Tóm tắt: Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện đồng bộ thể chế về phân cấp, phân quyền. Trên cơ sở khung pháp lý hiện hành và số liệu tại Báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (UBND), bài viết nhận diện những vướng mắc pháp lý chủ yếu trong xác định thẩm quyền, đồng bộ hóa pháp luật chuyên ngành cho vận hành chính quyền số, phân định trách nhiệm khi thực hiện thủ tục hành chính điện tử và bảo đảm nguồn lực thực hiện; từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả phân cấp, phân quyền phù hợp với yêu cầu quản trị đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ khóa: phân cấp; phân quyền; chính quyền hai cấp; chuyển đổi số; Thành phố Hồ Chí Minh.
Abstract: The transition of local government organization from a three-tier to a two-tier model, combined with accelerated digital transformation, has created an urgent need to comprehensively complete the legal framework on decentralization and delegation of authority. Based on the current legal framework and data from Ho Chi Minh City People's Committee's one-year review report on administrative reorganization and the operation of the two-tier local government model, the article identifies key legal obstacles in determining jurisdiction, harmonizing specialized legislation, establishing a legal basis for digital government operation, allocating responsibility in electronic administrative procedures, and ensuring implementation resources, then proposes solutions to improve institutions and enhance decentralization in line with smart urban governance requirements in Ho Chi Minh City.
Keywords: decentralization; delegation of authority; two-tier local government; digital transformation; Ho Chi Minh City.
![]()
Ảnh minh họa - TL
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương là nội dung trọng tâm của cải cách tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay. Thực hiện chủ trương của Đảng về tinh gọn tổ chức bộ máy - khởi nguồn từ Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, cụ thể hóa qua các Kết luận số 126, 127, 130, 137-KL/TW (2025) của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 - cả nước đã chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp, không tổ chức cấp huyện, được thể chế hóa tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) năm 2025 và các Nghị quyết số 190/2025/QH15, 263/2025/QH15 của Quốc hội, vận hành chính thức từ ngày 01/7/2025.
Sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trở thành địa phương có quy mô lớn nhất cả nước: diện tích tự nhiên 6.772,65 km², dân số hơn 14 triệu người, 168 đơn vị hành chính cấp xã (54 xã, 113 phường, 01 đặc khu Côn Đảo); GRDP năm 2025 đạt khoảng 2,97 triệu tỷ đồng (23,1% GDP cả nước), tổng thu ngân sách khoảng 801.000 tỷ đồng (gần 30,2% ngân sách quốc gia). Với quy mô đặc thù của một siêu đô thị như TP.HCM hiện tại, đòi hỏi một cơ chế phân cấp, phân quyền đủ mạnh, đồng thời bộc lộ rõ hơn những khoảng trống của khung thể chế chung khi áp dụng cho một địa bàn vượt trội so với mặt bằng cả nước.
Song song với sắp xếp bộ máy, chuyển đổi số được xác định là trụ cột để chính quyền hai cấp vận hành thông suốt trên địa bàn rộng. Việc vừa tổ chức lại bộ máy, vừa số hóa đồng bộ dữ liệu, thủ tục hành chính trong thời gian ngắn đã bộc lộ không ít vướng mắc pháp lý - từ xác định thẩm quyền, đồng bộ hóa pháp luật chuyên ngành, đến cơ sở pháp lý cho thủ tục hành chính điện tử. Đây cũng là những nội dung được chính UBND Thành phố thẳng thắn nhận diện tại Báo cáo sơ kết 01 năm gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nội vụ. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những vướng mắc chủ yếu và đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền trong thời gian tới.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
Phân quyền (decentralization) là việc pháp luật quy định trực tiếp, ổn định nhiệm vụ, quyền hạn cho mỗi cấp chính quyền để tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phân cấp (delegation) là việc cấp trên chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn cho cấp dưới thực hiện thường xuyên trên cơ sở văn bản pháp luật; ủy quyền là việc cấp trên cho phép cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ trong thời hạn, điều kiện xác định. Phân định rõ ba khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong xác định trách nhiệm pháp lý của chính quyền địa phương, khi số lượng thẩm quyền, nhiệm vụ cần được sắp xếp tăng gấp nhiều lần so với trước đây.
Nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương được quy định tại Điều 112 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025) và được luật hóa cụ thể tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) năm 2025. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành 28 nghị định chuyên ngành phân định thẩm quyền theo mô hình mới - trong đó Nghị định số 150/2025/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 370/2025/NĐ-CP) quy định tổ chức UBND cấp xã, Nghị định số 300/2025/NĐ-CP về khung số lượng Phó Chủ tịch, Nghị định số 361/2025/NĐ-CP về quản lý công chức gắn với vị trí việc làm - trong khi các luật chuyên ngành (đất đai, xây dựng, đầu tư, y tế, giáo dục...) vẫn đang được rà soát, sửa đổi.
Về chuyển đổi số, khung pháp lý được xác lập trên cơ sở các quy định về giao dịch điện tử, chữ ký số, kết nối, chia sẻ dữ liệu, cùng Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg) và Thông tư số 05/2025/TT-BNV về lưu trữ tài liệu điện tử. Do hai hệ thống pháp luật này được xây dựng theo hai lộ trình khác nhau, nên khi triển khai song song tại địa phương đã phát sinh nhữngđiểm chưa tương thích.
3. THỰC TRẠNG PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN GẮN VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Về tổ chức bộ máy, sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh đã sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh từ 43 cơ quan của 03 địa phương còn 16 cơ quan (giảm 62,8%) và từ 06 cơ quan hành chính khác còn 04 cơ quan; tổng số tổ chức bên trong giảm từ 3.547 xuống 3.378 đầu mối (giảm 4,7%); việc kết thúc cấp huyện đã làm giảm 64,9% số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã so với trước sắp xếp.
Từ 01/7/2025 đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã phân cấp, ủy quyền khoảng 1.008 nhiệm vụ (900 nhiệm vụ của các sở, ngành và 108 nhiệm vụ của UBND, Chủ tịch UBND Thành phố) cho cấp xã trên các lĩnh vực nội vụ, tư pháp, tài chính, xây dựng, khoa học công nghệ, văn hóa, an toàn thực phẩm..., giúp chính quyền cơ sở chủ động hơn, rút ngắn thời gian giải quyết công việc[1]. Đồng thời TP.Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống nền tảng số dùng chung: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính kết nối từ cấp tỉnh đến 168 xã, phường, đặc khu; 37.600 tài khoản thư điện tử công vụ; 21.265 chữ ký số đã cấp; Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) kết nối dữ liệu chính quyền hai cấp với hệ thống báo cáo của Chính phủ; Trung tâm dữ liệu Thành phố vận hành 1.272 máy chủ, duy trì 569 điểm kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng
Kết quả vận hành khá tích cực: năm 2025, TP. Hồ Chí Minh tiếp nhận 2.578.411 hồ sơ (1.770.247 hồ sơ trực tuyến), giải quyết đúng hạn đạt 96,16%; từ đầu năm 2026 đến nay tiếp nhận thêm 1.279.110 hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn tăng lên 99,54%, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt trên 96% Tính đến 30/4/2026, Thành phố hoàn thành số hóa 994.986/1.065.510 hồ sơ, đạt 93,38%; 100% văn bản trao đổi giữa các cơ quan hành chính được thực hiện điện tử.
Những số liệu trên cho thấy mô hình chính quyền hai cấp gắn với chuyển đổi số đã bước đầu phát huy hiệu quả, rút ngắn quy trình, tăng tính chủ động cho cấp xã. Tuy nhiên, vì đây là mô hình mới, thời gian vận hành chưa dài nên việc phân cấp, phân quyền còn trong quá trình hoàn thiện; nhiều nội dung mới dừng ở chủ trương hoặc quy định khung, chưa có hướng dẫn chi tiết, nhất là khi kết hợp với yêu cầu số hóa toàn bộ quy trình.
4. NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ CHỦ YẾU
4.1. Vướng mắc trong xác định ranh giới, ủy quyền thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã
Việc chuyển từ mô hình chính quyền địa phương ba cấp sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi phân định lại khối lượng lớn thẩm quyền vốn trước đây thuộc cấp huyện. Một số lĩnh vực như đất đai, quy hoạch xây dựng, cấp phép đầu tư còn thiếu quy định cụ thể, dẫn đến chồng lấn hoặc bỏ trống thẩm quyền. Đối với các dự án, công trình hạ tầng liên xã, Sở Xây dựng và UBND Thành phố phê duyệt quy hoạch từ hai đơn vị cấp xã trở lên, trong khi cấp xã chỉ được lập quy hoạch trong phạm vi một xã. Điều này bộc lộ hai điểm nghẽn: (i) hồ sơ điều chỉnh quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất tại khu vực giáp ranh vượt thẩm quyền cấp xã nhưng chưa được cấp tỉnh thụ lý kịp thời do quá tải; (ii) chồng lấn trách nhiệm xử lý vi phạm trật tự xây dựng tại địa giới giáp ranh, dẫn đến đùn đẩy giữa các UBND cấp xã liên quan.
Thành phố đã áp dụng một số giải pháp tình thế: phân cấp cho cấp xã lập hồ sơ, chuyển sở chuyên ngành làm đầu mối đối với trường hợp liên xã; thiết lập quy chế phối hợp bắt buộc giữa các xã giáp ranh; số hóa dữ liệu quy hoạch trên nền tảng GIS dùng chung. Đây mới là giải pháp cấp địa phương, chưa giải quyết tận gốc, cần được luật hóa thống nhất ở tầm quốc gia.
4.2. Vướng mắc trong đồng bộ hóa pháp luật chuyên ngành
Nhiều luật chuyên ngành ban hành trước khi chuyển đổi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp vẫn còn những quy định thẩm quyền gắn với cấp huyện, trong khi cấp huyện không còn tồn tại, gây lúng túng khi áp dụng. Báo cáo sơ kết 01 năm của UBND Thành phố đã nêu cụ thể: một số quy định tại nghị định phân định thẩm quyền còn mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành, như thẩm quyền quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm viên chức lãnh đạo ngành giáo dục chưa thống nhất, thẩm quyền đăng ký nội quy lao động chưa rõ ràng giữa các cấp; nhiều thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền UBND, Chủ tịch UBND Thành phố có thời hạn xử lý ngắn trong khi khối lượng công việc dồn về cấp tỉnh tăng cao; một số thủ tục có tên gọi giống nhau (điển hình lĩnh vực an toàn thực phẩm do Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương cùng ban hành) khiến tổ chức, cá nhân khó xác định đúng thủ tục cần nộp; nhiều thủ tục mới phân cấp từ 01/7/2025 đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền, thời hạn, hồ sơ, biểu mẫu[2].
4.3. Vướng mắc về cơ sở pháp lý cho vận hành chính quyền số
Mặc dù tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 93,38% và 100% văn bản trao đổi đã điện tử hóa, đây chủ yếu là kết quả nỗ lực kỹ thuật ở địa phương, chưa phản ánh đầy đủ mức độ hoàn thiện của khung pháp lý. Báo cáo của UBND Thành phố chỉ rõ: phần mềm quản lý văn bản chưa có chức năng lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ theo quy định về công tác văn thư; chưa có hệ thống lưu trữ tập trung, dữ liệu số hóa còn phân tán, chưa được sao lưu an toàn theo quy định. Khối lượng tài liệu lưu trữ hình thành trước 01/7/2025 còn tồn đọng rất lớn (riêng giai đoạn 2026-2030 dự kiến số hóa cho 157 cơ quan với khoảng 393,6 triệu trang tài liệu) nhưng tỷ lệ đã số hóa còn thấp do tài liệu chưa được chỉnh lý hoàn chỉnh. Những hạn chế này cho thấy quy định thống nhất ở tầm quốc gia về giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử khi luân chuyển qua nhiều cấp, về thẩm quyền quản trị hệ thống và trách nhiệm bảo mật vẫn còn chưa đầy đủ.
