Việt Nam đang đứng trước cơ hội đặc biệt để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu. Tuy nhiên, bài toán quyết định không chỉ là thu hút thêm các dự án đầu tư, mà là hình thành được năng lực nội sinh về nhân lực, nghiên cứu và công nghệ. Đề xuất xây dựng mạng lưới phát triển bán dẫn theo mô hình “ba lớp” gồm trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp vì thế gợi mở một cách tiếp cận có tính hệ thống: lấy đào tạo làm nền, nghiên cứu công nghệ nguồn làm trụ cột và doanh nghiệp làm đầu kéo thương mại hóa.
Từ tham gia chuỗi giá trị đến xây dựng năng lực nội sinh
Công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những ngành có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Không chỉ là một ngành công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn còn là nền tảng vật chất của trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, thiết bị thông minh, ô tô điện, viễn thông, quốc phòng và hàng loạt lĩnh vực của nền kinh tế số.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã xác định phát triển công nghiệp bán dẫn là một lựa chọn chiến lược. Quyết định số 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 đặt ra lộ trình ba giai đoạn, từ thu hút FDI có chọn lọc, xây dựng năng lực cơ bản trong toàn bộ chuỗi giá trị đến từng bước tự chủ công nghệ và làm chủ nghiên cứu, phát triển.
Theo chiến lược, đến năm 2030 Việt Nam hướng tới hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế, một nhà máy chế tạo chip quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử; doanh thu công nghiệp bán dẫn trên 25 tỷ USD/năm và trên 50.000 kỹ sư, cử nhân phục vụ ngành. Đến giai đoạn 2040-2050, mục tiêu được nâng lên ít nhất 300 doanh nghiệp thiết kế, ba nhà máy chế tạo chip, 20 nhà máy đóng gói, kiểm thử và doanh thu trên 100 tỷ USD/năm.
Những con số này cho thấy tham vọng rất lớn. Nhưng phía sau các mục tiêu về doanh thu, số lượng doanh nghiệp hay nhà máy là một câu hỏi khó hơn: Việt Nam sẽ tạo ra năng lực công nghệ của chính mình như thế nào?
Đây chính là điểm đáng chú ý trong đề xuất của GS.TS Phạm Nam Hải, Khoa Điện và Điện tử, Đại học Khoa học Tokyo. Theo chuyên gia, Việt Nam cần xây dựng mạng lưới đào tạo và nghiên cứu công nghệ bán dẫn theo ba lớp: các trường đại học đảm nhiệm đào tạo và nghiên cứu nền tảng; một hoặc hai viện nghiên cứu chủ lực tập trung vào công nghệ nguồn; doanh nghiệp đảm nhiệm triển khai công nghệ thành sản phẩm. Ba lớp phải được kết nối thành một hệ sinh thái nhà trường – viện nghiên cứu – doanh nghiệp.
Điểm quan trọng của mô hình này là chuyển cách tiếp cận từ “đào tạo nhân lực cho thị trường” sang “xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo cho cả hệ sinh thái”.
Ba lớp, một chuỗi giá trị thống nhất
Lớp thứ nhất: các trường đại học là nền móng của hệ sinh thái. Trong lĩnh vực bán dẫn, nguồn nhân lực không thể chỉ được đào tạo theo hướng vận hành dây chuyền hoặc thực hiện một số công đoạn kỹ thuật được phân công sẵn. Để tiến tới làm chủ công nghệ, Việt Nam cần đội ngũ có nền tảng sâu về toán học, vật lý, điện tử, vật liệu, kỹ thuật máy tính, thiết kế mạch, công nghệ chế tạo và phần mềm.
Theo GS.TS Phạm Nam Hải, người học muốn thực sự theo đuổi công nghệ bán dẫn cần nắm chắc toán học, điện từ học, vật lý lượng tử, vật lý chất bán dẫn, mạch số, mạch analog và ngoại ngữ; đồng thời cần được đào tạo nâng cao ở bậc sau đại học.
Điều này đặc biệt quan trọng bởi bán dẫn là lĩnh vực có độ sâu khoa học rất lớn. Một kỹ sư thiết kế chip giỏi không thể chỉ dựa vào kỹ năng sử dụng công cụ thiết kế. Đằng sau một sản phẩm bán dẫn là cả chuỗi kiến thức từ vật liệu, thiết bị, vật lý linh kiện đến kiến trúc mạch, thuật toán và phần mềm.
