26/08/2026 lúc 17:44 (GMT+7)
Breaking News

Phú Thọ mở rộng không gian xuất khẩu bằng thương mại điện tử xuyên biên giới

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang chuyển từ một phương thức bán hàng mới thành một cấu phần của chiến lược xuất khẩu trong nền kinh tế số. Với nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn, thế mạnh nông nghiệp, hệ thống logistics ngày càng hoàn thiện và cộng đồng doanh nghiệp đông đảo, Phú Thọ có điều kiện để biến các nền tảng số thành “cửa ngõ” đưa hàng hóa địa phương tiếp cận trực tiếp thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để cơ hội trở thành năng lực xuất khẩu thực chất, doanh nghiệp phải đồng thời nâng chuẩn sản phẩm, dữ liệu, thương hiệu, logistics và năng lực tuân thủ.

Hàng hóa sản phẩm OCOP trên quê hương Phú Thọ

Từ “kênh bán hàng” đến một cấu phần của năng lực xuất khẩu

Trong mô hình xuất khẩu truyền thống, doanh nghiệp muốn thâm nhập thị trường nước ngoài thường phải dựa vào nhà nhập khẩu, đại lý hoặc hệ thống phân phối bản địa. Cách làm này giúp doanh nghiệp tận dụng mạng lưới sẵn có nhưng đồng thời tạo ra khoảng cách lớn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng, làm tăng chi phí trung gian và khiến doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận thị trường mới.

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang thay đổi cấu trúc đó. Chỉ với một gian hàng số được tổ chức bài bản, doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm, tiếp cận khách hàng, nhận đơn hàng, quảng bá thương hiệu và từng bước tổ chức giao hàng quốc tế. Khoảng cách địa lý vì thế không còn là rào cản tuyệt đối đối với hoạt động mở rộng thị trường.

Đây là lý do thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng được nhìn nhận không đơn thuần là một “kênh bán hàng”, mà là một phương thức tổ chức hoạt động xuất khẩu trong môi trường kinh tế số.

Ở Việt Nam, xu hướng này đang diễn ra trong một thị trường TMĐT có tốc độ tăng trưởng cao. Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, quy mô TMĐT Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, tương đương khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Cơ quan này đồng thời xác định thúc đẩy TMĐT xuyên biên giới gắn với xuất khẩu là một trong những trọng tâm của giai đoạn mới.

Đáng chú ý hơn, năm 2025, giá trị xuất nhập khẩu qua kênh TMĐT tại Việt Nam được Cục Xuất nhập khẩu thống kê đạt khoảng 4,45 tỷ USD, trong khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu qua TMĐT đạt 78%. Những con số này cho thấy TMĐT xuyên biên giới đang bắt đầu hình thành một dòng chảy thương mại riêng, bổ trợ cho mô hình xuất khẩu truyền thống.

Trong bối cảnh đó, Phú Thọ có một lợi thế đặc biệt: địa phương không bắt đầu từ một nền kinh tế thuần dịch vụ hay thị trường tiêu dùng đơn thuần, mà có nền tảng sản xuất và xuất khẩu khá lớn.

Theo thông tin được Báo Phú Thọ dẫn, 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt trên 22 tỷ USD, trong đó nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 90%. Bên cạnh điện tử, cơ khí, linh kiện ô tô, một số sản phẩm nông nghiệp như bưởi, cam, mía cấp đông đã tiếp cận các thị trường như EU, Hàn Quốc và Vương quốc Anh.

Đây chính là nền tảng quan trọng để TMĐT xuyên biên giới có thể phát triển từ quy mô thử nghiệm sang một công cụ mở rộng thị trường.

Doanh nghiệp đóng gói, xử lý đơn hàng

Phú Thọ có “nguồn hàng”, vấn đề là nâng cấp năng lực số

Một trong những điểm đáng chú ý của Phú Thọ là quy mô cộng đồng doanh nghiệp. Theo thông tin từ địa phương, tỉnh có hơn 27.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 96%.