4.4. Vướng mắc về phân định trách nhiệm khi thực hiện thủ tục hành chính điện tử
Hiện nay, trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể - nhất là khi có sai sót do lỗi hệ thống, lỗi liên thông dữ liệu - chưa được quy định cụ thể. Vướng mắc này bộc lộ rõ khi Thành phố kết nối với hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của từng Bộ, ngành: hiện có tới 16 hệ thống riêng biệt, thiếu liên thông đồng bộ, khiến cán bộ phải thao tác qua lại giữa nhiều hệ thống cho cùng một hồ sơ. Việc giải quyết thủ tục hành chính còn gặp khó khăn, vướng mắc như: do liên thông qua nhiều hệ thống của các bộ, ngành nên chưa vận hành ổn định, gây cản trở trong việc tra cứu thông tin; một số thủ tục hành chính mới được phân cấp chưa có phần mềm quản lý thống nhất, vẫn sử dụng giấy tờ thủ công[3].Việc đồng bộ dữ liệu từ cổng Bộ sang Cổng Quốc gia nhiều khi không kịp thời, có trường hợp hồ sơ đã xử lý xong tại Bộ nhưng Cổng Quốc gia vẫn báo “đang tiếp nhận”, khiến đơn vị bị ghi nhận là trễ hạn. Quy trình bị “đứt gãy” do hệ thống mới của một số Bộ chỉ triển khai một phần thủ tục; việc phân quyền tài khoản do đơn vị kỹ thuật của Bộ quản lý khiến hồ sơ bị đọng lại chờ phân quyền khi nhân sự thay đổi; hệ thống của một số Bộ còn lỗi kỹ thuật (sai biểu mẫu, mất dữ liệu, không ký số, không thanh toán được). Khi trách nhiệm đối với các lỗi này chưa được phân định rõ giữa cấp tỉnh, cấp xã và cơ quan quản trị hệ thống của Bộ, một bộ phận cán bộ cấp xã có tâm lý e ngại, né tránh khi xử lý thủ tục phức tạp, liên ngành. Công tác phân công, phối hợp giữa các bộ phận ở một số nơi chưa thật sự rõ ràng, còn xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, làm chậm tiến độ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp[4].
5. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG VƯỚNG MẮC
Thứ nhất, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là cuộc cải cách quy mô lớn, phức tạp, triển khai trong thời gian ngắn, trong khi việc rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật chuyên ngành - nhất là Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý tài sản công - đòi hỏi quy trình, thời gian theo luật định, tạo độ trễ giữa yêu cầu thực tiễn và tiến độ hoàn thiện thể chế; đội ngũ cán bộ pháp chế ở cơ sở còn mỏng, thiếu kinh nghiệm xử lý vấn đề chuyển tiếp chính sách[5].
Thứ hai, thể chế về phân cấp, phân quyền và thể chế về chuyển đổi số được xây dựng theo hai lộ trình khác nhau, thiếu cơ chế rà soát, đối chiếu khi triển khai song song tại địa phương.
Thứ ba, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã - nhất là tại địa bàn mới sáp nhập còn hạn chế do phải thực hiện khối lượng công việc tăng thêm, vừa phải đáp ứng yêu cầu vận hành thành thạo hệ thống, phần mềm dùng chung trong khi chưa được tập huấn chuyên sâu, kịp thời.
Thứ tư, hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các ngành, các cấp chưa được đầu tư, kết nối đồng bộ ngay từ đầu; hệ thống thông tin của các bộ, ngành Trung ương vận hành tập trung nhưng thiếu liên thông với địa phương, khiến Thành phố ở thế bị động trong công bố thủ tục hành chính và chuyển đổi vận hành các cổng dịch vụ công theo kế hoạch chung[6].
6. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
6.1. Về hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền
Đẩy nhanh rà soát, sửa đổi đồng bộ các luật chuyên ngành để tương thích với mô hình hai cấp, ưu tiên các lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư, giáo dục, lao động; sớm khắc phục các mâu thuẫn cụ thể mà Thành phố đã chỉ ra như thẩm quyền quản lý, bổ nhiệm viên chức lãnh đạo ngành giáo dục, thẩm quyền đăng ký nội quy lao động, cũng như loại bỏ tình trạng thủ tục hành chính trùng tên giữa các Bộ quản lý chuyên ngành. Nghiên cứu ban hành hướng dẫn thống nhất về nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã đối với các công trình, dự án liên xã, gắn với cơ chế ủy quyền linh hoạt, có kiểm soát phù hợp đặc thù đô thị đặc biệt. Các Bộ, ngành cần khẩn trương hướng dẫn cụ thể đối với thủ tục hành chính mới phân cấp từ 01/7/2025, tránh để địa phương tự vận dụng thiếu thống nhất.
Sớm triển khai Luật Phát triển đô thị được Quốc hội Khóa XVI thông qua ngày 24/8/2026, có hiệu lực từ ngày 0/10/2026 cho phép TP. Hồ Chí Minh khi ban hành văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị được quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành (trong những lĩnh vực được luật cho phép). Đồng thời, sau khi có ý kiến của cấp có thẩm quyền, được quyết định thí điểm chính sách mới, khác luật hoặc nghị quyết của Quốc hội trong thời hạn tối đa 05 năm. Đây là quy định rất “mở”, tạo điều kiện cho Thành phố chủ động hơn trong đổi mới sáng tạo.
6.2. Về hoàn thiện cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số
Hoàn thiện quy định về giá trị pháp lý của hồ sơ, dữ liệu điện tử, chữ ký số trong quy trình liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã; quy định rõ trách nhiệm quản trị, bảo mật, xác thực dữ liệu của từng chủ thể. Sớm bổ sung chức năng lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ điện tử vào phần mềm quản lý văn bản đang sử dụng; xây dựng lộ trình để địa phương có hệ thống lưu trữ tập trung, khắc phục tình trạng dữ liệu số hóa phân tán, chưa được sao lưu an toàn.
6.3. Về phân định trách nhiệm pháp lý và thống nhất hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính
Bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể trong quy trình xử lý hồ sơ điện tử liên thông, phân biệt rõ trách nhiệm do lỗi chủ quan với lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống, làm cơ sở khuyến khích cán bộ mạnh dạn thực hiện nhiệm vụ được phân cấp. Khắc phục tình trạng phân tán giữa 16 hệ thống thông tin của các bộ, ngành theo hướng thống nhất một cổng tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính toàn quốc, đồng bộ dữ liệu theo thời gian thực; chuẩn hóa giao diện, quy trình và phân cấp quyền quản trị tài khoản để địa phương chủ động điều chỉnh khi có biến động nhân sự. Để tạo điều kiện giải quyết thủ tục hành chính nhanh gọn, trước mắt đối với những hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận mà đến ngày Luật Phát triển đô thị có hiệu lực thi hành (01/10/2026) chưa được giải quyết xong thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
6.4. Về bảo đảm nguồn lực thực hiện
Ban hành cơ chế phân bổ ngân sách, biên chế, hạ tầng công nghệ thông tin gắn với khối lượng nhiệm vụ được phân cấp, bảo đảm nguyên tắc phân cấp nhiệm vụ đi đôi với phân cấp nguồn lực. Đặc biệt, đối với đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh, nơi bình quân mỗi cán bộ, công chức phục vụ khoảng 753 người dân, cao hơn 1,5 lần bình quân cả nước - cần nghiên cứu cơ chế cho phép Thành phố chủ động hơn trong quyết định, điều chỉnh, phân bổ lại biên chế giữa các địa bàn theo khối lượng công việc thực tế, thay vì áp dụng khung định mức bình quân chung cho mọi địa bàn. Kinh nghiệm của Thành phố trong đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin theo Quyết định số 2448/QĐ-UBND, gắn với tổ chức lại nhân sự theo hướng ưu tiên các vị trí chuyên môn sâu, là cơ sở thực tiễn có giá trị tham khảo cho các địa phương khác.
