Từ đào tạo nhân lực, nghiên cứu công nghệ lõi đến chuyển giao và thương mại hóa, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực bán dẫn đang chuyển dần từ kết nối sang triển khai thực chất. Đây không chỉ là câu chuyện của một ngành công nghệ chiến lược, mà còn mở ra một hướng đi quan trọng để Việt Nam từng bước nâng cao năng lực nội sinh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu và thúc đẩy hành trình chuyển đổi số quốc gia.


Ảnh minh họa - TL
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, điện toán hiệu năng cao, xe điện và các hệ thống tự động hóa đang làm gia tăng nhu cầu đối với vi mạch, công nghiệp bán dẫn ngày càng giữ vai trò nền tảng đối với nền kinh tế số. Đối với Việt Nam, phát triển bán dẫn đồng thời đặt ra yêu cầu về nhân lực, nghiên cứu khoa học, hạ tầng công nghệ, năng lực doanh nghiệp và khả năng kết nối với những trung tâm công nghệ lớn trên thế giới.
Hội thảo Bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 2 năm 2026, diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 20-21/9, cho thấy hợp tác giữa hai nước đang được mở rộng theo hướng đa tầng, với sự tham gia của cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia và doanh nghiệp. Đáng chú ý, hợp tác không chỉ tập trung vào thu hút đầu tư mà đang đi sâu vào đào tạo, nghiên cứu chung, phát triển phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Từ lợi thế bổ trợ đến cấu trúc hợp tác mới
Trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ thường tham gia ở những công đoạn khác nhau, từ nghiên cứu vật liệu, thiết kế, chế tạo wafer, đóng gói - kiểm thử đến phát triển sản phẩm ứng dụng. Việc xây dựng năng lực đầy đủ ở tất cả các khâu đòi hỏi nguồn lực rất lớn, trình độ công nghệ cao và thời gian dài.
Vì vậy, với Việt Nam, một hướng tiếp cận phù hợp là xác định những mắt xích có lợi thế, đồng thời hình thành năng lực nghiên cứu và doanh nghiệp đủ khả năng từng bước mở rộng phạm vi tham gia.
Trong cấu trúc đó, Nhật Bản có nhiều thế mạnh có thể bổ trợ cho Việt Nam, đặc biệt ở vật liệu, thiết bị chế tạo, công nghệ sản xuất chính xác và kiểm soát chất lượng. Trong khi đó, Việt Nam có lợi thế về lực lượng lao động trẻ, nền sản xuất điện tử đang phát triển, thị trường công nghệ mở rộng và khả năng thu hút các hoạt động sản xuất công nghệ cao. Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá chính sự bổ trợ này đang tạo nền tảng cho hợp tác nhân lực và công nghệ giữa hai nước.
Điểm đáng chú ý là hợp tác bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản đang được triển khai theo hướng không dừng ở việc đưa một số công đoạn sản xuất sang Việt Nam. Một hệ sinh thái bền vững cần có sự liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Nếu chỉ tập trung vào thu hút các dự án sản xuất, giá trị mà nền kinh tế nhận được có thể chủ yếu nằm ở việc làm và sản lượng. Nhưng nếu cùng lúc xây dựng được năng lực thiết kế, nghiên cứu vật liệu, phát triển IP, đào tạo kỹ sư và hình thành các doanh nghiệp công nghệ nội địa, giá trị tạo ra sẽ có khả năng lan tỏa rộng hơn.
Đây cũng là lý do vấn đề nhân lực được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển bán dẫn.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực bán dẫn trình độ đại học trở lên, trong đó 15.000 người thuộc lĩnh vực thiết kế và 35.000 người phục vụ các công đoạn sản xuất, đóng gói và kiểm thử. Mục tiêu này cho thấy quy mô của bài toán nhân lực không chỉ nằm ở số lượng kỹ sư được đào tạo mà còn ở khả năng tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Đào tạo vì thế cần chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức sang đào tạo gắn với phòng thí nghiệm, dự án công nghệ, dây chuyền sản xuất và các bài toán cụ thể. Sinh viên cần được tiếp cận thiết kế chip, mô phỏng, kiểm thử, vật liệu, thiết bị và quy trình sản xuất ngay trong quá trình học.