Đối với nhóm doanh nghiệp này, TMĐT xuyên biên giới có thể tạo ra một cách tiếp cận thị trường linh hoạt hơn so với việc đầu tư ngay vào mạng lưới phân phối ở nước ngoài.

Một doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải mở văn phòng đại diện, thuê mặt bằng hay xây dựng hệ thống bán lẻ tại một quốc gia khác để kiểm chứng nhu cầu thị trường. Thông qua nền tảng số, doanh nghiệp có thể thử nghiệm thị trường, đánh giá phản hồi của khách hàng, điều chỉnh sản phẩm và xây dựng thương hiệu trước khi quyết định đầu tư sâu hơn.

Đó là lợi thế rất đáng kể đối với các doanh nghiệp sản xuất tại địa phương. Tuy nhiên, “đưa sản phẩm lên mạng” mới chỉ là bước đầu tiên. Thực tế được phản ánh từ các doanh nghiệp Phú Thọ cho thấy khách hàng quốc tế không chỉ quan tâm đến giá bán. Họ quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, bao bì, câu chuyện thương hiệu, khả năng giao hàng, trách nhiệm môi trường và tính ổn định của nguồn cung.

Điều đó dẫn tới một thay đổi căn bản trong tư duy kinh doanh: TMĐT xuyên biên giới không thể phát triển nếu sản xuất vẫn vận hành theo cách thức cũ.

Doanh nghiệp muốn bán hàng xuyên biên giới phải chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”; từ quản trị theo kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ bán một sản phẩm sang xây dựng một thương hiệu có khả năng được nhận diện trên thị trường quốc tế.

Nói cách khác, TMĐT đang buộc doanh nghiệp phải số hóa cả chuỗi giá trị chứ không chỉ số hóa khâu bán hàng.

Phú Thọ đã hình thành những tiền đề quan trọng cho quá trình này. Theo kế hoạch phát triển TMĐT giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu trên 70% doanh nghiệp ứng dụng TMĐT, khoảng 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh trên nền tảng TMĐT, 100% xã, phường có thương nhân bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ trực tuyến; đồng thời phấn đấu 100% sản phẩm chủ lực có mã QR và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử.

Đây là những mục tiêu có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi TMĐT. Bởi khi sản phẩm được chuẩn hóa dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, số hóa thông tin và kết nối với các nền tảng phân phối, doanh nghiệp đồng thời đang xây dựng hạ tầng dữ liệu phục vụ xuất khẩu.

Kho hàng, container, vận chuyển quốc tế

Từ sản phẩm địa phương đến thương hiệu toàn cầu

Một trong những dư địa lớn nhất của TMĐT xuyên biên giới tại Phú Thọ nằm ở nhóm sản phẩm nông nghiệp, OCOP, sản phẩm làng nghề và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu.

Đây là nhóm hàng thường gặp hạn chế về quy mô thị trường nếu chỉ dựa vào hệ thống phân phối truyền thống. Một sản phẩm chè, nông sản chế biến, thực phẩm đặc trưng hay sản phẩm thủ công có thể có chất lượng tốt nhưng khó tiếp cận người tiêu dùng ngoài địa phương nếu thiếu mạng lưới phân phối.

TMĐT có thể giải quyết một phần bài toán này bằng cách đưa sản phẩm trực tiếp đến trước khách hàng.

Nhưng muốn đi xa hơn thị trường nội địa, doanh nghiệp phải xây dựng “hồ sơ số” cho sản phẩm. Đó không chỉ là hình ảnh đẹp hay một đoạn giới thiệu hấp dẫn, mà phải bao gồm thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận, thành phần, hướng dẫn sử dụng, quy cách đóng gói, xuất xứ và năng lực cung ứng.

