05/02/2026 lúc 20:31 (GMT+7)
Breaking News

Thơ Việt và vấn đề Hội nhập

Nhà thơ Trần Nhuận Minh của Việt Nam với phong cách nghệ thuật độc đáo và những tác phẩm thơ ca tuyển chọn đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong hơn ba thập niên qua giành được sự đồng cảm rộng rãi ở cả trong và ngoài nước. Ông là tác giả của 52 tập thơ, trong đó có 31 tập thơ tiếng Việt, và thơ ông đã được dịch ra 21 ngôn ngữ ở 24 quốc gia. Trong bài phỏng vấn về "Thơ Việt và vấn đề Hội nhập", ông đã có những câu trả lời sâu sắc về hồn cốt và vị thế của thơ ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt là "thơ thế sự" mà ông theo đuổi. Mời quý độc giả cùng chiêm nghiệm chia sẻ của nhà thơ về sức mạnh, năng lượng nội tại và vai trò của thơ Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh

- Thưa ông, thơ của Ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và nhận được sự đồng cảm ở cả những vùng khí hậu khác biệt. Theo Ông, điều gì trong hồn cốt, giá trị nhân văn và phong cách nghệ thuật của thơ ca Việt Nam hiện đại - đặc biệt là "thơ thế sự" mà Ông theo đuổi - có thể tạo nên tiếng vang và vị thế độc đáo trong khu vực và trên toàn cầu?

Trần Nhuận Minh: Thơ thế sự là thơ về lẽ đời, về sự đời và người đời. Nhân vật trữ tình trung tâm có khi là tác giả, nhưng nhiều khi là những người xung quanh tác giả. Nếu tính từ năm 1939, năm bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, mới có khoảng 85 năm, mà những biến động kinh hoàng của nó, có thể nói, là bằng cả hàng ngàn năm trước cộng lại. Những biến động đó, va đập không thương tiếc vào số phận của tất cả mọi người ở tất cả các quốc gia. Thơ tôi có câu: “Câu thơ viết ba phần tư nước mắt” là vì thế.

Thơ của cả cuộc đời, mà tôi theo đuổi, như bạn nói, là thơ trung thực về Nhân Dân, vì Con Người. Tôi hi vọng là nó đã được cất lên từ bội số chung lớn nhất đó của Nhân Loại. Trong thơ tôi, khái niệm về Nhân Dân là về Con Người, không hẳn ở một quốc gia nào, ở một thời đại nào. Quan niệm ấy, tôi học được từ thi hào Nguyễn Du, mà tập “Truyện Kiều” 3254 câu của Cụ, tôi thuộc lòng từ năm lên 10 tuổi.

Đến nay, thơ tôi đã được xuất bản 52 tập, trong đó có 31 tập thơ tiếng Việt, nhiều tập đã được tái bản từ 10 đến 35 lần. Thơ tôi cũng đã được dịch ra 21 ngữ ở 24 quốc gia. Điều đó chứng tỏ, thơ tôi đã giành được sự đồng cảm rộng rãi ở trong và ngoài nước. Bạn nói đó là “hồn cốt giá trị nhân văn và phong cách nghệ thuật” mà tôi có được. Tôi rất cảm ơn. Nhưng tôi nói giản dị hơn: Tôi hi vọng thơ tôi, đôi khi là nụ cười của Nhân Dân, nhiều khi là nước mắt của chính Nhân Dân. Bạn biết đấy, nụ cười và nước mắt là ngôn ngữ chung của cả nhân loại, không bao giờ và không ở đâu, cần có người phiên dịch. Nếu được như thế, hay chỉ được một phần như thế, đối với tôi, đã là một hạnh phúc to lớn lắm.

Vâng, thưa Bạn, vị thế độc đáo và những đóng góp của thơ

Việt khi hội nhập toàn cầu, chính là từ đó đấy.

- Trong quá khứ, thơ ca thường được sử dụng để phục vụ nhiệm vụ chính trị và cổ vũ tinh thần căm thù, tiêu diệt địch. Ngày nay, khi Việt Nam đối mặt với những thách thức mới như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, và các vấn đề xã hội phức tạp, Ông nghĩ thơ ca có thể giúp khuyến khích và đẩy mạnh tinh thần Việt - tinh thần đoàn kết, kiên cường chiến thắng thiên tai, địch họa – bằng cách nào?

