10/09/2026 lúc 16:14 (GMT+7)
Breaking News

Nông nghiệp cận đô thị: Tái định vị giá trị trong không gian phát triển mới

Quá trình đô thị hóa làm thu hẹp quỹ đất sản xuất nhưng đồng thời mở rộng thị trường, dịch vụ và khả năng tiếp cận công nghệ cho nông nghiệp cận đô thị. Thực tiễn tại Phú Thọ cho thấy, dư địa phát triển ngày càng nằm ở khả năng nâng giá trị trên đơn vị đất, tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường và tích hợp nông nghiệp vào cấu trúc kinh tế, sinh thái của không gian đô thị.
Tái định vị nông nghiệp cận đô thị từ lợi thế diện tích sang lợi thế giá trị và thị trường.

I. ĐÔ THỊ HÓA LÀM THAY ĐỔI CƠ SỞ TẠO LỢI THẾ CỦA NÔNG NGHIỆP

Đô thị hóa đang làm thay đổi sâu sắc điều kiện tồn tại và phát triển của nông nghiệp tại các khu vực ven đô. Khi đất đai phải đáp ứng đồng thời nhu cầu về nhà ở, giao thông, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và hạ tầng xã hội, khả năng mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng hạn chế. Đối với khu vực cận đô thị, mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng quy mô đất vì thế khó duy trì như trước.

Tuy nhiên, thu hẹp không gian sản xuất không đồng nghĩa với thu hẹp tương ứng giá trị của nông nghiệp. Đô thị hóa đồng thời tạo ra một thị trường tiêu dùng có quy mô lớn, mật độ cao và nhu cầu ngày càng đa dạng đối với thực phẩm tươi, an toàn, có nguồn gốc rõ ràng, sản phẩm chất lượng cao và những dịch vụ gắn với nông nghiệp. Cơ sở tạo lợi thế vì vậy đang dịch chuyển từ diện tích sang vị trí, chất lượng, công nghệ, khả năng tổ chức sản xuất và mức độ tiếp cận thị trường.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã đặt yêu cầu bảo đảm phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, gắn phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ với quá trình đô thị hóa theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Cách tiếp cận này cho thấy đô thị hóa và phát triển nông nghiệp cần được đặt trong cùng một cấu trúc phát triển thay vì xem như hai quá trình tách biệt.

Đối với nông nghiệp cận đô thị, lợi thế rõ nét nhất nằm ở khoảng cách với thị trường. Khu vực sản xuất ở gần các trung tâm dân cư có điều kiện rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa, cung cấp nhanh hơn những sản phẩm cần độ tươi cao và tăng khả năng trao đổi thông tin giữa người sản xuất với thị trường. Nếu được tổ chức tốt, lợi thế về vị trí có thể góp phần giảm một số chi phí logistics, hạn chế tổn thất trong quá trình lưu thông và tạo điều kiện phát triển các kênh phân phối trực tiếp.

Điều này đặc biệt phù hợp với rau, quả tươi, hoa, sản phẩm an toàn, sản phẩm có giá trị cao và những mặt hàng được tiêu dùng thường xuyên tại đô thị. Với những sản phẩm này, tốc độ đưa hàng từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng có thể trở thành một phần của chất lượng sản phẩm.

Từ góc độ kinh tế, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ tư duy sử dụng diện tích sang nâng cao hiệu quả trên đơn vị đất. Một diện tích nhỏ vẫn có thể tạo giá trị cao nếu được lựa chọn đúng sản phẩm, ứng dụng kỹ thuật phù hợp, kiểm soát tốt chất lượng và tiếp cận được thị trường có khả năng chi trả tương xứng.

Giá trị của nông nghiệp cận đô thị cũng rộng hơn doanh thu trực tiếp từ nông sản. Những vùng sản xuất được tổ chức hợp lý có thể góp phần duy trì khoảng xanh, cảnh quan, khả năng thẩm thấu nước và những không gian chuyển tiếp giữa khu vực xây dựng với môi trường tự nhiên. Đây là những giá trị ngày càng đáng được quan tâm khi mật độ đô thị tăng lên.

FAO cũng nhìn nhận nông nghiệp đô thị và cận đô thị như một bộ phận của hệ thống thực phẩm thành phố, có lợi thế trong cung cấp thực phẩm tươi gần thị trường, đồng thời nhấn mạnh tính bền vững lâu dài phụ thuộc vào việc nông nghiệp được tích hợp vào quy hoạch sử dụng đất và chính sách hệ thống thực phẩm đô thị.

