05/05/2026 lúc 18:23 (GMT+7)
Breaking News

Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rất tốt đẹp; để lại dấu ấn sâu đậm về một Đại hội “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá – Phát triển với tinh thần tự lực, tự cường, tự hào, tự tin tiến mạnh vào kỷ nguyên mới. Những chủ trương, quyết sách về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Văn kiện Đại hội XIV thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng; là yếu tố quyết định bảo đảm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng.

Ảnh minh họa - TL

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nội dung quan trọng trong các văn kiện Đại hội của Đảng. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, chúng ta đã vươn lên thoát khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Tư duy mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tư duy mới của Đảng thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện về “Xây dựng cơ chế đặc thù để đào tao nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đột phá các ngành khoa học, công nghệ chiến lược, công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi”. Thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của đất nước. “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị”. Trong đánh giá cán bộ hay nguồn nhân lực trình độ cao phải dân chủ, thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định nguồn nhân lực chất lượng cao theo đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước. “Phải có tầm nhìn xa trong chuẩn bị đội ngũ cán bộ, bảo đảm sự kế thừa, tiếp bước vững vàng giũa các thế hệ. Xây dựng cơ chế lựa chọn, bố trí đúng cán bộ tốt, hội tụ đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ tầm, đủ sức, đủ nhiệt huyết cách mạng vào vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị để gánh vác trọng trách lịch sử của đất nước”; nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Đảng ta khẳng định, xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển bền vững đất nước, góp phần vào việc tạo lập mô hình tăng trưởng mới, với đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đó, để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần gắn kết chặt chẽ với thể chế đột phá phát triển khoa học, công nghệ khi Đảng ta coi phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính cho phát triển đất nước. Để có thể vượt qua được điểm nghẽn về chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã coi việc chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Để xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tăng cường hợp tác công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cao. Chủ động đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ; xây dựng mạng lưới đổi mới sáng tạo, thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; người Việt Nam ở nước ngoài. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh, môi trường hoạt động sáng tạo cho đội ngũ chuyên gia, nhất là những chuyên gia giỏi, có nhiều cống hiến cho đất nước.

Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Đảng ta xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là một trong 3 đột phá chiến lược, là “chìa khóa vàng” để mở cửa tương lai, đưa Việt Nam phát triển thịnh vượng, hùng cường trong giai đoạn cách mạng mới.

Trước hết, tăng cường đổi mới, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây vừa là định hướng vừa là giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Hệ thống cơ chế, chính sách có vai trò rất quan trọng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, tạo động lực thúc đẩy hoặc lực cản kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng. Trên thực tế, những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới có tác động tích cực đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các chính sách đó đã bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập, hiệu quả mang lại chưa tương xứng. Do đó, để tiếp tục phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có hiệu quả đòi hỏi cần phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được thực hiện đồng bộ trên nhiều phương diện, như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổ mới sáng tạo, môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, chính sách phát triển thị trường lao động, các điều kiện nhà ở, sinh sống, định cư,... Trong đó, trước hết cần coi trọng việc tạo lập các cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đổi mới chính sách tuyển dụng, bố trí sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được triển khai theo hướng công khai, công tâm, khách quan, chính xác, dựa trên cơ sở phẩm chất và năng lực thực chất.

Hai là, tiếp tục ra soát, chuẩn hóa, thực hiện chặt chẽ công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tao, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây vừa là giải pháp vừa là yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chặt chẽ công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng xây dựng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, quan tâm, đào tạo nguồn cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ khoa học, kỹ thuật; tăng cường nguồn lưc cán bộ cho các địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ. Đồng thời, “Khẩn trương triển khai Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững, nghiên cứu cơ chế tạo sự liên thông giữa khu vực công và khu vực tư”