7. KẾT LUẬN
Tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số là chủ trương lớn, đúng đắn, phù hợp yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ. Qua 01 năm triển khai, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt kết quả bước đầu quan trọng: bộ máy tinh gọn, khoảng 1.008 nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền cho cấp xã, hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, tỷ lệ giải quyết đúng hạn và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đều đạt trên 96%. Tuy nhiên, quá trình triển khai đã bộc lộ không ít vướng mắc pháp lý cần được nhận diện, tháo gỡ kịp thời, từ xác định thẩm quyền, đồng bộ hóa pháp luật chuyên ngành, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho chính quyền số, đến phân định trách nhiệm và bảo đảm nguồn lực, đặc biệt là cơ chế biên chế phù hợp đặc thù đô thị đặc biệt. Việc tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về phân cấp, phân quyền gắn với chuyển đổi số không chỉ có ý nghĩa với Thành phố Hồ Chí Minh mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để hoàn thiện thể chế chung của cả nước giai đoạn 2026 - 2030./.
TS. Bùi Thị Nguyệt Thu
Học viện Chính trị khu vực II
________________________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
2. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
3. Bộ Nội vụ (2025, Thông tư số 05/2025/TT-BNV, ngày 14/5/2025 Quy định nghiệp vụ lữu trữ tài liệu lưu trữ số
4. Chính phủ (2025), Nghị định số 150/2025/NĐ-CP, ngày 12/6/2025 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
5. Chính phủ (2025), Nghị định số 370/2025/NĐ-CP, ngày 31/12/2025 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
7. TS. Phan Hải Hồ (2025), Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị điện tử, 12/12/2025; https://lyluanchinhtri.vn/quan-tri-dia-phuong-theo-mo-hinh-chinh-quyen-hai-cap-tai-thanh-pho-ho-chi-minh-10384.html
8. TS. Nguyễn Thanh Long, TS. Phan Tấn Hùng (2026), Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh thời gian qua, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, 30/01/2026; https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/30/nhung-thuan-loi-va-kho-khan-trong-xay-dung-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tai-tp-ho-chi-minh-thoi-gian-qua/
9. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi)
10. Quốc hội (2026), Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH
11. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg, ngày 06/01/2022 Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
12. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025), Quyết định số 2448/QĐ-UBND ngày 31/10/2025 phê duyệt Đề án hoàn thiện hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin cho Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp xã và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, phục vụ hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
13. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2026), Báo cáo số 179/BC-UBND ngày 14/5/2026 sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh
14. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh.
[1]Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo số 179/BC-UBND ngày 14/5/2026 sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr.17.
[2] UBND TP. Hồ Chí Minh, Báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, tldd, tr.18-19.
[3] TS. Phan Hải Hồ, Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị điện tử, 12/12/2025
[4] TS. Nguyễn Thanh Long, TS. Phan Tấn Hùng, Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh thời gian qua, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, 30/01/2026
[5]UBND TP. Hồ Chí Minh, Báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, tldd, tr 32.
[6]UBND TP. Hồ Chí Minh, Báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, tldd, tr. 29-30.