Theo đó, vấn đề đối với nông nghiệp cận đô thị không còn đơn thuần là giữ lại bao nhiêu diện tích, mà là xác định diện tích nào có giá trị sản xuất và sinh thái, được tổ chức theo phương thức nào và tạo ra giá trị gì trong tổng thể phát triển đô thị.

II. NÂNG GIÁ TRỊ TRÊN ĐƠN VỊ ĐẤT BẰNG CÔNG NGHỆ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT

Khi quỹ đất trở thành nguồn lực ngày càng hữu hạn, năng suất và giá trị trên đơn vị diện tích trở thành một chỉ báo quan trọng đối với hiệu quả của nông nghiệp cận đô thị. Điều này đòi hỏi sự thay đổi đồng thời về cơ cấu sản phẩm, công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất.

Thực tiễn tại HTX Nông nghiệp công nghệ cao Việt Trì Eco Farm cho thấy hướng chuyển đổi này. Việc lựa chọn các sản phẩm như dưa lưới, dưa vàng và tổ chức sản xuất trong nhà màng giúp người sản xuất chủ động hơn trong kiểm soát một số yếu tố của môi trường canh tác, quy trình kỹ thuật và chất lượng sản phẩm. Đây là hướng phù hợp với đặc điểm của những khu vực có quỹ đất hạn chế nhưng nằm gần thị trường tiêu dùng lớn. Báo Phú Thọ cũng ghi nhận phát triển nông nghiệp cận đô thị trên địa bàn đang hướng tới sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, rau quả an toàn và các sản phẩm có giá trị.

Ý nghĩa của công nghệ ở đây không nằm ở mức độ hiện đại của thiết bị. Công nghệ có giá trị khi giúp giải quyết những vấn đề cụ thể của sản xuất: kiểm soát điều kiện canh tác, tiết kiệm đầu vào, ổn định chất lượng, giảm rủi ro hoặc tạo ra sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu thị trường.

Bởi vậy, nông nghiệp công nghệ cao không nên đồng nhất với việc đầu tư nhiều thiết bị. Một mô hình có chi phí lớn nhưng thiếu thị trường, thiếu người vận hành hoặc không phù hợp với sản phẩm vẫn có thể gặp khó khăn về hiệu quả. Lựa chọn công nghệ cần được đặt trong bài toán kinh tế tổng thể, từ giá thành, năng suất, chất lượng đến đầu ra và khả năng hoàn vốn.

Cùng với công nghệ, tổ chức sản xuất quyết định khả năng những diện tích nhỏ hình thành quy mô hàng hóa. Một hộ có thể sản xuất sản phẩm chất lượng nhưng khó đáp ứng ổn định những đơn hàng lớn nếu sản lượng nhỏ, thời vụ khác nhau hoặc tiêu chuẩn giữa các hộ thiếu đồng nhất.

Vì vậy, quy mô trong nông nghiệp cận đô thị không nhất thiết phải được tạo ra bằng việc tập trung toàn bộ đất vào một chủ thể. Quy mô có thể hình thành thông qua liên kết sản xuất. Các hộ vẫn sử dụng diện tích của mình nhưng cùng thực hiện giống, quy trình, thời vụ và tiêu chuẩn chất lượng dưới sự tổ chức của hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc doanh nghiệp liên kết.

Khi đó, nhiều diện tích nhỏ có thể vận hành như một vùng sản xuất có khả năng cung cấp sản lượng tương đối ổn định. Đây là một hướng quan trọng để giải quyết mâu thuẫn giữa đặc điểm đất đai phân tán với yêu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng và tính đồng nhất của thị trường.

Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Phú Thọ giai đoạn 2026–2030 cũng đang định hướng sản xuất theo vùng, thống nhất giống và thời vụ, áp dụng quy trình hữu cơ, an toàn sinh học và tăng cường liên kết tiêu thụ. Những định hướng này tạo điều kiện để sản xuất cận đô thị tiến dần từ các mô hình riêng lẻ sang những vùng hàng hóa có tổ chức.