Ba là, chú trọng đột phá về đãi ngộ, tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện chính sách tiền lương linh hoạt theo tiêu chí tài năng và hiệu quả đóng góp. Theo đó, tạo môi trường làm việc thuận lợi và cơ hội thăng tiến để tạo động lực, kích thích, khuyến khích họ lao động sáng tạo và hiệu quả. Bảo đảm đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc, nghiên cứu cho những nhà khoa học, những chuyên gia giởi, tài năng trẻ. Thường xuyên tôn vinh nhân tài đi kèm cơ chế khuyến khích về lợi ích vật chất đối với những người có cống hiến mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Mặt khác, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý từ Trung ương đến địa phương nhằm tạo môi trường thuận lợi phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích phát triển thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao; thị trường và sản phẩm khoa học - công nghệ theo hướng hội nhập, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển các ngành, nghề kinh doanh mới ở Việt Nam.

Bốn là, đổi mơi, toàn diện giáo dục và đào tạo nghề nghiệp theo chuẩn hóa năng lực. Quán triệt và thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, về xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới. Đảng ta khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả các quyeetssachs chiến lược nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”. Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành nghề trọng điểm chiến lược”. Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Để thực hiện phát triển nguồn nhân lực, trong kỷ nguyên mới; đòi hỏi phải chuyển từ giáo dục hàn lâm sang giáo dục năng lực (chương trình học dựa trên chuẩn đầu ra, kết hợp lý thuyết với thực hành, kỹ năng tư duy phản biện, sáng tạo); đổi mới giáo dục-đào tạo nghề nghiệp (áp dụng mô hình đào tạo kép thông qua kết hợp giữa trường nghề và doanh nghiệp; chuẩn hóa hệ thống đánh giá tay nghề theo tiêu chuẩn ASEAN và quốc tế); tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho trường nghề, trung tâm kỹ thuật số, trung tâm AI - dữ liệu lớn; đẩy mạnh đào tạo trực tuyến, học tập suốt đời; phổ cập kỹ năng số cơ bản cho toàn dân.

Năm là, đẩy mạnh liên kết chặt chẽ giữa nhà nước - Nhà trường và doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội XIV cả Đảng khẳng định: “Đổi mới hệ thống giáo dục ntheo hướng mở, liên thông giữa các phương thức, trình độ và cấp học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hóa chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra. Coi trọng các môn khoa học cơ bản, nền tảng”. Đây là điều kiện để bảo đảm đầu ra nhân lực phù hợp với nhu cầu xã hội. Để thúc đẩy sự liên kết này cần thành lập hội đồng kỹ năng ngành, gồm đại diện bộ quản lý, hiệp hội doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, có nhiệm vụ xác định tiêu chuẩn kỹ năng, đặt hàng đào tạo; xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo từ doanh nghiệp (doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình học, hỗ trợ học bổng, thực tập, tuyển dụng sau tốt nghiệp: thành lập Quỹ hợp tác đào tạo - nghiên cứu để tài trợ đề tài, dự án người học - doanh nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; có cơ chế thuế ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo nhân lực. Cùng với đó, cần có chính sách phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài. Đảng ta chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế phát hiện, tuyển chọn, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài; khuyến khích tự do sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”. Đây là quan điểm mang tính đột phá. Để thực hiện chính sách đột phá này đòi hỏi sửa đổi cơ chế tuyển dụng công chức, viên chức (từ thi tuyển truyền thống sang đánh giá năng lực, kết quả công việc, phỏng vấn tình huống); xây dựng cơ chế trả lương - thưởng đặc thù (trả lương theo vị trí, năng lực, hiệu quả; cơ chế khoán theo sản phẩm và thưởng sáng kiến); xây dựng “Hồ sơ năng lực quốc gia” để công dân có thể tích hợp bằng cấp, chứng chỉ, thành tích trong một hệ thống dữ liệu mở, phục vụ tuyển dụng.

Phát triển nguồn nhân lực luôn là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là nhu cầu khách quan mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường./.

Đại tá, PGS, TS KHQS TRẦN NAM CHUÂN

Nguyên Cán bộ Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam