Việc “thiết kế chính sách làm bệ phóng cho kinh tế tư nhân” vì thế không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là đòi hỏi chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực này không chỉ phản ánh sức sống năng động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn cho thấy tiềm năng to lớn của các nguồn lực xã hội khi được khơi thông đúng hướng. Từ những hộ kinh doanh nhỏ lẻ đến các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, khu vực kinh tế tư nhân đang từng bước trở thành lực lượng quan trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP, ngân sách nhà nước và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Để khu vực này thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, điều cốt lõi không chỉ nằm ở tinh thần khởi nghiệp hay năng lực của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thể chế và môi trường chính sách. Một hệ thống chính sách đủ mạnh, minh bạch, ổn định và mang tính kiến tạo sẽ là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Khơi thông thể chế, tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân phát triển bền vững
Xuất phát từ yêu cầu đó, quan điểm “thiết kế chính sách làm bệ phóng cho kinh tế tư nhân” thể hiện bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị và điều hành kinh tế của Đảng và Nhà nước. Định hướng cải cách thể chế đơn thuần phản ánh cách tiếp cận mới: Nhà nước không đứng ở vị trí quản lý theo tư duy kiểm soát mà chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo môi trường phát triển, đồng hành cùng doanh nghiệp và khơi thông mọi nguồn lực xã hội cho tăng trưởng. Tư duy ấy đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong nhiều năm qua, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP, khu vực này còn tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tạo sức sống năng động cho nền kinh tế thị trường. Với đặc trưng linh hoạt, nhạy bén trước biến động của thị trường, doanh nghiệp tư nhân thường có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường kinh doanh, từ đó hình thành nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh mới phù hợp với xu thế phát triển hiện đại. Chính sự năng động ấy đã góp phần tạo nên sức bật quan trọng cho nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
Không dừng lại ở vai trò tạo tăng trưởng, khu vực kinh tế tư nhân còn trở thành lực lượng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn đầu tư vào công nghệ, phát triển mô hình quản trị hiện đại, mở rộng thị trường quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Từ lĩnh vực công nghệ, sản xuất công nghiệp đến thương mại điện tử, logistics hay dịch vụ số, sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của khu vực này trong giai đoạn mới. Nhận thức rõ vai trò của kinh tế tư nhân, Đảng và Nhà nước đã có bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển kinh tế. Nghị quyết số 10-NQ/TW đã khẳng định kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa mạnh mẽ hơn trong Nghị quyết số 68-NQ/TW với mục tiêu khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tạo động lực mới cho khu vực tư nhân phát triển bền vững.
Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, tinh thần cải cách thể chế với định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong môi trường đầu tư, kinh doanh. Cộng đồng doanh nghiệp bày tỏ sự phấn khởi và kỳ vọng khi nghị quyết được xem như “bệ phóng” mở ra cơ hội phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030. Nhìn từ thực tiễn phát triển, thách thức lớn nhất không nằm ở số lượng doanh nghiệp đăng ký mới mà ở khả năng duy trì hoạt động thực chất, phát triển bền vững và đủ sức cạnh tranh trong môi trường kinh tế đầy biến động. Điều đó cho thấy để kinh tế tư nhân thực sự bứt phá, cải cách chính sách cần tiếp tục đi vào chiều sâu, tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại và tạo dựng môi trường phát triển ổn định, minh bạch và dài hạn hơn cho doanh nghiệp.
Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn có quy mô nhỏ và vừa, nguồn lực tài chính còn hạn chế và sức chống chịu chưa cao trước biến động của thị trường quốc tế. Không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng, quỹ đất sản xuất, công nghệ hiện đại cũng như cơ hội mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp và chi phí không chính thức vẫn tạo ra áp lực lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Yêu cầu thiết kế chính sách mang tính “bệ phóng” cho kinh tế tư nhân ngày càng trở nên cấp thiết. Chính sách không chỉ dừng ở vai trò quản lý hay kiểm soát mà phải thực sự tạo động lực phát triển, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô hoạt động. Một môi trường thể chế ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, chủ động hoạch định chiến lược và nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, môi trường kinh doanh đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Chính phủ tập trung cụ thể hóa chủ trương cải cách bằng việc trình Quốc hội ban hành nhiều luật mới, đồng thời xây dựng hàng loạt văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Bước chuyển quan trọng này nhằm giảm bớt rào cản thủ tục, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh. Tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ cũng được thể hiện rõ thông qua việc đẩy mạnh cắt giảm điều kiện kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và cải thiện môi trường đầu tư theo hướng minh bạch, thông thoáng hơn.