Trong cấu trúc ấy, hợp tác xã có thể đảm nhận vị trí trung gian quan trọng. HTX giúp tập hợp nhu cầu đầu vào, hướng dẫn quy trình, tổ chức chứng nhận, quản lý thông tin sản xuất và kết nối với đơn vị tiêu thụ. Doanh nghiệp mang tín hiệu thị trường, tiêu chuẩn hàng hóa và khả năng phân phối. Khi hai khu vực liên kết ổn định với người sản xuất, quy mô nhỏ của từng hộ không còn là yếu tố quyết định toàn bộ khả năng tiếp cận thị trường.

Chuyển đổi số tạo thêm công cụ cho quá trình tổ chức đó. Nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, phần mềm quản lý sản xuất, thương mại điện tử và nền tảng kết nối cung – cầu có thể hỗ trợ theo dõi sản lượng, chất lượng, đơn hàng và phản hồi của thị trường.

Giá trị của công nghệ số được thể hiện ở khả năng làm cho thông tin lưu chuyển nhanh và chính xác hơn giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Khi tín hiệu thị trường được phản ánh sớm vào kế hoạch sản xuất, khả năng tổ chức cung ứng cũng được cải thiện.

Để quá trình này diễn ra thực chất, đầu tư cho công nghệ cần đi cùng nâng cao kỹ năng cho người sản xuất và năng lực quản trị của hợp tác xã. Trang thiết bị hay phần mềm chỉ trở thành năng lực sản xuất khi có con người đủ khả năng vận hành, khai thác dữ liệu và sử dụng thông tin để ra quyết định.

Nâng giá trị trên đơn vị đất vì thế là kết quả của một hệ thống gồm sản phẩm phù hợp, công nghệ, tổ chức sản xuất, con người và thị trường. Đây là hướng giúp nông nghiệp cận đô thị thích ứng với giới hạn về diện tích bằng việc phát triển theo chiều sâu.

III. LIÊN KẾT THỊ TRƯỜNG PHÁT HUY LỢI THẾ GẦN ĐÔ THỊ

Vị trí gần thị trường chỉ trở thành lợi thế kinh tế khi hàng hóa được đưa tới người tiêu dùng bằng một hệ thống phân phối phù hợp. Nếu sản phẩm vẫn phải đi qua quá nhiều khâu, thiếu thông tin về nhu cầu hoặc không xây dựng được quan hệ tiêu thụ ổn định, khoảng cách địa lý ngắn chưa chắc tạo ra giá trị tương xứng.

Đây là cơ sở để tham chiếu cách tiếp cận về chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn. Theo FAO, các hệ thống thực phẩm đô thị và cận đô thị có thể được củng cố thông qua bảo vệ đất nông nghiệp, phát triển chuỗi cung ứng ngắn và kết nối khu vực xung quanh đô thị qua các hoạt động sản xuất, chế biến, phân phối và tiếp thị.

Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn không đơn thuần được xác định bằng số kilomet vận chuyển. Ý nghĩa quan trọng nằm ở việc rút giảm các khâu trung gian phù hợp và tăng mức độ gần gũi về địa lý, thông tin hoặc quan hệ giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Cách tổ chức này có thể tạo điều kiện để người sản xuất nhận tín hiệu thị trường nhanh hơn, trong khi người tiêu dùng tiếp cận tốt hơn thông tin về nguồn gốc và phương thức sản xuất.

Đối với nông nghiệp cận đô thị, lợi thế này có thể được phát huy qua nhiều hình thức: liên kết trực tiếp với siêu thị, cửa hàng thực phẩm, bếp ăn tập thể, trường học, nhà hàng, doanh nghiệp chế biến hoặc các kênh bán hàng số. Mỗi kênh có yêu cầu khác nhau về sản lượng, tiêu chuẩn và phương thức giao hàng, vì vậy người sản xuất cần được tổ chức đủ tốt để đáp ứng ổn định.

Với rau quả tươi và sản phẩm chất lượng cao, tốc độ cung ứng tạo ra lợi thế đáng kể. Khoảng cách gần giúp tăng khả năng thu hoạch theo đơn hàng, giảm thời gian lưu kho và giữ được độ tươi của sản phẩm. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ bền vững khi đi cùng tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc và chất lượng ổn định.

Điều đó cho thấy cạnh tranh của nông nghiệp cận đô thị khó dựa vào giá thấp. Chi phí đất đai, lao động và nhiều đầu vào tại khu vực gần đô thị thường cao hơn những vùng chuyên canh quy mô lớn. Dư địa phù hợp hơn nằm ở sản phẩm có chất lượng, giá trị cao, khả năng cung ứng nhanh và mức độ tin cậy lớn hơn đối với người tiêu dùng.

Mối quan hệ giữa nông nghiệp và đô thị khi đó cũng thay đổi. Đô thị không đơn thuần là nơi tiêu thụ sản phẩm, mà cung cấp tín hiệu trực tiếp cho quá trình đổi mới sản xuất. Sự thay đổi trong nhu cầu đối với thực phẩm an toàn, sản phẩm hữu cơ, tiện lợi, truy xuất được nguồn gốc hay trải nghiệm nông nghiệp có thể trở thành động lực để khu vực cận đô thị thay đổi cơ cấu sản phẩm.

Ở chiều ngược lại, vùng sản xuất cận đô thị góp phần đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm và tăng mức độ liên kết giữa người tiêu dùng với khu vực sản xuất. FAO đánh giá nông nghiệp đô thị và cận đô thị có lợi thế so sánh trong việc cung cấp thực phẩm tươi gần thị trường và có thể góp phần nâng khả năng chống chịu của hệ thống cung ứng thực phẩm thành phố.

Như vậy, lợi thế thị trường của nông nghiệp cận đô thị không hình thành tự động từ vị trí địa lý. Giá trị được tạo ra khi khoảng cách gần được kết hợp với chất lượng, tổ chức sản xuất, thông tin, logistics và quan hệ tiêu thụ ổn định.

IV. QUY HOẠCH TÍCH HỢP XÁC LẬP VỊ TRÍ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ

Trong quá trình mở rộng đô thị, chức năng của đất nông nghiệp cận đô thị cần được xác định rõ hơn trong tổng thể quy hoạch phát triển. Nếu không gian sản xuất liên tục thay đổi và thiếu tính ổn định, người sản xuất khó có cơ sở đầu tư dài hạn vào nhà màng, hệ thống tưới, công nghệ, vùng nguyên liệu hay các hạ tầng phục vụ sản xuất.

Do đó, quy hoạch nông nghiệp cận đô thị không thể tách rời quy hoạch sử dụng đất, giao thông, nguồn nước, môi trường và hệ thống thực phẩm của đô thị.

FAO nhấn mạnh rằng tính bền vững lâu dài của nông nghiệp đô thị và cận đô thị phụ thuộc vào mức độ được tích hợp vào quản lý tài nguyên và quy hoạch môi trường đô thị. Tổ chức này cũng khuyến nghị bảo tồn những vùng đất nông nghiệp phù hợp, tăng hiệu quả quy hoạch sử dụng đất và kết nối sản xuất cận đô thị với chế biến, phân phối và thị trường thành phố.

Cách tiếp cận tích hợp cho phép xem xét đồng thời các chức năng kinh tế và sinh thái của không gian nông nghiệp. Có những khu vực phù hợp để duy trì vùng sản xuất hàng hóa; những khu vực có thể phát huy vai trò cảnh quan, không gian xanh; và những vùng cần chuyển đổi chức năng phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị.

Việc xác định tương đối ổn định các vùng sản xuất còn tạo điều kiện tổ chức hạ tầng chuyên dùng. Hệ thống thủy lợi, tưới tiêu, giao thông phục vụ sản xuất, điện, kho sơ chế và điểm tập kết hàng hóa chỉ phát huy hiệu quả khi được đầu tư trong một không gian có định hướng phát triển đủ rõ.

Nguồn nước là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp cận đô thị. Mật độ dân cư, công nghiệp và dịch vụ lớn tạo áp lực lên chất lượng nguồn nước và môi trường sản xuất. Vì vậy, quy hoạch vùng sản xuất cần gắn với khả năng cung cấp nước phù hợp, kiểm soát chất lượng môi trường và xử lý chất thải.

Cùng với chức năng sản xuất, nông nghiệp cận đô thị có thể tham gia vào cấu trúc không gian xanh. Những vùng cây trồng, mặt nước, vườn và cảnh quan sản xuất nếu được tổ chức hợp lý có thể tạo các khoảng chuyển tiếp sinh thái, góp phần duy trì cảnh quan và giảm mức độ chia cắt giữa khu vực xây dựng với môi trường tự nhiên.