Trong phương diện này, hợp tác với Nhật Bản có thể tạo ra một không gian thử nghiệm quan trọng. Các trường đại học và viện nghiên cứu hai nước có thể cùng xây dựng chương trình đào tạo, trao đổi chuyên gia, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và phát triển phòng thí nghiệm dùng chung.
Quan trọng hơn, quá trình đào tạo có thể gắn trực tiếp với những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, qua đó biến nguồn nhân lực từ “đầu vào” của ngành bán dẫn thành một phần của quá trình tạo ra công nghệ.
Từ nghiên cứu chung đến làm chủ công nghệ lõi
Một dấu hiệu đáng chú ý trong hợp tác Việt Nam - Nhật Bản năm 2026 là sự chuyển dịch từ hoạt động kết nối sang những dự án nghiên cứu cụ thể.
Tháng 7/2026, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) công bố và ký kết hợp đồng tài trợ 5 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực bán dẫn. Các nhiệm vụ trải rộng từ vật liệu, thiết kế vi mạch đến chip ứng dụng AI, IoT và quản lý năng lượng.
Năm hướng nghiên cứu được lựa chọn gồm vi mạch tích hợp 3D sử dụng công nghệ CFET; vật liệu bán dẫn tiên tiến cho transistor có độ linh động điện tử cao; vật liệu bán dẫn phục vụ cảm biến tích hợp và thiết bị năng lượng tái tạo; chip AI SoC bảo mật dựa trên kiến trúc RISC-V đa lõi kết hợp bộ tăng tốc AI; cùng vật liệu và linh kiện điện tử công suất sử dụng chất bán dẫn vùng cấm rộng.
Danh mục này có ý nghĩa ở chỗ các dự án không chỉ hướng tới một sản phẩm thương mại trước mắt mà còn tiếp cận những vấn đề công nghệ nằm sâu trong chuỗi giá trị.
Đối với một quốc gia đang xây dựng năng lực bán dẫn, nghiên cứu vật liệu và thiết bị có thể tạo ra nền tảng dài hạn. Thiết kế chip giúp nâng cao hàm lượng tri thức. Các nghiên cứu về AI SoC, IoT hay điện tử công suất lại mở ra khả năng kết nối công nghệ bán dẫn với những thị trường ứng dụng đang tăng trưởng nhanh.
Đặc biệt, chip chuyên dụng có thể trở thành một hướng tiếp cận đáng chú ý. Trong tháng 9/2026, các chuyên gia và doanh nghiệp tại một hội thảo về chip bán dẫn chuyên dụng tại Việt Nam cũng thảo luận về khả năng tập trung vào những sản phẩm phù hợp với năng lực hiện tại, qua đó từng bước nâng cao giá trị gia tăng và mức độ làm chủ công nghệ.
Điều này gợi mở một cách tiếp cận khác với tư duy “phải làm tất cả”. Thay vì ngay lập tức hướng tới những phân khúc đòi hỏi vốn và công nghệ cực lớn, Việt Nam có thể phát triển các dòng chip phục vụ những nhu cầu cụ thể của nền kinh tế như AIoT, quản lý năng lượng, viễn thông, y tế, ô tô, nông nghiệp công nghệ cao hay an ninh mạng.
Khi sản phẩm được hình thành từ những bài toán thực tế trong nước, doanh nghiệp có thể có thị trường thử nghiệm ban đầu. Sau đó, thông qua hợp tác quốc tế, sản phẩm có thể được hoàn thiện để tham gia những thị trường rộng hơn.