Trần Nhuận Minh: Thơ bây giờ cũng vẫn phục vụ các nhiệm vụ chính trị, nhưng đẳng cấp nghệ thuật cao hơn. Có nhiều cách để chống lại dịch bệnh, thiên tai, địch họa... Chưa bao giờ, chúng ta phải vượt qua những thử thách gay gắt, khắc nghiệt như bây giờ, ấy là chưa kể, có khi chúng ta còn “vô tình tiếp tay” cho các loại “thế lực thù địch” mới, như thực phẩm bẩn vì chất “bảo quản”; nạn phá rừng, để tăng thêm hậu quả lũ ống, lũ quét... mà báo chí đã nhiều lần cảnh báo và ghi nhận... Vậy thì thơ ở đâu, còn có tác dụng gì trong cuộc “đối chọi lịch sử” mới này? Thưa bạn: Có đấy. Nó ở trong hồn người, ở trong lòng người, vì đây chính là “quê hương của thơ”. Thơ tác dụng trực tiếp vào việc đánh thức lương tri và trách nhiệm đối với con người và xã hội, góp phần tạo ra nghị lực của một con người, bản lĩnh của một dân tộc, sức mạnh của một quốc gia. Không cơn bão nào quật đổ được một ngôi nhà đã xây dựng kiên cố... Vấn đề là ở chất lượng bền vững của ngôi nhà, chứ đâu phải ở cấp bão của các cơn cuồng phong... Thi hào Nguyễn Trãi có câu:

“Họa phúc hữu môi, phi nhất nhật” (Họa và phúc đều có nguyên do, đâu phải đến từ một ngày). Tôi tin là Bạn nhận ra điều đó...

- Ông có ý thức học hỏi sâu sắc thơ cổ Trung Hoa và Việt Nam. Để nâng cao chất lượng và tầm ảnh hưởng của thơ Việt, theo Ông, các nhà thơ Việt Nam hiện nay cần phải thẩm thấu và học tập những tinh hoa nào của văn chương thế giới (khu vực hoặc toàn cầu) mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc?

Trần Nhuận Minh: Tôi đọc dường như không bỏ sót bất cứ một tập thơ nào dịch ra tiếng Việt của thơ nước ngoài từ xưa đến nay. Tôi hiểu dù có những “rào cản ngôn ngữ”, nhưng những tập thơ dịch đã được xuất bản, đều góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về thơ thế giới mà chúng ta đang hội nhập. Tôi thấy thơ của quốc gia nào, ở thời đại nào, của bất cứ nhà thơ nào, cũng có những đóng góp nhất định mà mình học được, tuy thế, theo tôi, cái u uẩn và chìm sâu của hệ thống tư duy, cái đa dạng phong phú nhiều tầng của ngữ nghĩa, cái thăng hoa của xúc cảm để tạo ra tính dư ba, “sóng ở ngoài sóng” mà ta thường nói theo các cụ, là “ý tại ngôn ngoại”, thì thưa Bạn, tôi dám nói rằng: Chỉ có thơ Phương Đông mà chủ yếu là thơ Trung Hoa đời Đường, nhất là thơ tứ tuyệt, thơ Việt Nam thời Trung đại và một số thơ Ấn Độ và Nhật Bản. Hiện nay, do xu hướng hội nhập, thơ hiện đại của Phương Đông đang “Tây hóa”, làm cho thơ vơi dần hoặc mất hẳn tính đa nghĩa, ý tại ngôn ngoại, như các bông hoa đẹp sặc sỡ, nhưng không có cái run rẩy mơ hồ của gió tuyết, của ánh trăng khuya và hương vị thơm tinh khiết thoảng bay của sương sớm đầu thu. Nhìn xa thì thấy đẹp, đến gần thì nhận ra ngay là hoa giấy, hoa nhựa. Trong “Đối thoại văn chương” tôi có viết rằng, nếu không đi ra từ truyền thống, thì cách tân gì, của bất cứ tài năng nào, cũng đều thất bại hết. Cho nên phải trở về với cha ông, bắt đầu đi ra thế giới từ các thành tựu của cha ông.