Do đó, mục tiêu 50.000 nhân lực đến năm 2030 không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ số lượng. Câu hỏi quan trọng hơn là trong số đó có bao nhiêu kỹ sư có khả năng thiết kế, bao nhiêu nhà nghiên cứu có thể phát triển công nghệ mới, bao nhiêu chuyên gia có thể dẫn dắt các nhóm R&D và bao nhiêu người đủ năng lực làm việc ở những công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực bán dẫn của Việt Nam cũng đã xác định đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ từ đại học trở lên, phục vụ các công đoạn của chuỗi giá trị bán dẫn, đồng thời từng bước nắm bắt công nghệ sản xuất.
Như vậy, “lớp đại học” phải được hiểu rộng hơn đào tạo cử nhân. Đó phải là một mạng lưới đại học nghiên cứu, phòng thí nghiệm, chương trình sau đại học, nhóm nghiên cứu mạnh và các chương trình liên kết quốc tế.
Lớp thứ hai: viện nghiên cứu chủ lực chính là mắt xích còn thiếu để biến tri thức thành công nghệ nguồn. Trong chuỗi giá trị bán dẫn, Việt Nam hiện có lợi thế rõ hơn ở các tầng thiết kế chip, hệ thống điện tử và phần mềm điều khiển. GS.TS Phạm Nam Hải chỉ ra rằng Việt Nam còn hạn chế về nguồn lực ở các tầng cơ bản như vật liệu bán dẫn và thiết bị bán dẫn, trong khi đây lại là những nền tảng không thể thiếu nếu muốn tiến tới sản xuất chip.
Khoảng trống này không thể được lấp đầy chỉ bằng việc mở thêm ngành đào tạo hoặc thu hút FDI. Nó đòi hỏi những nhóm nghiên cứu có khả năng theo đuổi các vấn đề dài hạn, có thể mất nhiều năm mới tạo ra kết quả thương mại.
Đó là lý do cần một hoặc một số viện nghiên cứu đủ mạnh, được đầu tư tập trung và có quyền tự chủ cao về chuyên môn, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế.
Viện nghiên cứu không nên trở thành một “trường đại học thứ hai”, càng không nên chỉ thực hiện các đề tài hành chính. Vai trò của lớp này là tạo ra công nghệ nguồn, xây dựng phòng thí nghiệm, phát triển vật liệu, linh kiện, thiết bị, quy trình và các nền tảng có khả năng chuyển giao cho doanh nghiệp.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đặt yêu cầu phát triển các trường đại học, viện nghiên cứu trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo; đồng thời nhấn mạnh việc phát triển nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực như chip bán dẫn, vi mạch và công nghệ then chốt.
Lớp thứ ba: doanh nghiệp là nơi kiểm nghiệm cuối cùng của năng lực công nghệ. Một hệ sinh thái nghiên cứu dù mạnh đến đâu cũng khó tạo ra giá trị kinh tế nếu kết quả không được đưa ra thị trường. Doanh nghiệp vì thế không chỉ là nơi “tiếp nhận” nhân lực từ trường đại học mà phải trở thành một chủ thể cùng tham gia đặt bài toán nghiên cứu.
Mối quan hệ cần chuyển từ mô hình “trường đào tạo – doanh nghiệp tuyển dụng” sang “doanh nghiệp – viện – trường cùng phát triển sản phẩm”.
Doanh nghiệp đặt hàng công nghệ; viện nghiên cứu giải quyết bài toán công nghệ nguồn; trường đại học đào tạo nhân lực và cung cấp tri thức nền tảng. Khi một thiết kế chip, vật liệu mới, linh kiện hoặc quy trình công nghệ được hình thành, doanh nghiệp tiếp tục đảm nhiệm thử nghiệm, sản xuất, thương mại hóa và mở rộng thị trường.
Khi đó, ba lớp không tồn tại độc lập mà hình thành một vòng tuần hoàn đổi mới sáng tạo.
Lấp khoảng trống từ vật liệu, thiết bị đến thiết kế chip
Một trong những giá trị lớn nhất của đề xuất “ba lớp” nằm ở việc đặt vấn đề phát triển bán dẫn trong toàn bộ chuỗi công nghệ.
Theo phân tích của GS.TS Phạm Nam Hải, lĩnh vực điện tử bán dẫn có thể hình dung thành năm tầng: vật liệu bán dẫn; thiết bị bán dẫn; thiết kế mạch; hệ thống điện tử; và phần mềm điều khiển. Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp hoạt động từ tầng thiết kế đến phần mềm, nhưng còn hạn chế ở hai tầng nền tảng là vật liệu và thiết bị. Đây là vấn đề có tính chiến lược.