Một hệ sinh thái như vậy đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và thị trường. Đại học không chỉ cung cấp nhân lực; viện nghiên cứu không chỉ tạo ra công bố; doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận nhân lực. Ba chủ thể cần cùng tham gia xác định bài toán, chia sẻ hạ tầng và đồng phát triển sản phẩm.
Đại học Quốc gia Hà Nội đang phát triển Trung tâm Quốc gia Hỗ trợ Thiết kế, Chế tạo và Kiểm thử Vi mạch tích hợp, hướng tới xây dựng nền tảng dùng chung cho đào tạo, nghiên cứu, phát triển công nghệ và hợp tác doanh nghiệp. Trường Đại học Việt Nhật được kỳ vọng đóng vai trò đầu mối kết nối Việt Nam - Nhật Bản về đào tạo và nghiên cứu bán dẫn.
Đây có thể xem là một mô hình đáng chú ý trong quá trình hình thành hạ tầng mềm của ngành bán dẫn: không nhất thiết mỗi trường đại học hay doanh nghiệp phải tự xây dựng toàn bộ hệ thống phòng thí nghiệm, mà có thể hình thành các trung tâm dùng chung để giảm chi phí, tăng khả năng tiếp cận thiết bị và thúc đẩy hợp tác nghiên cứu.
Xây dựng năng lực nội sinh để đi xa hơn trong chuỗi giá trị
Hợp tác quốc tế có thể tạo ra động lực mạnh cho ngành bán dẫn, nhưng về dài hạn, năng lực nội sinh vẫn là yếu tố quyết định khả năng duy trì và mở rộng vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Đây là điểm cần được nhìn nhận rõ khi triển khai các chương trình hợp tác với Nhật Bản. Một dự án nghiên cứu thành công không chỉ nên được đo bằng số bài báo khoa học hay số hội thảo được tổ chức. Giá trị lâu dài cần được thể hiện qua số nhân lực được đào tạo, công nghệ được tiếp nhận, bằng sáng chế và tài sản trí tuệ được hình thành, nguyên mẫu được phát triển, doanh nghiệp tham gia và sản phẩm được thương mại hóa.
Chính Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh hiệu quả hợp tác cần được thể hiện bằng nhân lực được đào tạo, công nghệ được chuyển giao và sản phẩm được thương mại hóa.
Đây là cách tiếp cận quan trọng để tránh một thách thức phổ biến của hợp tác công nghệ: nhiều chương trình tạo ra kết nối tốt nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng lực sản xuất và kinh doanh.
Để khắc phục, cần xây dựng một chuỗi liên tục từ đào tạo → nghiên cứu → thử nghiệm → sở hữu trí tuệ → sản xuất thử → thương mại hóa.
Trong chuỗi này, Nhà nước có vai trò kiến tạo thông qua chính sách, tài chính nghiên cứu, hạ tầng dùng chung và cơ chế thử nghiệm. Trường đại học và viện nghiên cứu tạo ra tri thức và nhân lực. Doanh nghiệp xác định nhu cầu thị trường, đầu tư và đưa sản phẩm ra thị trường. Đối tác quốc tế cung cấp công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới nghiên cứu và khả năng kết nối chuỗi cung ứng.
Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản có điều kiện để phát triển theo mô hình này khi hai bên đã bắt đầu hình thành các dự án nghiên cứu chung cụ thể. Năm dự án công bố trong tháng 7/2026 được xem là bước chuyển từ kết nối sang triển khai thực chất; các chương trình cũng hướng tới đào tạo đội ngũ nghiên cứu trẻ và hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Chuyển giao công nghệ chỉ có ý nghĩa khi bên tiếp nhận đủ năng lực vận hành, cải tiến và phát triển tiếp công nghệ.
Do đó, chính sách phát triển bán dẫn cần song hành với chính sách phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa. Các doanh nghiệp Việt Nam cần được khuyến khích tham gia từ những công đoạn có hàm lượng kỹ thuật phù hợp, từng bước nâng cấp năng lực thiết kế, kiểm thử, đóng gói, phát triển vật liệu và sản phẩm chuyên dụng.