Bìa sách thơ Bừng thức - bản tiếng Anh của tác giả Trần Nhuận Minh – xuất bản tại Canada năm 2022

- Ông chia sẻ rằng “Truyện Kiều” đã thấm vào Ông như một thứ tôn giáo, dạy Ông về lòng thương người. Trong thời đại thông tin bùng nổ và sự vô cảm đôi khi len lỏi, Ông tin rằng thơ ca, với sức mạnh nhân văn được kế thừa từ các kiệt tác như Truyện Kiều”, có thể giúp khơi dậy và duy trì lòng thương người như một nền tảng để giải quyết các vấn đề xã hội và xung đột ?

Trần Nhuận Minh: Có hai xu hướng để giải quyết vấn đề. Một là đi thẳng đến những giá trị khoa học mới, trên các nền tảng 4.0, rồi phát triển cao hơn nữa, các công nghệ với vai trò của AI... vân vân... Tôi cảm nhận khá rõ là các bạn trẻ đang nghiêng dần về các giá trị này, dĩ nhiên là cần, nhưng hoàn toàn chưa đủ, có thể từ đó dẫn đến các phương hại khác, trong đó có thói vô cảm, như bạn nói. Cái này rõ ràng là đang lan rộng không chỉ trong giới trẻ, dần dần thành một thói quen mới là vô trách nhiệm trước đồng loại ... là điều chúng ta phải đề phòng. Còn xu hướng thứ hai là tiếp nhận và phát triển nó hài hòa với truyền thống thi ca dân tộc mà “Truyện Kiều” là một dấu mốc có tính chỉ đường, về phẩm giá Con Người, mà chủ nghĩa nhân văn Nguyễn Du đã rọi sáng, để các thế hệ con cháu, dù tung hoành đến thế nào, vẫn trở về với các giá trị cội nguồn của dân tộc. Vì thế, trong hiện tại và tương lai, tôi rất tin, con người sống với con người sẽ càng hòa hợp và tốt lành hơn, dù xã hội vẫn còn có những phức tạp và thậm chí là còn có sự xung đột.

Về điều này, ngoài cố gắng của các nhà thơ, còn rất cần sự chèo lái của cấp có thẩm quyền, vì đây là vấn đề văn học, đôi khi lại ở ngoài văn học.

- Ông có câu thơ: "Cái mong manh thắng được cả sắt thép / Bền vững đến muôn đời..." để nói về giá trị và sức mạnh của văn chương. Trong bối cảnh nhiều người lo ngại về sự suy giảm của thơ ca trong đời sống hiện đại, Ông muốn nhắn nhủ điều gì về năng lượng nội tại của thơ Việt, để các thế hệ sau tin tưởng vào con đường sáng tác, bất chấp những thách thức về vật chất và sự chấp nhận ban đầu?

Trần Nhuận Minh: Sứ giả Đại Việt, Giang Văn Minh sang sứ Trung Hoa, vua nhà Minh ra vế đối “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (“Cột đồng (do Mã Viện đời Hán dựng) đến nay rêu đã phủ xanh”), Giang Văn Minh đáp lại ngay: “Đằng Giang tự cố huyết do hồng” (“Nước sông Bạch Đằng đến nay máu vẫn còn đỏ”), Chưa kể tài nghệ vô song trong vế đáp, đây là “bài thơ 1 câu” hay nhất Việt Nam từ xưa đến nay. Câu thơ đã sống 400 năm và sẽ còn đồng hành với sự tồn tại muôn đời của cả một dân tộc. Vì thế, nhân dân đã lập đền thờ và tên tuổi một số nhà thơ đã thành một giá trị, tương tự như Căn cước công dân cho mỗi người Việt khi bước chân ra khỏi biên giới. Nếu được hỏi: Ngài từ đâu tới ? Bạn chỉ cần trả lời: Việt Nam! Thì bạn sẽ được nghe, vang lên, như tôi đã có lần được nghe, vang lên, lời đáp lại: Nguyễn Du – Hồ Chí Minh!

Vâng, đúng thế. Và tôi nghĩ, thế đã là đủ, để chúng ta yên tâm về giá trị và sức mạnh nội tại vững bền của thơ Việt trên các chặng đường phát triển tiếp theo.

Trân trọng cảm ơn nhà thơ Trần Nhuận Minh !

Kiều Bích Hậu (thực hiện)