra cho từng trình độ, các chuẩn về điều kiện bảo đảm chất lượng, các định mức kinh tế - kỹ thuật cho các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế, các ngành nghề theo nhu cầu của thị trường lao động;

- Ban hành các chuẩn và đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa cho nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN; dự thảo tiêu chuẩn người dạy tại các doanh nghiệp; xây dựng và triển khai chương trình chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực GDNN;

- Phát triển chương trình đào tạo tiếp cận chuẩn của các nước trong khu vực và thế giới; đẩy mạnh đào tạo theo phương thức tích lũy mô đun, tín chỉ tại các trường được quy hoạch là trường chất lượng cao;

- Tổ chức nhân rộng đào tạo cho sinh viên của các nghề trọng điểm cấp độ quốc tế theo chương trình chuyển giao từ Úc; triển khai thí điểm đào tạo chương trình chất lượng cao quốc tế theo các chương trình chuyển giao từ Đức;

- Thí điểm triển khai chương trình đào tạo liên thông chất lượng cao từ trung cấp lên cao đẳng đối với đối tượng tốt nghiệp THCS;

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động đào tạo, quản trị nhà trường, trước mắt tập trung vào việc tuyển sinh trực tuyến, quản lý kết quả đào tạo, văn bằng trực tuyến; hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông, phương tiện và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư;

- Ban hành các chuẩn về cơ sở vật chất, thiết bị cho các ngành nghề trọng điểm; tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường chất lượng cao, trường được lựa chọn đầu tư nghề trọng điểm, các trường đại học sư phạm kỹ thuật và các trường chuyên biệt;

- Đẩy mạnh kiểm định chất lượng GDNN; xây dựng, cập nhật tiêu chuẩn nghề quốc gia đảm bảo tương thích với tiêu chuẩn nghề khu vực ASEAN, APEC; xúc tiến đàm phán, công nhận kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN và quốc tế.

4. Đẩy mạnh gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

- Ký kết hợp tác với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong việc cùng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho doanh nghiệp (Vinfast, Samsung, FPT.....);

- Rà soát, triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp khi tham gia hoạt động GDNN, đồng thời nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách mới thúc đẩy doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao;

- Nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án với các tổ chức quốc tế trong hoạt động gắn kết GDNN với doanh nghiệp, trong đào tạo nhân lực tay nghề cao (Tổ chức GIZ, Dự án Đan Mạch, Dự án Na Uy, Dự án Úc (Dự án Aus4skills); thí điểm cơ chế tổ chức hoạt động của các hội đồng kỹ năng ngành/ban tư vấn chất lượng trong khuôn khổ các dự án làm cơ sở để thể chế hóa mô hình này trong các quy định pháp luật

5.Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN; thúc đẩy xã hội hóa GDNN

- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số chính sách, pháp luật về GDNN nói chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch và phù hợp với yêu cầu thực tiễn;

- Xây dựng chương trình mục tiêu, đề án, dự án đổi mới GDNN trong giai đoạn mới 2020 - 2025 gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao cho từng lĩnh vực cụ thể và đào tạo lại nhân lực lao động đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư;

- Thí điểm thực hiện đổi mới cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước sang cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo nhân lực chất lượng cao căn cứ vào số lượng, chất lượng đầu ra hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ đào tạo nghề nghiệp chất lượng cao;

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước về GDNN. Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của ngành làm công tác quản lý nhà nước về GDNN theo hướng hiện đại. Xây dựng cơ chế để người học và người sử dụng lao động tham gia chủ động vào đánh giá chất lượng đào tạo;

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong GDNN;

- Đẩy mạnh xã hội hóa trong các cơ sở GDNN. Xây dựng kế hoạch, vận động, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có uy tín liên doanh, liên kết đầu tư cơ sở vật chất, liên kết đào tạo, chuyển giao công nghệ cho các cơ sở GDNN; huy động toàn xã hội tham gia phát triển GDNN và đào tạo nhân lực có chất lượng cao.

PV (theo BC của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp,

Bộ Lao động-Thương binh và xã hội)


[1] Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày 01/03/2017 Quy định về quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình; tổ chức biên soạn, lựa chọn, thẩm định giáo trình đạo tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và Thông tư số 12/2017/TT-BLĐTBXH 20/04/2017 Quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng;

Ý kiến của bạn