23/01/2026 lúc 00:06 (GMT+7)
Breaking News

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Bộ ba động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được Đảng và Nhà nước xác lập như ba động lực đột phá mang tính nền tảng, quyết định khả năng bứt phá của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là sự kế thừa các chủ trương trước đây, mà còn là cách tiếp cận được mở rộng nội hàm, tái định nghĩa, nhằm khai phóng nguồn lực, tạo không gian phát triển rộng lớn hơn cho nền kinh tế tri thức và kinh tế số

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: để chuyển từ quốc gia có thu nhập trung bình lên thu nhập cao, Việt Nam không thể đi theo lối mòn, mà phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với bộ ba động lực này, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những giai đoạn phát triển then chốt.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng trình bày tham luận tại Đại hội - Ảnh: VGP

Đặt khoa học công nghệ vào trung tâm mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập rõ: khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, giữ vai trò động lực chính trong phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia

Điểm đáng chú ý của Nghị quyết là tư duy quản lý mới: quản lý theo mục tiêu, không quản cách làm; trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm cho người thực hiện; chấp nhận rủi ro trong đổi mới và đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả tổng thể. Cách tiếp cận này được ví như một “khoán 10” mới trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để tri thức thực sự trở thành nguồn lực phát triển.

Theo đó, Việt Nam không chỉ đặt mục tiêu “đủ” về khoa học công nghệ, mà hướng tới làm chủ, dư thừa và xuất khẩu công nghệ, tương tự quá trình chuyển mình thành công của ngành nông nghiệp trong nhiều thập kỷ qua.

Cách tiếp cận phù hợp với điều kiện Việt Nam

Từ thực tiễn quốc tế cho thấy, không tồn tại một mô hình phát triển khoa học công nghệ chung cho mọi quốc gia. Việt Nam lựa chọn con đường phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, coi thể chế là lợi thế cạnh tranh, hướng trọng tâm vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Quá trình phát triển được đặt trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, Nhà nước, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Quản lý khoa học công nghệ chuyển dần từ “đầu vào” sang “đầu ra”, từ cấp phát kinh phí sang đặt hàng, mua kết quả nghiên cứu và đánh giá hiệu quả ứng dụng.

Đặc biệt, khoa học công nghệ được đặt trong bối cảnh gắn kết chặt chẽ với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới giải quyết các “bài toán lớn” của quốc gia như năng suất, chất lượng tăng trưởng, quản trị quốc gia và tự chủ công nghệ lõi.

Đo lường đóng góp - chìa khóa để tránh lãng phí

Một bước đi có ý nghĩa chiến lược là đo lường đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào tăng trưởng GDP. Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng phương pháp đo lường ở cả cấp quốc gia và địa phương, coi đây là điều kiện tiên quyết để biến các chủ trương lớn thành động lực thực chất, đồng thời chống lãng phí nguồn lực công.

Trong giai đoạn từ nay đến khoảng năm 2031, thứ tự ưu tiên được xác định là: chuyển đổi số – đổi mới sáng tạo – khoa học công nghệ. Chuyển đổi số được coi là khâu đột phá nhanh nhất, trong đó thay đổi cách thức vận hành chiếm vai trò chủ đạo, dựa trên nền tảng hạ tầng số đã hình thành.

Đổi mới sáng tạo tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới, đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh. Theo định hướng, mỗi bộ, ngành và địa phương sẽ có ít nhất một trung tâm đổi mới sáng tạo, hình thành mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trên phạm vi toàn quốc.

Từ đầu tư ngân sách đến kích hoạt nguồn lực xã hội

Một điểm nhấn quan trọng trong tư duy mới là hiệu quả sử dụng ngân sách khoa học công nghệ. Thay vì chỉ tính đến tỷ lệ chi, vấn đề cốt lõi là mỗi đồng ngân sách Nhà nước phải kích hoạt được nhiều đồng đầu tư từ doanh nghiệp và xã hội. Khi đó, chi ngân sách 2% cho khoa học công nghệ có thể chuyển hóa thành 2% GDP của toàn xã hội cho lĩnh vực này.

Cùng với đó, cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cơ chế đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu, thưởng cho các sản phẩm nghiên cứu hiệu quả đang được hoàn thiện. Riêng đối với nghiên cứu cơ bản và khoa học xã hội, Nhà nước tiếp tục đóng vai trò đầu tư nền tảng, chấp nhận rủi ro để nuôi dưỡng năng lực tri thức dài hạn.

Đổi mới sáng tạo – từ chính sách đến lối sống xã hội

Xa hơn các chính sách cụ thể, đổi mới sáng tạo được xác định là tinh thần xuyên suốt trong toàn xã hội, trở thành lối sống, phong cách sống của mỗi cá nhân, tổ chức. Văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại và coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược được đặt ở vị trí trung tâm.

Trong bối cảnh đó, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo hộ, mà trở thành nguồn lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế tri thức – nơi tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Với tầm nhìn chiến lược của Đảng, cùng khát vọng phát triển mạnh mẽ của đất nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ trở thành bộ ba động lực then chốt, giúp Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tiến tới mục tiêu quốc gia phát triển, có thu nhập cao trong kỷ nguyên tri thức và công nghệ số.

VNHN