Đây là nơi dữ liệu trở thành một loại tài sản mới của doanh nghiệp. Một sản phẩm có mã QR và truy xuất nguồn gốc điện tử không chỉ giúp người tiêu dùng trong nước kiểm chứng nguồn gốc, mà còn tạo nền tảng để đối tác quốc tế đánh giá sản phẩm. Khi dữ liệu sản phẩm được chuẩn hóa bằng nhiều ngôn ngữ, tích hợp hình ảnh, chứng nhận và thông tin logistics, doanh nghiệp có thể từng bước xây dựng một “gian hàng xuất khẩu số”.

Theo kế hoạch của tỉnh, phát triển TMĐT còn gắn với mô hình “Gian hàng xanh”, truy xuất nguồn gốc và phát triển TMĐT theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.

Đây là hướng đi phù hợp với sự thay đổi của thị trường quốc tế, nơi các yêu cầu về môi trường, phát triển bền vững và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng ngày càng trở thành điều kiện cạnh tranh.

Vì vậy, câu chuyện của TMĐT xuyên biên giới không chỉ là “bán được bao nhiêu đơn hàng”. Xa hơn, đó là quá trình chuyển một sản phẩm địa phương thành một sản phẩm có khả năng đáp ứng các chuẩn mực của thị trường toàn cầu.

Điểm nghẽn không nằm ở “gian hàng”, mà ở cả hệ sinh thái

Nếu chỉ nhìn TMĐT xuyên biên giới dưới góc độ nền tảng bán hàng, doanh nghiệp rất dễ đánh giá thấp mức độ phức tạp của hoạt động này.

Một đơn hàng quốc tế thực chất là điểm cuối của một chuỗi giá trị gồm nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ, nhãn mác, thanh toán, thuế, hải quan, kho vận, bảo hiểm, giao hàng và dịch vụ sau bán hàng.

Chỉ cần một mắt xích yếu, khả năng cạnh tranh của cả sản phẩm có thể bị ảnh hưởng. Đây cũng là lý do logistics trở thành một trong những điều kiện quyết định thành công của TMĐT xuyên biên giới.

Một sản phẩm có giá cạnh tranh nhưng thời gian giao hàng dài, chi phí vận chuyển cao hoặc tỷ lệ hoàn trả lớn sẽ rất khó cạnh tranh trên các nền tảng quốc tế. Đặc biệt với nhóm hàng có giá trị thấp, chi phí logistics trên mỗi đơn hàng có thể làm mất toàn bộ lợi thế về giá.

Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, những điểm nghẽn của TMĐT xuyên biên giới hiện nay bao gồm chi phí logistics cao, thời gian giao hàng, hạn chế về nhân lực số và rủi ro thanh toán quốc tế; thị trường xuất khẩu cũng còn tập trung vào một số khu vực lớn và cơ cấu hàng hóa chưa thực sự đa dạng.

Với Phú Thọ, bài toán này càng đáng chú ý khi tỉnh đang có điều kiện phát triển đồng thời sản xuất, công nghiệp, thương mại và logistics.

Đáng chú ý, địa phương đang nghiên cứu đề xuất Khu thương mại tự do tại khu vực Vĩnh Phúc, với hạt nhân là Trung tâm Logistics ICD Vĩnh Phúc cùng hệ thống khu công nghiệp, dịch vụ và đô thị trên diện tích nghiên cứu khoảng 4.135 ha. Nếu được triển khai đồng bộ, đây có thể trở thành một mắt xích quan trọng kết nối nền tảng số với dòng hàng hóa thực, từ kho của doanh nghiệp qua thủ tục hải quan, vận chuyển quốc tế đến người mua.

Như vậy, triển vọng TMĐT xuyên biên giới của Phú Thọ không nên được nhìn tách rời khỏi quy hoạch logistics và hạ tầng thương mại.

Một “cửa hàng số” chỉ thực sự có giá trị khi phía sau nó là một hệ thống kho vận đủ nhanh, thủ tục đủ thuận tiện và năng lực cung ứng đủ ổn định.