Nếu chỉ phát triển những công đoạn có rào cản gia nhập thấp hơn, Việt Nam có thể nhanh chóng tạo ra doanh thu và việc làm nhưng vẫn phụ thuộc vào công nghệ lõi từ bên ngoài. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, năng lực tự chủ sẽ bị giới hạn.
Ngược lại, nếu tập trung quá sớm vào xây dựng năng lực chế tạo chip tiên tiến mà chưa có hệ sinh thái nghiên cứu, nhân lực và doanh nghiệp hỗ trợ, chi phí đầu tư sẽ rất lớn trong khi hiệu quả khó bảo đảm.
Vì vậy, hướng đi hợp lý là xây dựng năng lực theo tầng, có trọng tâm và theo lợi thế của Việt Nam.
Trong ngắn hạn, thiết kế chip, đóng gói - kiểm thử, vật liệu mới, chip chuyên dụng, chip công suất, cảm biến và các sản phẩm phục vụ những ngành Việt Nam có nhu cầu lớn có thể trở thành những lĩnh vực ưu tiên. Song song với đó là đầu tư dài hạn vào vật liệu, thiết bị và công nghệ chế tạo.
Cách tiếp cận này phù hợp với chính lộ trình của Chiến lược 1018/QĐ-TTg: giai đoạn đầu tận dụng lợi thế về địa chính trị, nhân lực và thu hút FDI có chọn lọc; giai đoạn tiếp theo kết hợp tự cường với FDI; và về dài hạn hướng tới làm chủ nghiên cứu, phát triển, hình thành hệ sinh thái tự chủ và có năng lực dẫn đầu ở một số công đoạn.
FDI phải trở thành “trường học công nghệ”
Một yêu cầu khác đặt ra là thay đổi cách nhìn về FDI trong ngành bán dẫn. Việt Nam cần FDI để nhanh chóng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng nếu các dự án FDI hoạt động như những “ốc đảo công nghệ”, ít liên kết với doanh nghiệp trong nước, trường đại học và viện nghiên cứu thì tác động lan tỏa sẽ hạn chế.
Mục tiêu của thu hút FDI vì thế không chỉ là bao nhiêu tỷ USD vốn đăng ký, bao nhiêu nhà máy được xây dựng, mà còn là Việt Nam học được gì, doanh nghiệp Việt Nam tham gia được đến đâu và năng lực nghiên cứu trong nước được nâng lên như thế nào.
Mỗi dự án FDI công nghệ cao cần được nhìn như một trường học công nghệ thực tế. Doanh nghiệp FDI có thể tham gia đào tạo kỹ sư, đặt hàng nghiên cứu tại các trường đại học, mở phòng thí nghiệm chung, hỗ trợ phát triển nhà cung ứng trong nước và chuyển giao những quy trình phù hợp. Đổi lại, Việt Nam cần tạo môi trường đầu tư đủ hấp dẫn về hạ tầng, nhân lực, điện năng, logistics, sở hữu trí tuệ và thể chế.
Đây cũng là lý do “ba lớp” phải gắn với chính sách thu hút đầu tư. Nếu trường đại học và viện nghiên cứu đứng ngoài chuỗi sản xuất, FDI khó tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Nếu doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực tiếp nhận công nghệ, chuyển giao cũng khó phát huy hiệu quả.
Kết nối trí thức Việt Nam toàn cầu
Một nguồn lực đặc biệt khác là cộng đồng chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài. Thực tế hợp tác Nhật Bản - Việt Nam được GS.TS Phạm Nam Hải chia sẻ cho thấy mô hình liên kết quốc tế có thể đồng thời giải quyết nhiều bài toán: đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và phát triển mạng lưới chuyên gia. Đại học Khoa học Tokyo đã tham gia chương trình nghiên cứu chung với các cơ sở giáo dục Việt Nam về bán dẫn AI biên, vật liệu bán dẫn, bộ nhớ, thiết kế chip ASIC và phần mềm AI biên; đồng thời có sự tham gia của các giáo sư Nhật Bản trong chương trình đào tạo tiến sĩ bán dẫn cho Việt Nam.
Điều này gợi mở một cách tiếp cận mới: thay vì chỉ “mời chuyên gia về nước”, Việt Nam có thể xây dựng mạng lưới chuyên gia toàn cầu.
Một nhà khoa học đang làm việc tại Nhật Bản, Mỹ, châu Âu hay Hàn Quốc không nhất thiết phải trở về làm việc toàn thời gian mới có thể đóng góp. Họ có thể tham gia nhóm nghiên cứu chung, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp và tham gia các chương trình đào tạo.
