Trong tháng 6/2026, một số vấn đề được dư luận, xã hội quan tâm liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính. Cụ thể như sau:
I. Về tình hình thực hiện thu, chi NSNN 6 tháng năm 2026
1. Về thu NSNN
a) Thu NSNN đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62% dự toán (thu NSTW đạt khoảng 63,8% dự toán, thu NSĐP đạt khoảng 60,3% dự toán), tăng 17,4% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó:
(i) Thu nội địa đạt 1.352,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán, tăng 16,5% so cùng kỳ. Không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu hồi vốn, thu cổ tức, lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế và chênh lệch thu, chi của Ngân hàng Nhà nước đạt 64,2% dự toán, tăng 27,2% so với cùng kỳ. Một số khoản thu đạt khá so với dự toán và tăng trưởng so cùng kỳ như: thu từ 03 khu vực sản xuất - kinh doanh, thu thuế thu nhập cá nhân, thu từ hoạt động xổ số...
(ii) Thu từ dầu thô đạt 72,4% dự toán, tăng 26,1% so cùng kỳ. Giá dầu thanh toán bình quân 6 tháng đạt khoảng 94,97 USD/thùng, cao hơn 24,97 USD/thùng so giá tính dự toán; sản lượng đạt 4,26 triệu tấn, bằng 53,3% dự toán, tăng 8,4% so với cùng kỳ.
(iii) Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 66% dự toán, tăng 22,9% so cùng kỳ.
2. Về chi NSNN
b) Chi NSNN ước đạt 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán, xấp xỉ so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 357,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,9% dự toán Quốc hội quyết định, tăng 13,9% so với cùng kỳ; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ước đạt 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, so với cùng kỳ cao hơn 38,5 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối và thấp hơn 0,5% về tỷ lệ; chi trả nợ lãi đạt 49,7% dự toán; chi thường xuyên ước đạt 40,4% dự toán.
Ngân sách trung ương đã chi từ dự phòng (bao gồm cả nguồn năm 2025 chuyển sang) là 24,8 nghìn tỷ đồng để khắc phục hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, thực hiện nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách theo quy định.
c) Cân đối NSNN được đảm bảo. Đến hết tháng 6, đã thực hiện phát hành 182,6 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, kỳ hạn bình quân 9,36 năm, lãi suất bình quân 4,11%/năm.
II. Tình hình phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư công
1.1. Về kế hoạch vốn:
- Số vốn đã được Quốc hội phân bổ và Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương là 1.004.586 tỷ đồng.
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 89.416,4 tỷ đồng, bao gồm:
(1) 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.
(2) 16.100 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án thuộc các CTMTQG.
(3) 9.877,96 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ.
(4) 18.627,89 tỷ đồng từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đưa về số vốn chưa phân bổ chi tiết thuộc thẩm quyền Chính phủ.
- Đến hết tháng 6, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án3 là 999.970,5 tỷ đồng. Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (14.709,6 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 985.260,9 tỷ đồng, đạt 98,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng).
- Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 19.325,1 tỷ đồng4 (chiếm 1,9% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao) của 09 bộ, cơ quan trung ương và 26 địa phương. Nguyên nhân chủ yếu do: (i) đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, chưa đảm bảo điều kiện phân bổ vốn cho các nhiệm vụ, dự án (trong đó khoảng 8.768 tỷ đồng chưa phân bổ vốn thực hiện các CTMTQG mới được giao bổ sung vào giữa tháng 6); (ii) đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu để điều chuyển cho bộ, cơ quan và địa phương có nhu cầu sử dụng.
1.2. Về giải ngân:
- Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 30/6/2026 là 356.935,1 tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. So với cùng kỳ năm 20255, kết quả giải ngân cao hơn 38.361,9 tỷ đồng về số tuyệt đối và thấp hơn 0,5% về tỷ lệ.
Nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công NSĐP (tương đương 32.511,3 tỷ đồng) thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội -Hải Phòng, số giải ngân đến hết ngày 30/6/2026 của cả nước đạt 36,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (972.074,7 tỷ đồng).