Thể chế mới mở rộng không gian, nhưng cũng nâng chuẩn tuân thủ

Năm 2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng về hành lang pháp lý cho TMĐT Việt Nam. Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tạo khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động TMĐT.

Đối với doanh nghiệp, điều này vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu mới. Trong môi trường số, một doanh nghiệp muốn tham gia thị trường quốc tế không thể chỉ quan tâm đến việc có bán được hàng hay không. Doanh nghiệp phải hiểu trách nhiệm pháp lý liên quan đến thông tin sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu, giao dịch điện tử, thuế, sở hữu trí tuệ và các yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.

Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một trong những lợi thế của TMĐT là hạ thấp chi phí gia nhập thị trường; nhưng cũng chính vì vậy, doanh nghiệp có thể dễ dàng bước vào thị trường quốc tế mà chưa chuẩn bị đầy đủ về pháp lý và tiêu chuẩn. Khi đó, rủi ro bị từ chối hàng hóa, tranh chấp thanh toán, vi phạm sở hữu trí tuệ hoặc không đáp ứng quy định thị trường có thể nhanh chóng biến cơ hội thành chi phí.

Vì thế, đào tạo doanh nghiệp phải chuyển từ “dạy cách bán hàng online” sang “dạy cách vận hành một hoạt động xuất khẩu số”.

Đây cũng là hướng phù hợp với kế hoạch của Phú Thọ khi tỉnh đặt mục tiêu đào tạo trên 5.000 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cán bộ và người dân về kỹ năng TMĐT, chuyển đổi số, TMĐT xanh, tuần hoàn và bền vững; đồng thời phấn đấu khoảng 60% cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp triển khai đào tạo chuyên ngành liên quan đến TMĐT.

Gian hàng trưng bày sản phẩm của Phú Thọ

Cần chuyển từ hỗ trợ “lên sàn” sang kiến tạo năng lực xuất khẩu số

Thách thức lớn nhất trong giai đoạn tới là làm thế nào để chính sách hỗ trợ tạo ra năng lực thực chất thay vì chỉ gia tăng số lượng tài khoản, gian hàng hay website.

Phú Thọ hiện có 5 sàn giao dịch TMĐT và 272 website TMĐT đang hoạt động. Nhiều doanh nghiệp, HTX và cơ sở sản xuất đã ứng dụng công nghệ số để quảng bá, tìm kiếm khách hàng và tiêu thụ sản phẩm.

Nhưng chỉ số lượng nền tảng chưa thể phản ánh đầy đủ hiệu quả TMĐT. Một doanh nghiệp có thể có website nhưng không có đơn hàng; có gian hàng nhưng không có thương hiệu; có lượt truy cập nhưng tỷ lệ chuyển đổi thấp; có khách hàng nhưng không đủ năng lực giao hàng.

Do đó, chính sách hỗ trợ giai đoạn mới cần tập trung vào những chỉ tiêu cuối cùng của chuỗi giá trị: số doanh nghiệp xuất khẩu qua nền tảng số, số thị trường mới được mở, giá trị đơn hàng quốc tế, tỷ lệ khách hàng quay lại, thời gian giao hàng, tỷ lệ hoàn trả và mức độ nâng cao giá trị thương hiệu.

Đây là sự chuyển dịch từ “phát triển TMĐT” sang “phát triển năng lực cạnh tranh bằng TMĐT”.

Theo hướng đó, Phú Thọ có thể hình thành các chương trình hỗ trợ theo ngành hàng. Chẳng hạn, với chè cần tập trung vào tiêu chuẩn, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và câu chuyện vùng nguyên liệu; với nông sản chế biến cần ưu tiên công nghệ bảo quản, bao bì và logistics; với sản phẩm công nghiệp cần chú trọng B2B, dữ liệu kỹ thuật, chứng nhận và tìm kiếm đối tác quốc tế.

Thay vì đưa tất cả sản phẩm lên cùng một nền tảng, địa phương có thể hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định nhóm khách hàng và thiết kế chiến lược sản phẩm phù hợp.