Nếu doanh nghiệp nội địa chỉ đứng ngoài chuỗi cung ứng, sự phát triển của ngành có nguy cơ phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp FDI. Ngược lại, khi doanh nghiệp trong nước trở thành một mắt xích thực sự, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, nhân lực và năng suất sẽ lớn hơn.
Ở góc độ chuyển đổi số, điều này càng có ý nghĩa. Bán dẫn không phải một ngành đứng riêng mà là hạ tầng vật chất của nền kinh tế số. Từ trung tâm dữ liệu, AI, thiết bị thông minh, viễn thông, xe điện đến hệ thống y tế và năng lượng, nhu cầu về chip ngày càng gắn với năng lực vận hành của nhiều ngành kinh tế.
Vì vậy, đầu tư cho bán dẫn cũng đồng nghĩa với đầu tư cho năng lực chuyển đổi số dài hạn. Hành trình này chắc chắn không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Công nghiệp bán dẫn đòi hỏi vốn lớn, chu kỳ nghiên cứu dài, tiêu chuẩn kỹ thuật cao và hệ thống nhân lực chuyên sâu. Việt Nam cũng phải cạnh tranh với nhiều trung tâm bán dẫn đã có vị trí vững chắc trong khu vực và trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, hợp tác với Nhật Bản cần được nhìn như một quá trình tích lũy năng lực thay vì một chương trình thu hút đầu tư đơn thuần.
Từ những phòng thí nghiệm chung, các chương trình đào tạo, nhóm nghiên cứu, dự án chip chuyên dụng đến các sản phẩm thương mại hóa, mỗi bước tiến đều góp phần tạo nên năng lực công nghệ mới.
Nếu kết nối được các mắt xích này, Việt Nam có thể hình thành một hệ sinh thái bán dẫn có độ mở cao, trong đó hợp tác quốc tế là nguồn lực quan trọng nhưng năng lực nội sinh là nền tảng.
Hội thảo Bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 2 năm 2026 vì thế không chỉ là một diễn đàn trao đổi về công nghệ. Quan trọng hơn, đây là một điểm kết nối giữa tri thức - nhân lực - nghiên cứu - doanh nghiệp - thị trường, những thành tố quyết định khả năng Việt Nam tiến sâu hơn vào nền kinh tế số.
Trong hành trình số của Việt Nam, bán dẫn là một trong những nền móng công nghệ quan trọng. Nhật Bản, với thế mạnh về vật liệu, thiết bị, sản xuất chính xác và kinh nghiệm công nghiệp, có thể là đối tác quan trọng trong quá trình xây dựng nền móng đó. Phần còn lại thuộc về khả năng tổ chức hệ sinh thái, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và biến kết quả hợp tác thành sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị kinh tế cụ thể.
Đó cũng là thước đo thực chất nhất của một hành trình công nghệ: không chỉ tiếp cận được công nghệ, mà từng bước hiểu, làm chủ, cải tiến và tạo ra giá trị mới từ công nghệ.
NCS Hoàng Minh Tiến
__________________________________________
Tài liệu tham khảo
- Báo Điện tử Chính phủ, “Việt Nam - Nhật Bản tăng cường hợp tác phát triển công nghiệp bán dẫn”, 21/9/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ, “Việt Nam - Nhật Bản triển khai 5 nhiệm vụ nghiên cứu bán dẫn chiến lược”, 22/7/2026.
- Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), “Việt Nam – Nhật Bản triển khai 5 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu lĩnh vực bán dẫn”, 22/7/2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, “Nhân lực là ‘chìa khóa’ mở rộng hợp tác bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản”, 21/9/2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, “Bộ KH&CN công bố 5 dự án hợp tác nghiên cứu chip bán dẫn Việt Nam - Nhật Bản”, 2/5/2026.