- Khó khăn vướng mắc: Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan và địa phương, một số khó khăn vướng mắc chủ yếu ảnh hưởng tiến độ giải ngân như sau:
(1) Tình trạng thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng, chưa đáp ứng kịp nhu cầu gia tăng nhanh trong giai đoạn đẩy mạnh đầu tư công; chưa đồng đều trong việc điều động nguồn cung vật liệu giữa các vùng. (2) Giá xăng, dầu, chi phí vận chuyển biến động mạnh, làm phát sinh chênh lệch chi phí, dẫn đến phải thực hiện điều chỉnh hợp đồng. (3) Khó khăn trong công tác GPMB liên quan đến việc xác định nguồn gốc đất, đơn giá, phương án đền bù, chưa thể triển khai thi công theo kế hoạch. (4) Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận CĐT, BQLDA, nhà thầu vẫn còn hạn chế, chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công; một số xã, phường thiếu cán bộ phụ trách đầu tư công, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. (5) Việc lập kế hoạch chưa sát với nhu cầu và khả năng thực hiện, cùng với chất lượng CBĐT các dự án chưa tốt, dẫn tới phải điều chỉnh dự án hoặc đề xuất hoàn trả kế hoạch vốn, làm chậm tiến độ triển khai....
- Một số giải pháp: Để thúc đẩy giải ngân đầu tư công, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể: (1) Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò người đứng đầu các bộ, cơ quan, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết. (2) Về GPMB và nguyên vật liệu: thực hiện theo theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/20266 và Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01/4/20267 về các giải pháp quản lý, điều hành, kiểm soát giá nguyên vật liệu xây dựng và tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh công tác GPMB. (3) Bộ Xây dựng chủ động đôn đốc, phối hợp với địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, chỉ đạo điều phối nguồn cung vật liệu liên vùng đảm bảo đủ nguồn cung cho các dự án. (4) Đối với các dự án giao thông trọng điểm, Bộ Xây dựng và các địa phương nghiêm túc thực thiện theo nhiệm vụ, giải pháp tại Thông báo số 343/TB-VPCP ngày 01/7/2026 của Văn phòng Chính phủ để đẩy nhanh tiến độ, tăng sản lượng thực hiện và giải ngân trong Quý III/2026 với mục tiêu đạt tỷ lệ giải ngân các công trình, dự án trọng điểm phải cao hơn mức trung bình cả nước. (5) Khắc phục các tồn tại trong công tác cán bộ; Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm khắc các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tổ chức, cá nhân cố tình gây khó khăn, cản trở, thiếu trách nhiệm. Có giải pháp sắp xếp bố trí cán bộ đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý và triển khai các dự án tại các xã, phường, nhất là đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
1.3. Các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia:
Giải ngân các dự án giao thông trọng điểm đến hết ngày 30/6/2026 là 59.288,6 tỷ đồng, đạt 24,2% kế hoạch đã phân bổ (245.053,2 tỷ đồng)
Riêng đối với 02 dự án quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực đường sắt được giao kế hoạch vốn lớn (khoảng 101 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,6% kế hoạch vốn năm 2026 của Bộ Xây dựng), việc giải ngân 02 dự án này tác động quan trọng đến tỷ lệ giải ngân của Bộ Xây dựng và giải ngân các dự án trọng điểm quốc gia song tiến độ giải ngân chậm. Cụ thể: Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam (gọi tắt là dự án đường sắt tốc độ cao) đã giải ngân 1.068,8 tỷ đồng, đạt 2% kế hoạch của dự án (56.846,1 tỷ đồng); Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (gọi tắt là dự án Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng) đã giải ngân 1.193,4 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch của dự án (48.103,8 tỷ đồng).
Nếu không tính kế hoạch vốn và giải ngân của 02 dự án đường sắt thì kết quả giải ngân của các dự án giao thông trọng điểm đạt 40,8% kế hoạch, cao hơn bình quân chung của cả nước.
Hoàng Minh Tiến