Cùng với đó, cần tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, nền tảng TMĐT, ngân hàng, đơn vị logistics, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan xúc tiến thương mại. Một doanh nghiệp nhỏ khó có thể tự xây dựng toàn bộ hệ sinh thái xuất khẩu số; nhưng nếu được kết nối vào một hệ sinh thái chung, chi phí gia nhập thị trường có thể giảm đáng kể.

Phú Thọ hiện có 5 sàn giao dịch TMĐT và 272 website TMĐT đang hoạt động. Ảnh minh họa - TL

Từ lợi thế địa phương đến vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu

Điều đáng kỳ vọng nhất từ TMĐT xuyên biên giới đối với Phú Thọ không phải là tạo thêm một kênh tiêu thụ, mà là thay đổi vị trí của doanh nghiệp địa phương trong chuỗi giá trị.

Trong mô hình cũ, doanh nghiệp có thể chỉ đóng vai trò sản xuất theo đơn đặt hàng của một nhà nhập khẩu. Trong mô hình số, doanh nghiệp có cơ hội trực tiếp quan sát thị trường, hiểu khách hàng, xây dựng thương hiệu và kiểm soát nhiều hơn các khâu của chuỗi giá trị.

Nếu làm tốt, TMĐT có thể giúp doanh nghiệp từng bước đi từ gia công sang xây dựng thương hiệu; từ bán sản phẩm sang bán giá trị; từ xuất khẩu qua trung gian sang tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng và đối tác quốc tế.

Đây cũng là hướng phù hợp với chiến lược TMĐT quốc gia giai đoạn 2026-2030, trong đó Bộ Công Thương xác định TMĐT là lĩnh vực tiên phong của kinh tế số, hướng tới tối ưu hóa toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm Việt Nam ở cả thị trường trong nước và quốc tế.

Với Phú Thọ, nền tảng để thực hiện mục tiêu ấy đã tương đối rõ: quy mô sản xuất lớn, kim ngạch xuất khẩu cao, hệ thống doanh nghiệp đông đảo, sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp đa dạng, hạ tầng số được cải thiện và logistics đang được quan tâm đầu tư.

Vấn đề còn lại là khả năng kết nối các lợi thế đó thành một hệ sinh thái xuất khẩu số thống nhất.

TMĐT xuyên biên giới vì thế nên được nhìn như một “hạ tầng thị trường” mới của Phú Thọ, chứ không chỉ là một công cụ bán hàng. Khi dữ liệu sản phẩm kết nối với dữ liệu thị trường; nền tảng số kết nối với logistics; sản xuất kết nối với tiêu chuẩn quốc tế; còn doanh nghiệp kết nối trực tiếp với người mua toàn cầu, không gian phát triển của kinh tế địa phương sẽ được mở rộng đáng kể.

Trong giai đoạn cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu, tốc độ và khả năng đáp ứng thị trường, doanh nghiệp nào làm chủ được chuỗi giá trị số sẽ có lợi thế lớn hơn trong việc tìm kiếm khách hàng, tối ưu sản xuất và xây dựng thương hiệu.

Với Phú Thọ, cơ hội đang mở ra không chỉ để “đưa hàng lên sàn”, mà quan trọng hơn là đưa năng lực sản xuất của địa phương bước vào thị trường toàn cầu bằng một phương thức mới.

Nếu kết hợp được sản xuất quy mô lớn với thương hiệu, dữ liệu, logistics và năng lực tuân thủ quốc tế, TMĐT xuyên biên giới có thể trở thành một trong những động lực giúp Phú Thọ chuyển từ lợi thế về “nguồn hàng” sang lợi thế về năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng trong nền kinh tế số.

_________________________________________________

Tài liệu tham khảo :

1. Báo Phú Thọ;

2.Sở Công Thương Phú Thọ;

3.Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương;

4.Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương;

5.Kế hoạch phát triển TMĐT tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030.

Phạm Thủy