Nghị quyết 57-NQ/TW cũng nhấn mạnh việc xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế; đồng thời yêu cầu có cơ chế đặc biệt để thu hút, trọng dụng và giữ chân các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia và những người có khả năng dẫn dắt các nhiệm vụ công nghệ trọng điểm.
Đối với bán dẫn, đây không chỉ là chính sách nhân tài mà còn là một chiến lược rút ngắn thời gian học hỏi công nghệ.
Từ “ba lớp” đến một hệ sinh thái có khả năng tự tái tạo
Điểm cốt lõi của mô hình “ba lớp” không nằm ở việc chia hệ thống thành ba nhóm tổ chức, mà ở cơ chế tương tác giữa ba nhóm.
Nếu trường đại học chỉ đào tạo, viện nghiên cứu chỉ làm đề tài và doanh nghiệp chỉ sản xuất, hệ sinh thái sẽ vẫn phân mảnh.
Ngược lại, cần hình thành những chương trình nghiên cứu – đào tạo – sản xuất chung, trong đó doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu; viện nghiên cứu chịu trách nhiệm giải quyết các bài toán công nghệ; trường đại học phát triển nguồn nhân lực; kết quả được chuyển giao trở lại doanh nghiệp để thương mại hóa.
Muốn vậy, chính sách phải cho phép và khuyến khích các mô hình hợp tác linh hoạt hơn. Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra định hướng hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ mới, đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học tham gia thành lập và điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu.
Đây chính là nền tảng thể chế để biến nghiên cứu thành năng lực sản xuất. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cũng cần tránh tư duy phát triển bán dẫn theo phong trào. Không phải địa phương nào cũng cần xây dựng một trung tâm bán dẫn; không phải trường đại học nào cũng phải đào tạo mọi chuyên ngành; cũng không phải doanh nghiệp nào cũng phải tham gia toàn bộ chuỗi.
Thay vào đó, cần phân công theo năng lực và lợi thế, hình thành một số trung tâm nghiên cứu mạnh, một số đại học có năng lực đào tạo chuyên sâu, các cụm doanh nghiệp theo từng công đoạn và mạng lưới liên kết quốc tế.
Không chỉ là ngành công nghiệp, mà là năng lực quốc gia
Bán dẫn khác với nhiều ngành công nghiệp thông thường ở chỗ năng lực cạnh tranh được tích lũy qua thời gian rất dài. Một nhà máy có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng một hệ sinh thái công nghệ phải được hình thành qua nhiều thế hệ kỹ sư, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Vì thế, nếu Việt Nam chỉ đặt mục tiêu có bao nhiêu nhà máy vào năm 2030 thì chưa đủ. Mục tiêu sâu xa hơn phải là: đến năm 2030 Việt Nam có những năng lực công nghệ nào mà trước đây chưa có; đến năm 2040 có thể tự thiết kế, tự nghiên cứu và tự phát triển những sản phẩm nào; và đến năm 2050 có thể dẫn đầu ở những phân khúc nào của chuỗi giá trị toàn cầu?
Đó cũng là ý nghĩa chiến lược của mô hình “ba lớp”. Trường đại học tạo nền tảng tri thức và nhân lực. Viện nghiên cứu tạo công nghệ nguồn. Doanh nghiệp tạo sản phẩm và thị trường. Nhà nước kiến tạo thể chế, hạ tầng và cơ chế tài chính để ba lớp kết nối hiệu quả. Cộng đồng chuyên gia quốc tế bổ sung tri thức và kinh nghiệm. FDI cung cấp thị trường, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng.
Nếu những thành tố đó được kết nối thành một chỉnh thể, Việt Nam không chỉ có cơ hội trở thành điểm đến của các nhà sản xuất bán dẫn mà còn có thể từng bước hình thành năng lực sáng tạo bán dẫn của chính mình.
Đây mới là thước đo quan trọng nhất của quá trình tham gia chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu: không dừng lại ở việc “có mặt trong chuỗi”, mà phải từng bước chuyển từ vị trí người tham gia sang vị trí đồng kiến tạo giá trị.
ThS Phạm Nguyên Bảo
Tài liệu tham khảo:
- Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 về Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
- Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Chính phủ, Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, được cập nhật trong năm 2026.
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050, với mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ từ đại học trở lên đến năm 2030.
- Nguyễn Tuyến (P/v TTXVN tại Nhật Bản), “Chuyên gia đề xuất mô hình ba lớp phát triển ngành bán dẫn Việt Nam”, Tạp chí Điện tử Doanh nhân Việt Nam, 11/8/2026.