Ở góc độ này, tư duy về hệ thống thực phẩm đô thị – vùng cung cấp một khung tham chiếu đáng chú ý. Thay vì xem thành phố và vùng nông nghiệp xung quanh như hai không gian riêng biệt, cách tiếp cận này đặt sản xuất, chế biến, phân phối, tiêu dùng và quản lý tài nguyên trong một hệ thống có quan hệ qua lại. FAO đang sử dụng cách tiếp cận city–region food system để tăng liên kết giữa đô thị với vùng cận đô và nông thôn xung quanh.

Theo logic đó, ý tưởng về các vành đai thực phẩm gắn với không gian xanh có thể được xem như một hướng tham khảo trong tổ chức nông nghiệp cận đô thị. Mục tiêu không phải tạo ra một vành đai cứng về mặt hành chính, mà là duy trì những khu vực sản xuất có chức năng rõ ràng, được liên kết với thị trường đô thị và đồng thời đóng góp cho cấu trúc sinh thái.

Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển hài hòa nông thôn – thành thị được Nghị quyết 19-NQ/TW xác lập. Trong quá trình đô thị hóa, nông nghiệp vì thế cần được bố trí theo những chức năng mới, phù hợp hơn với cấu trúc kinh tế và không gian đang biến đổi.

V. TÁI ĐỊNH VỊ NÔNG NGHIỆP CẬN ĐÔ THỊ TRONG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Đô thị hóa làm thay đổi những điều kiện truyền thống của sản xuất nông nghiệp, nhưng đồng thời tạo ra những nguồn lực mới về thị trường, hạ tầng, công nghệ và dịch vụ. Khả năng phát triển của nông nghiệp cận đô thị phụ thuộc vào mức độ những nguồn lực đó được chuyển hóa thành giá trị.

Trong điều kiện diện tích hạn chế, trọng tâm cần đặt vào năng suất và giá trị trên đơn vị đất. Công nghệ giúp nâng khả năng kiểm soát sản xuất; liên kết tạo quy mô hàng hóa; hợp tác xã và doanh nghiệp kết nối người sản xuất với thị trường; công cụ số làm tăng tốc độ lưu chuyển thông tin; chuỗi cung ứng ngắn phát huy lợi thế gần người tiêu dùng.

Nhưng chiều sâu của nông nghiệp cận đô thị còn được quyết định bởi vị trí của nó trong không gian phát triển. Khi vùng sản xuất được xác định rõ trong quy hoạch và gắn với hạ tầng, thị trường, môi trường, người sản xuất có thêm điều kiện đầu tư dài hạn, còn đô thị có thêm một cấu phần hỗ trợ hệ thống thực phẩm và không gian xanh.

Thực tiễn tại Phú Thọ cho thấy hướng phát triển nông nghiệp cận đô thị ngày càng gắn với sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ, tổ chức vùng sản xuất, thực phẩm an toàn và liên kết tiêu thụ. Đây là cơ sở để những mô hình riêng lẻ từng bước hình thành các mối liên kết rộng hơn giữa sản xuất, thị trường và không gian đô thị.

Tái định vị nông nghiệp cận đô thị vì vậy không phải là tìm cách duy trì nguyên trạng một mô hình sản xuất trong điều kiện đô thị hóa. Điều cần thiết là xác định lại chức năng và phương thức tạo giá trị phù hợp với bối cảnh mới.

Một diện tích nông nghiệp cận đô thị có thể đồng thời tạo ra sản phẩm hàng hóa, cung cấp thực phẩm gần thị trường, tạo sinh kế, duy trì cảnh quan và đóng góp vào chất lượng môi trường sống. Giá trị ấy được hình thành từ sự kết hợp giữa hiệu quả kinh tế với chức năng xã hội và sinh thái.

Khi được tổ chức theo hướng đó, diện tích nhỏ không còn đồng nghĩa với dư địa phát triển nhỏ. Lợi thế của nông nghiệp cận đô thị được xác lập bằng khả năng tạo giá trị cao hơn trên nguồn lực hữu hạn, phản ứng nhanh hơn với nhu cầu thị trường và thích ứng tốt hơn với cấu trúc đô thị đang thay đổi.

Đó cũng là hướng để nông nghiệp tiếp tục giữ một vị trí có ý nghĩa trong tiến trình đô thị hóa: không tồn tại như phần không gian còn lại sau phát triển đô thị, mà trở thành một cấu phần được tổ chức có chủ đích trong mô hình phát triển hiện đại, cân bằng và bền vững./.

ThS. Nguyễn Mạnh Huy