Thực tế triển khai cũng cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa tinh thần cải cách ở cấp vĩ mô với quá trình xây dựng và thực thi chính sách ở một số lĩnh vực chuyên ngành. Câu chuyện liên quan đến Nghị định 46/2026/NĐ-CP là ví dụ điển hình cho tình trạng “lệch pha” này. Sau khi nghị định có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm phản ánh việc gia tăng các thủ tục công bố, kiểm nghiệm và điều kiện sản xuất khiến thời gian đưa sản phẩm ra thị trường kéo dài, chi phí tuân thủ tăng cao, thậm chí có doanh nghiệp phải tạm dừng triển khai sản phẩm mới. Việc cơ quan có thẩm quyền quyết định tạm ngưng áp dụng nghị định sau đó cho thấy chính sách được ban hành chưa thực sự theo kịp tinh thần cải cách và hỗ trợ doanh nghiệp mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra. Sự việc này phản ánh thực trạng tư duy quản lý ở một số lĩnh vực vẫn còn nặng về kiểm soát đầu vào thay vì tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển trên cơ sở quản trị rủi ro hiện đại. Điều đó cho thấy cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở những định hướng lớn mà cần được triển khai thống nhất trong toàn bộ hệ thống xây dựng và thực thi chính sách. Muốn chính sách thực sự trở thành “bệ phóng” cho kinh tế tư nhân, điều quan trọng là phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng quy định ngay từ khâu xây dựng, tăng cường phản biện chính sách và bảo đảm kỷ luật thể chế trong quá trình thực hiện.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng xu hướng chuyển đổi số và kinh tế xanh ngày càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là mở rộng quy mô mà còn phải nâng cấp chất lượng phát triển. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, doanh nghiệp trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh quốc tế và tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì vậy, tư duy xây dựng chính sách cần chuyển mạnh từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, trong đó Nhà nước đóng vai trò tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và thuận lợi để doanh nghiệp yên tâm phát triển dài hạn.
Muốn thực hiện được điều đó, việc hoàn thiện thể chế và tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển phải được tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa. Cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh bất hợp lý, đơn giản hóa quy trình đầu tư cần đi cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý về đất đai, thuế, tín dụng, bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh. Môi trường cạnh tranh bình đẳng cũng cần được bảo đảm để doanh nghiệp tư nhân có cơ hội tiếp cận công bằng các nguồn lực phát triển thay vì chịu rào cản bởi cơ chế xin – cho hay sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế. Bên cạnh cải cách thể chế, chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế tư nhân. Nhà nước cần có cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới, phát triển mô hình kinh doanh số, đầu tư nghiên cứu – phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cho thấy định hướng phát triển kinh tế tư nhân đang chuyển dần từ mở rộng về lượng sang nâng cao về chất. Hai mục tiêu này có mối quan hệ bổ trợ chặt chẽ: số lượng doanh nghiệp đông đảo sẽ tạo nền tảng phát triển chiều rộng cho nền kinh tế, trong khi những doanh nghiệp quy mô lớn giữ vai trò dẫn dắt, hình thành hệ sinh thái sản xuất và mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh trong nước.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, trọng tâm là cải thiện điều kiện tồn tại, giảm chi phí tuân thủ và hỗ trợ nâng cao năng suất. Đối với doanh nghiệp có tiềm năng dẫn dắt, cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về vốn dài hạn, công nghệ, tích tụ đất đai và khả năng tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, xây dựng thương hiệu hay phát triển chuỗi cung ứng. Song song với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển khu vực tư nhân cũng cần gắn chặt với yêu cầu phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội. Doanh nghiệp không thể chỉ theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn mà cần tham gia tích cực vào bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống của người lao động và đóng góp cho cộng đồng. Một nền kinh tế phát triển bền vững đòi hỏi sự hình thành đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện đại, có năng lực quản trị, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng cống hiến cho đất nước. Quá trình xây dựng chính sách cho kinh tế tư nhân cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác điều hành và thực thi. Chính sách phải ổn định, có tính dự báo cao để doanh nghiệp yên tâm hoạch định chiến lược dài hạn, tránh tình trạng thay đổi đột ngột gây xáo trộn hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc xây dựng pháp luật cần tăng cường tham vấn cộng đồng doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề để bảo đảm quy định ban hành sát thực tiễn và giải quyết đúng nhu cầu phát triển.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, hiện đại và thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu. Khi mọi nguồn lực xã hội được khơi thông, quyền tự do kinh doanh được bảo đảm và doanh nghiệp được tạo điều kiện phát triển bình đẳng, kinh tế tư nhân sẽ không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn trở thành nền tảng quan trọng nâng cao nội lực quốc gia, góp phần hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Ths. Lê Hữu Lộc



